Đức Bênêđíctô thứ 16 vẫn rất minh mẫn

Những người vẫn hằng quý mến trí thông minh và khả năng lý luận sâu sắc của Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16 có thể vui mừng thấy rằng vị Giáo Hoàng người Đức vẫn rất minh mẫn. Ở tuổi 92, cổ lai hy, ngài vẫn có thể đáp lại những người chỉ trích mình rất hóm hỉnh và sắc sảo.

PopeEmeritusBenedict

Những người vẫn hằng quý mến trí thông minh và khả năng lý luận sâu sắc của Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16 có thể vui mừng thấy rằng vị Giáo Hoàng người Đức vẫn rất minh mẫn. Ở tuổi 92, cổ lai hy, ngài vẫn có thể đáp lại những người chỉ trích mình rất hóm hỉnh và sắc sảo.

Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16 vừa lên tiếng trả lời những người chỉ trích bài tiểu luận về cuộc khủng hoảng lạm dụng của ngài, và hóm hỉnh nói rằng nhiều phản ứng tiêu cực đã khẳng định chính xác luận điểm trung tâm của ngài theo đó sự bội giáo và xa lánh đức tin là trung tâm của cuộc khủng hoảng này.

Trong một tuyên bố ngắn gọn được công bố trên tạp chí Đức, tờ “Her Herder Korronymousenz”, nhằm phản hồi những lời chỉ trích bài tiểu luận của ngài, Đức Giáo Hoàng danh dự đã chỉ ra một “thiếu sót tổng quát” trong những lời chỉ trích bài tiểu luận của ngài, và nói rằng nhiều lời phê phán đã không nắm bắt được điểm chính mà ngài muốn đưa ra.

Tháng Tư vừa qua, bài tiểu luận của ngài đã được công bố bởi Catholic News Agency, National Catholic Register, CNA Deutsch cũng như các phương tiện truyền thông khác. Trong bài tiểu luận này, Đức Bênêđíctô đã mô tả tác động của cuộc cách mạng tình dục cùng với một hiện tượng độc lập với nó là sự sụp đổ của nền thần học luân lý vào thập niên 1960, trước khi đưa ra đề nghị rằng Giáo hội nên đáp lại bằng cách nhận ra rằng chỉ có sự vâng phục và tình yêu dành cho Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mới có thể chỉ ra được một thông lộ.

Đã có những phản ứng gay gắt đối với bài tiểu luận của ngài, đặc biệt là tại Đức, nơi những quan sát viên thông thạo nói rằng Đức Giáo Hoàng danh dự, một người Đức xứ Bavaria, từ lâu đã phải gánh chịu những chỉ trích kéo dài từ một số thành phần nhất định.

Đức Bênêđíctô tranh luận rằng cuộc khủng hoảng của Giáo Hội ở Đức không phải là khủng hoảng cơ cấu, nhưng là khủng hoảng đức tin. Đức tin của các tín hữu không còn nữa, thì họ không thấy tại sao phải tiếp tục là thành phần của Giáo Hội để phải đóng thuế hằng năm cho Giáo Hội số tiền tương đương với 9% lợi tức của họ.

Ngược lại, những người chỉ trích ngài cho rằng không có vấn đề khủng hoảng đức tin, nhưng cần phải cải tổ cấu trúc với mục đích giữ các tín hữu Công Giáo ở lại và đừng làm đơn xin ra khỏi Giáo Hội. Họ đang cổ võ cải tổ Giáo Hội, qua cái gọi là “hành trình công nghị toàn quốc có hiệu lực ràng buộc” với những chủ trương như bãi bỏ luật độc thân giáo sĩ, truyền chức linh mục cho phụ nữ, cải tiến luân lý tính dục, hôn nhân và gia đình, chấp nhận đồng tính luyến ái, hôn nhân đồng phái. Nhìn chung, tại Đức đang có xu hướng cải tổ cơ cấu Giáo Hội, nói cụ thể là Tin Lành hóa đạo Công Giáo.. Hôm 20 tháng Bẩy, Đức Hồng Y Reinhard Marx, Tổng Giám Mục Munich, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức, đã hô hào xét lại việc cấm giáo dân hay những người không có thánh chức không được giảng trong các thánh lễ. Theo ngài, có những linh mục giảng kém, trong khi có biết bao những giáo dân có trình độ cao về thần học và khả năng thuyết giảng hay hơn nhiều, thì tại sao lại không để họ giảng trong thánh lễ.

Tất cả những gì nhiều người Công Giáo ở Đức đang đòi hỏi thì phía Tin Lành đều đã thực hiện nhưng mà số tín hữu Tin Lành rời bỏ Giáo Hội của họ còn đông đảo hơn Công Giáo.

Đức Bênêđíctô đã trích dẫn một ví dụ về những phê phán bài tiểu luận của ngài từ một giáo sư lịch sử người Đức, và chỉ ra một cách hóm hỉnh rằng bài phê bình ngài của vị giáo sư này dài đến bốn trang, nhưng trong cả bốn trang ấy “từ ‘Thiên Chúa’ không hề xuất hiện, dù chỉ một lần”, mặc dù luận điểm trung tâm của vị giáo sư này là chẳng hề có cái sự bội giáo như Đức Bênêđíctô đã viết.

Một bài phê bình như thế “cho thấy tính chất nghiêm trọng của một tình huống, trong đó ngay cả từ ‘Thiên Chúa’ thậm chí cũng bị gạt ra ngoài lề trong một lý luận thần học”.

Đức Giáo Hoàng danh dự nhận xét chua chát rằng:

“Cho đến nay, tôi có thể nói rằng trong hầu hết các phản ứng đối với ý kiến của tôi, Thiên Chúa hoàn toàn không xuất hiện. Vì thế, vấn đề trung tâm mà tôi muốn nêu ra đã không được thảo luận.”

Đức Bênêđíctô nói tiếp rằng những chỉ trích kiểu này chỉ chứng minh “mức độ nghiêm trọng của tình huống, trong đó Thiên Chúa bị gạt ra ngoài lề, ngay cả trong thần học”.

Đặng Tự Do

(vietcatholic 27.08.2019/ National Catholic Register)

Các Giáo hội Chính Thống Đông Phương là ai và ở đâu?

Xưa nay, người ta chỉ quen nói đến các Giáo Hội Chính Thông Đông Phương ( Easter Orthodox Churches) tức các Giáo Hội Kitô Giáo hiện chưa hiệp thông trọn vẹn (full communion) với Giáo Hội Công Giáo La Mã sau cuộc ly giáo Đông –Tây ( East-West schism) năm 1054.

Mặc dù có nhiều cố gắng để xích lại gần nhau vì cùng chung nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nhưng Giáo Hội Công Giáo và các Chính Thống Đông Phương cho đến nay vẫn chưa thể hiệp thông được mặc dù đã tha vạ tuyệt thông ( anthemas=excommunications) cho nhau, sau khi Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras I ( Constantinople Hy lạp) gặp nhau lần đầu tiên năm 1966 đem lại kết quả cụ thể là hai Giáo Hội đã tháo gỡ vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lich sử này.

Tuy nhiên, giữa Hai Giáo Hội anh em trên đây vẫn chưa hiệp thông trọn vẹn được với nhau cho đến nay chỉ vì trở ngại lớn là vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Thánh Cha, tức Giám Mục Rôma mà anh em Chính Thống Đông Phương chưa nhìn nhận và vâng phục.

Trong phạm vi bài viết này , tôi xin được đề cập đến các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương ( Eastern Catholic Churches) hiện đang hiệp thông và tôn trọng vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Thánh Cha, là Đấng duy nhất thay mặt Chúa Kitô ( Vicar of Christ) cai quản Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

I- Đôi dòng lịch sử :

Như đã nói ở trên, ngoài các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương chưa hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã, còn có các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương (Eastern Catholic Churches) đang hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ mà có lẽ ít người biết đến họ.

Khi nói đến các Giáo Hội này, người ta phải nghĩ ngay trước hết đến bốn Tòa Thượng Phụ ( Patriarchates) ở phương Đông là Alexandria, Antioch, Jerusalem và Constantinople, ngoài Tòa Thượng Phụ Rome về phái Tây, tức Giáo Hội Công Giáo La Mã. Các Tòa Thượng Phụ này đặc tránh các giáo đoàn Kitôgiáo có nghi thức phụng vụ riêng theo văn hóa và truyền thống lâu đời sau đây:

1- Thuộc về Giáo Hội hay Tòa Thượng Phụ Antioch là các giáo đoàn West Syrians, Maronites (Công Giáo Li Băng) và Malankarese, Chaldeans (Công giáo Iraq) và Armenians.

2- Thuộc về Giáo Hội hay Tòa Thượng Phụ Alexandria là các giáo đoàn Coptic (Công giáo Ai Cập) và Công giáo Ethiopians

3- Thuộc Giáo Hội hay Tòa Thượng Phụ Constantinople là nhóm Kitô Giáo Đông Phương đông đảo nhất theo nghi thức Byzantine. Ho là những tín hữu Hy Lạp,, Bảo gia lợi (Bulgarians) Georgians, Nga .., Ukrainians, Estonians, Hungarians, Rumanian, Egyptians…

4- Giáo Hội hay Tòa Thượng Phụ Rôma là cái nôi của Giáo Hội Công Giáo phương Tây, khác biệt với Phương Đông về nhiều mặt như nghi thức phụng vụ, giáo luật và kỷ luật bí tích., lễ phục , tu phục..

Các tòa Thượng Phụ nói trên, từ đầu, được coi là các Giáo Hội Mẹ của Kitô Giáo (Mother Churches of Christianity) trước khi xẩy ra những cuộc ly giáo (schisms) mà nghiêm trọng hơn hết là ly giáo giữa Rome và Constantinople ( Hy Lạp) vào năm 1054 và kéo dài cho đến nay.

Cũng từ đó, Constantinople tự nhân trở thành Giáo Hội Chính Thống Phương Đông và lan tràn qua các quốc gia trong vùng như Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Roumania, Serbia, Cyprus, Lebanon… Bên canh các Giáo Hội này, là các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương bắt nguồn từ 3 Toà thượng Phụ Alexandria, Antioch và Jerusalem, tức các Giáo Hội Mẹ của Công Giáo Đông Phương. Các Giáo Hội này cũng có thời gian khá lâu đã không hiệp nhất với Giáo Hội Rôma vì những hoàn cảnh và lý do đặc thù, không thể nói hết ở đây trong khuôn khổ của một bài viết được. Vì thế, chỉ xin tóm tắt là khi các Giáo hội Kitô Giáo địa phương này trở lại hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã ( Rome ) thì họ có tên gọi chung là “Các tín hữu qui hiệp = Uniates” , nghĩa là hiệp thông trở lại với Rôma `sau thời gian ly khai vì những lý do riêng biêt. Và cũng từ đó, họ được gọi là các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương ( Easter Catholic Churches) để phân biệt với các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Easter Orthodox churches) chưa hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Rôma.

Các Giáo hội Công Giáo Đông Phương có đặc tính chung là mỗi Giáo Hội đều có có các nghi thức phụng vụ với ngôn ngữ riêng, giáo luật riêng và kỷ luật bí tích riêng, mặc dù cùng chia sẻ chung một niềm tin, một giáo lý, một nền tảng luân lý, và các bí tích với Giáo Hội Công Giáo La Mã cũng như vâng phục Đức Thánh Cha là Đấng thay mặt Chúa Kitô trong vai trò và trách nhiệm cai quản Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

Đứng đầu coi sóc các Giáo Hội địa phương nói trên là các Thượng Phụ (Patriarch) tương đương như một Tổng Giám mục coi sóc một Giáo tỉnh ( Ecclesial Province) trong Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

Theo Sắc Lệnh về các Giáo Hội Đông Phương (Orientalium Ecclesiarumn) ( OE) của Thánh Công Đồng Vaticanô II, thì “Thể chế Thương Phụ (Patriarchy)” đã được thịnh hành từ lâu đời trong Giáo Hội và đã được các Công Đồng chung nhìn nhận.

Thực ra danh hiệu Thượng Phụ Đông Phương (Eastern Patriarch) dùng để chỉ vị Giám mục có thẩm quyền trên tất cả các giám mục kể cả các vị Tổng Giáo Chủ (Tổng Giám mục), trên hàng giáo sĩ và giáo dân trong địa hạt hay thuộc lễ chế của mình, chiếu theo luật định, nhưng vẫn tôn trọng quyền tối cao của Giáo Hoàng La Mã.” (cf. OE. Số 7)

II- Các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương hiện ở đâu ?

1- Trươc hết là Giáo Hội Công Giáo Syro-Malabar

Lãnh thổ của Giáo Hội này nằm trong Tiểu Bang Kerala ở phía Tây Nam Ấn Độ. Giáo Đoàn này xuất phát từ Cộng Đồng Kitô Giáo có nguồn gốc Tông Đồ là Thánh Thomas, nên họ cũng được gọi là các`Kitô hữu Thánh Tô Ma (Thomas Christians) . Nhóm này đã ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã từ năm 1653 vì không muốn chịu ảnh hưởng của Dòng Tên (Jesuits) đang truyền giáo ở vùng này. Nhưng đến năm 1930 nhóm này đã quay trở lại và được đón nhận hiệp thống với Giáo Hội Công Giáo. Từ sau Công Đồng Vaticanoo II, họ đã bỏ ngôn ngữ Syriac trong phụng vụ và thay bằng ngôn ngữ Malayalam phổ thông hơn. Hiện Giáo Hôi Công Giáo Syro-Malabar có 3 Địa phận với khoảng gần 300,000 tín hữu sinh hoạt trong Tiểu Bang Kerala ở miền Tây Nam Ấn Độ

Dĩ nhiên, ngoài nhóm Công Giáo với nghi thức phụng vụ riêng này , còn có Giáo hội Công Giáo của Ấn Độ (The Catholic Church Of India ) theo nghi thức La tinh ( Latin Rite) hiệp thông trọn vẹn với Rôma ,và có số giáo sĩ và giáo hữu đông hơn nhóm kia.

2- Giáo Hội Công Giáo Chaldean (The Chaldean Catholic Church) của người Kitô hữu Iraq

Nhóm này phần lớn tập trung ở thủ đô Baghdag với nghi thức phụng vụ riêng gọi la Chaldean Rite hay còn gọi là East Syrian hay Assyro-Chaldean Rite. Nghi thức này bắt nguồn từ di sản phụng vụ cổ xưa của Giáo Hội Mesopotamia.trong đế quốc Ba Tư

Giáo Đoàn này hiện có khoảng 500,000. Tin hữu với 10 Địa phận ở Iraq và 4 Địa phận nữa ở Iran. Ở Hoa Kỳ, cũng có một Địa phận dành cho người Công Giáo Iraq theo nghi thức Chaldean. Giáo Đoàn này chính thức hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã sau khi Đức Thánh Cha Julius III tấn phong Giáo Mục cho Thượng Phụ Simon VIII ngày 9 tháng 4 năm 1553 để coi sóc Giáo Đoàn Chaldean ở Iraq.

3- Giáo Hội Công Giáo Maronites ( The Maronite Catholic Church)

Đây là Giáo Hội Công Giáo của người Li Băng (Lebanon). Giáo Hội này xuất hiện từ năm 681 và lấy tên Thánh Maron làm tên gọi chung của Giáo Đòan. Đã có thời gian dài Giáo Đoàn này không hiệp thông với Rôma. Nhưng từ năm 1182 đến nay, Giáo Đoàn này đã hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo La Mã,. Họ theo nghi thức riêng gọi là Maronite Rite với ngôn ngữ phụng vụ là Syriac và Arabic.Nghi thức phụng vụ này không những có ở Li Băng mà còn thấy thực hành ở Syria , Ai Cập và Cyprus.

Mới đây, ngày 14 tháng 4 năm 2011, Thượng phụ Antioch coi sóc người Công giáo Maronites, đã đến Rome để viếng thăm Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI cùng với một số giám mục và linh mục Maronites. Nhân dịp này Đức Thánh Cha đã long trọng nhắc lại với Đức Thượng Phụ Bechara Pierre Rai về việc Giáo Hội hoan hỉ đón mừng anh em Moronites Hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo như Đức Thánh Cha đã nói trong thư gửi Đức Thượng Phụ ngày 24 tháng 3 vừa qua.

4- Giáo Hội Công Giáo Coptic ( The Coptic Catholic Church)

Danh xưng Copt là tiếng Arabic có nghĩa là Ai Cập, được dùng để chỉ những tín hữu Công Giáo hay Chính Thông Giáo Ai Cập. Do đó, Giáo Đoàn Coptic là Giáo Hội Công Giáo Ai Cập ( Egypt) đã hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Rôma từ năm 1741, sau nhiều thăng trầm của lịch sử Ai Cập nói chung và lịch sử sống còn của Giáo hội Coptic nói riêng.Theo lịch sử truyền giáo thì Thánh Mar-cô, thánh sử., đã thành lập Giáo Hội này cho người Kitô hữu Ai Cập. Mặt khác, danh xưng Coptic cũng được dùng để chỉ Giáo Hội Chính Thống Ai Cập (The Coptic Orthodox Church) như đã nói ở trên.

Giáo hữu Coptic hiện nay chỉ có vào khoảng 180,000 người ở Ai Cập và được coi sóc bởi một Thượng Phụ (Patriarch) ở Alexandria Ngôn ngữ phụng vụ của họ là tiếng Arabic và Coptic (tiếng Ai Cập)

Để đánh giá cao những đóng góp của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, Thánh Công Đồng Vaticanô II, qua Sắc Lệnh Orientalium Ecclesiarum, ( OE) đã long trọng tuyên bố như sau về các Giáo hội này:

“ Lịch sử, các truyền thống và rất nhiều thể chế trong Giáo Hội đều chứng minh rõ ràng rằng các Giáo Hội Đông Phương có công biết bao đối với toàn thể Giáo Hội. Vì vậy, Thánh Công Đồng không những hết lòng yêu mến và ca ngợi đúng mức gia sản tinh thần của các Giáo hội này, mà còn xác quyết đó là sản nghiệp của toàn thể Giáo Hội Chúa Kitô. Do đó Thánh Công Đồng long trọng công bố rằng các Giáo Hội Đông Phương cũng như Tây Phương đều có quyền lợi và bổn phận theo những qui luật riêng của mình và những qui luật này có giá trị nhờ ở đặc tính cổ kính đáng quí trọng, phù hợp với tập tục của tín hữu hơn và xem ra có thể mưu ích cho các linh hồn cách hữu hiệu hơn.” (OE, số 5)

Cũng cần nói thêm là, theo lịch sử Giáo Hội, thì Phương Đông là nơi đã đóng góp cho Giáo Hội những vị đại Giáo Phụ (Church Fathers) nổi danh như các thánh Igntius of Antioch, thánh Ephrem, thánh Athanasius, thánh Cyril of Jerusalem, thánh Cyril of Alexandria, thánh Gregory of Nyssa, thánh .John Chrysostom, thánh Basil the Great, thánh Gregory of Nazianzus và thánh John Damascene.

Mặt khác, nền thần học Kitô Giáo (Christian theology) và lối sống đan viện hay ẩn tu (Monasticism) cũng xuất phát từ Phương Đông trước khi được chấp nhận và sửa đổi bên Tây Phương. Thêm vào đó, trong vòng 9 trăm năm lịch sử Giáo Hội, các Công Đồng Đại kết ( Ecumenical Councils) đều họp ở Phương Đông.

Sau hết, những kinh phụng vụ như the Kyrie, the Gloria, và Kinh Tin Kinh Nicene mà phụng vụ Giáo Hội ngày nay đang dùng cũng là di sản thiêng liêng của Phương Đông.

Như thế đủ cho thấy là các Giáo Hội Đông Phương, từ lâu đã là một trong những thành trì kiên cố của KitôGiáo trước khi xảy ra những cuộc ly giáo (schism) , đặc biệt là ly giáo Đông Tây giữa Constantinople và Rome năm 1054, khiến một phần quan trọng của Phương Đông (Các Giáo Hội Chính Thống) không còn hiệp thông cho đến nay với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, mặc dù cùng chung một niềm tin, một Phép Rửa , một Kinh Thánh, một nguồn gốc Tông Đồ.

Chúng ta tha thiết cấu xin cho Giáo Hội duy nhất mà Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ được mau hiệp nhất để cùng thờ lậy, tôn vinh và cảm tạ một Thiên Chúa duy nhất với Ba Ngôi Vị trong Mầu Nhiệm Chúa Ba ngôi (The Triune God =The Holy Trinity)

Sau hết, cũng cần nói thêm là các Giáo Hội Đông Phương, dù là Công Giáo hay Chính Thông Giáo thì đều có các bí tích hữu hiệu như của Giáo Hội Công Giáo La Mã .. Cho nên, tín hữu Công giáo được phép tham dự các nghi thức phụng vụ và lãnh các bí tích trong các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương. Nhưng chỉ được tham dự phụng vụ và lãnh bí tích nơi nhà thờ Chính Thống khi không tìm được nhà thờ Công Giáo nào trong vùng cư trú của mình.2011

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 

Conggiao.info

 

ĐHY Achille Silvestrini về Nhà Cha

DHY Achille

 

ĐHY Achille Silvestrini, 95 tuổi, nhân vật lỗi lạc trong ngành ngoại giao của Tòa Thánh, đã được Chúa gọi về Nhà Cha ngày 29/8/2019.

ĐHY Achille Silvestrini, nguyên là Tổng trưởng Bộ các Giáo hội Đông phương, đã qua đời tại Roma sau thời gian trị bệnh tại bệnh viện Gemelli. Ngài đã dành cả cuộc đời để phục vụ Giáo hội và Đức Giáo Hoàng. Ngài luôn quan tâm đến con người, đặc biệt là người trẻ.

Thời linh mục

ĐHY Silvestrini sinh năm 1923 tại Brisighella, giáo phận Faenza Sau khi chịu chức linh mục vào năm 1946, ĐHY Silvestrini theo học Văn chương và Triết học tại đại học Bologna và tốt nghiệp về văn chương cổ điển. Sau đó ngài đến Roma, học tại đại học Giáo hoàng Laterano và tốt nghiệp tiến sĩ lưỡng luật.

Phục vụ trong ngành ngoại giao Tòa Thánh

Năm 1952, ngài gia nhập trường Ngoại giao Tòa Thánh và bắt đầu phục vụ tại phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh, phụ trách về Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia và cách chung về các nước Đông Nam Á. Ngài còn phục vụ trong ngành ngoại giao Tòa Thánh với các chức vụ và vai trò khác nhau. Năm 1973, ngài được bổ nhiệm làm Thứ trưởng ngoại giao Tòa Thánh và đảm nhiệm vai trò Quốc vụ khanh Tòa Thánh vào ngày 4/5/1979.

Cùng năm 1979 ngài được ĐGH Gioan Phaolo II bổ nhiệm làm Tổng Giám mục. Trong vai trò mới, ngài đã dẫn đầu phái đoàn Tòa Thánh xem xét Hiệp định Laterano. Ngài cũng là đặc sứ Tòa Thánh tại nhiều sự kiện khác nhau ở các nước Tây Ban Nha, Malta, Argentina, Nigeria, vv.

Hồng y đoàn

Năm 1988, ngài được ĐGH Gioan Phaolo II thăng làm Hồng y trong Công nghị Hồng y ngày 28/6 và sau đó được bổ nhiệm làm Chánh tòa ân giải tối cao. Năm 2000, ngài được bổ nhiệm làm Tổng trưởng Bộ các Giáo hội Công giáo Đông phương.

Với sự qua đi của ĐHY Silvestrini, Hồng y đoàn còn tất cả 215 vị, trong đó có 118 vị dưới 80 tuổi có quyền bầu Giáo hoàng và 97 vị trên 80 tuổi không còn quyền bầu Giáo hoàng.

Hai Giám mục Trung quốc đầu tiên được tấn phong sau hiệp định giữa Vatican và Trung quốc

2-chinese-bishops

 

Ngày 26/8, cha Antôn Diêu Thuận (Yao Shun), 54 tuổi, thuộc giáo phận Tể Ninh, đã được tấn phong Giám mục tại nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Mân Côi ở thành phố Tể Ninh, vùng Nội Mông, làm Giám mục giáo phận Tể Ninh. Và ngày 28/8, cha  Stephano Từ Hoằng Vĩ (Xu Hongwei), thuộc giáo phận Hán Trung (HanZhong), tỉnh Thiểm Tây (Shaanxi), Trung Quốc, đã được tấn phong Giám mục, được bổ nhiệm làm Giám mục phó giáo phận Hán Trung.

Đức cha Diêu Thuận

Chủ tế Thánh lễ tấn phong Giám mục cho cha Antôn Diêu Thuận là Đức cha Phaolô Mạnh Thanh Lộc (Meng Qinglu), phó hội Công giáo yêu nước Trung quốc; cùng đồng tế với ngài có một số giám mục và khoảng 120 linh mục. Cũng có khoảng 1000 giáo dân tham dự Thánh lễ.

Đức cha Diêu Thuận sinh năm 1965 và sau khi được thụ phong linh mục vào năm 1991, ngài đã dạy học tại chủng viện quốc gia ở Bắc Kinh. Từ năm 1994-1998, ngài học phụng vụ tại đại học thánh Gioan ở New York và cũng học Kinh Thánh một thời gian ở Giêrusalem.

Ngài cũng đã là tổng đại diên của giáo phận và được các thành viên của giáo hội Trung quốc bầu chọn ngày 9/4. Dù là Giám mục đầu tiên được tấn phong sau hiệp định tạm thời giữa Vatican và Trung quốc, nhưng thực tế là ngài đã được Vatican bí mật chấp thuận từ năm 2010.

Giáo phận Tể Ninh có khoảng 70 ngàn giáo dân, được hướng dẫn bởi 31 linh mục và 12 nữ tu. Giáo phận trống tòa từ khi Đức cha Gioan Lưu Thế Công qua đời vào năm 2017.

Đức cha Từ Hoằng Vĩ

Đức cha Từ Hoằng Vĩ, 44 tuổi, thụ phong linh mục năm 2002. Ngài đến Roma học và đậu cao học về thần học mục vụ. Sau đó ngài phục vụ tại giáo phận Vancouver ở Canada cho đến năm 2010.

Đức cha được Tòa Thánh chấp thuận là ứng viên Giám mục từ ngày 11/4 vừa qua nhưng phải đợi vài tháng để được chính quyền chấp thuận. Thánh lễ được cử hành tại nhà thờ chính tòa Thiên thần Micae với sự tham dự của khoảng 500 người.

Giáo phận Hán Trung có 27 linh mục, 8 nữ tu và một chủng sinh, phục vụ cho 20 ngàn tín hữu Công giáo tại 21 giáo xứ.

 

Vaticannews.va

Tội cố tình làm sai lệch luật phụng vụ

US Pope Francis

PopeFrancis-02Oct2015-7

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ và thần học Bí tích, Giám đốc Viện Sacerdos tại Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Liệu là sai về luân lý chăng, khi cố tình làm sai lệch luật phụng vụ? Phạm tội như thế được đánh giá thế nào? – R. C., Bangalore, Ấn Độ.

Đáp: Đây là một câu hỏi rất khó trả lời, và đòi hỏi nhiều cấp độ và một số phân biệt tinh tế.

Từ quan điểm khách quan, một sự sai lệch trong phụng vụ có thể bao gồm từ một lỗi nghi thức nhẹ, đến sự lạm dụng lớn làm cho buổi lễ không hợp lệ và thậm chí là phạm thánh nữa.

Câu hỏi về khả năng phạm tội luân lý cũng là một câu hỏi hóc búa, vì nó phụ thuộc cả vào thực thể khách quan của sự sai lệch, và thái độ chủ quan mà nó được thực hiện.

Lỗi chất thể tương tự trong phụng vụ có thể được gây ra bởi sự thiếu hiểu biết, do một sự huấn luyện không đầy đủ, hoặc do biết nhưng cố tình không tuân theo các quy định phụng vụ. Do đó, khả năng phạm tội luân lý chủ quan sẽ tương ứng theo một cách nào đó với nhận thức và sự chủ ý của hành động.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sự thiếu hiểu biết có thể góp phần vào khả năng phạm tội. Chẳng hạn, ít nhất là trong các vấn đề phụng vụ quan trọng, một linh mục không nên biện hộ cho sự thiếu hiểu biết, vì nhiệm vụ của linh mục là phải biết cách thực hiện các nghi thức phụng vụ chính yếu một cách đúng đắn. Linh mục có lẽ không nhận thức được một số quy định tóm tắt được giấu trong sách chuyên môn, nhưng ngài sẽ có lỗi nếu thiếu kiến thức về các nhiệm vụ thừa tác cơ bản của mình.

Sự phán đoán về khả năng phạm tội chủ quan do sự lệch lạc phụng vụ là chủ yếu một câu hỏi về lương tâm, vì chỉ có con người phạm sai lầm, đôi khi nhờ sự hướng dẫn của vị linh hướng hoặc cha giải tội, mới có thể biết thái độ nội tâm của mình tại thời điểm hành động được thực hiện. Khả năng phạm tội luân lý này có thể xếp từ không có tội cho một sai lầm nhỏ, đến tội nặng cho một sự lạm dụng cố ý.

Trong một số tình huống, người thực hiện hành vi lạm dụng sẽ công khai biểu lộ các lý do nằm bên dưới hành động, và điều này có thể làm giảm bớt hoặc làm trầm trọng thêm lỗi phạm. Thí dụ, tôi biết một linh mục được gửi đến một cộng đồng miền núi biệt lập, nơi đó Thánh lễ hiếm khi được cử hành do việc di chuyển phải mất nhiều giờ. Cha đến một nhà thờ đầy giào dân đang chờ, nhưng không có chén thánh trong phòng thánh. Cha sử dụng một chén tốt nhất mà cha có thể tìm thấy, nhưng nói với mọi người rằng cha đang làm điều đó như một ngoại lệ, và đó không phải là điều đúng để làm. Trong một bối cảnh hoàn toàn khác, cách nay vài năm, một linh mục châu Âu đã vi phạm nghiêm trọng luật phụng vụ, trong khi tuyên bố trước các người quay phim rằng cha biết những gì cha đang làm là vi phạm, nhưng cha đang hành động vì lý do ý thức hệ, vốn là trái với giáo lý Công Giáo.

Liên quan đến sự phán đoán khách quan các hành vi lạm dụng phụng vụ, có lẽ tài liệu xử lý triệt để nhất đối với chủ đề này là Huấn thị Redemptionis Sacramentum (Bí tích Cứu độ) năm 2004. Cuối tài liệu này, trong Chương VIII, Huấn thị đưa ra một số gợi ý để xác định mức nghiêm trọng, và đâu là “các sửa chữa” như Huấn thị gọi tên. Xin mời đọc:

“169. Khi có một lạm dụng trong việc cử hành Phụng Vụ thánh, thì phải nhìn nhận đó là một sự làm sai đi thật sự phụng vụ Công Giáo. Thánh Tôma đã viết: “Ai thay mặt Giáo Hội hiến dâng cho Thiên Chúa một sự thờ phượng đi ngược với những hình thức mà Giáo Hội tự quyền Thiên Chúa đã thiết lập và chính Giáo Hội này thực hành, thì mắc lỗi giả mạo”.

“170. Để sửa chữa các lạm dụng đó, “công việc khẩn cấp nhất là đào tạo dân Thiên Chúa, mục tử và tín hữu, về mặt kinh thánh và phụng vụ”, để đức tin và kỷ luật của Giáo Hội liên quan đến Phụng Vụ thánh, được trình bày và lĩnh hội một cách đúng đắn. Tuy nhiên, nơi nào mà các lạm dụng vẫn tồn tại, thì phải hành động theo các quy tắc của giáo luật, để bảo toàn di sản thiêng liêng và những quyền của Giáo Hội, nhờ vào tất cả phương tiện chính đáng.

“171. Trong những điều lạm dụng khác nhau, xét về mặt khách quan, có phần là những graviora delicta (những tội phạm nặng hơn), có phần là những chất thể nặng và những lạm dụng khác nữa phải được quan tâm xa tránh và sửa chữa cẩn thận. Ngoài tất cả những gì được đề cập chính yếu trong Chương I của Huấn Thị này, phải ân cần quan tâm đến những điều quy định sau đây.

“1. NHỮNG GRAVIORA DELICTA (TỘI PHẠM NẶNG HƠN)

“172. Các graviora delicta nghịch cùng Hy Tế rất đáng kính và bí tích Thánh Thể phải được giải quyết theo theo “Quy tắc liên quan đến những graviora delicta dành cho Bộ Giáo Lý Đức Tin”, là :

a) lấy hay giữ Mình Máu Thánh Chúa với mục đích phạm thánh, hoặc ném Mình Máu Chúa xuống đất ;

b) không phải là linh mục mà dám cử hành phụng vụ Hy Tế Thánh Thể, hay giả bộ cử hành;

c) đồng tế hy tế thánh thể, dù đã có lệnh cấm, với các thừa tác viên của các Cộng Đoàn giáo hội không có kế thừa các tông đồ và không nhìn nhận phẩm cách bí tích của việc truyền chức linh mục ;

d) truyền phép với mục đích phạm thánh một chất thể này mà không có chất thể kia trong cử hành Thánh Thể, hoặc truyền phép cả hai chất thể ở ngoài cử hành Thánh Thể.

“2. NHỮNG CHẤT THỂ NẶNG

“173. Tính trầm trọng của một chất thể được lượng giá trên căn bản giáo lý chung của Giáo Hội và tùy theo những quy tắc mà Giáo Hội đã thiết lập. Trong những chất thể nặng, người ta luôn luôn kể đến cách khách quan những chất thể làm cho tính thành sự và phẩm cách của Phép Thánh Thể Chí Thánh lâm nguy, nghĩa là những chất thể nghịch lại với các quy tắc được trình bày trên đây trong các số 48-52, 56, 76-77, 79, 91-92, 94, 96, 101-102, 104, 106, 109, 111, 115, 117, 126, 131-133, 138, 153 và 168. Vả lại, phải quan tâm đến các quy định khác của Bộ Giáo Luật, và đặc biệt, đến những quy định có trong các điều 1364, 1369, 1373, 1376, 1380, 1384, 1385, 1386 và 1398.

“3. NHỮNG LẠM DỤNG KHÁC

“174. Hơn nữa, các hành vi phạm đến những gì được nêu ở những đoạn khác của Huấn Thị này và trong những quy tắc được giáo luật thiết lập, không được xem là không đáng kể hơn, nhưng chúng phải được kể trong số những lạm dụng khác phải xa tránh và phải ân cần sửa chữa.

175. Rõ ràng là tất cả những gì đã được trình bày trong Huấn Thị này, không có liên quan đến tất cả những vi phạm đến Giáo Hội và đến kỷ luật của Giáo Hội, đã được xác định trong các điều của giáo luật, trong các luật phụng vụ và trong các quy tắc khác của Giáo Hội, theo giáo lý của Huấn Quyền hay theo truyền thống lành mạnh. Nơi nào có mắc bất cứ điều sai nào, thì điều sai đó phải được sửa chữa theo các quy tắc của giáo luật.

“4. GIÁM MỤC GIÁO PHẬN

“176. Giám Mục giáo phận, “vì là người phân phát chính yếu mọi mầu nhiệm của Thiên Chúa, ngài hãy hoạt động không ngừng để mọi tín hữu đã được giao phó cho ngài săn sóc, được tăng trưởng trong ơn thánh nhờ việc cử hành các bí tích, và để cho họ nhận biết và sống mầu nhiệm vượt qua”. Vậy, ngài có quyền, “trong giới hạn thẩm quyền của ngài, ban hành các quy luật về phụng vụ, buộc mọi người phải giữ”.

“177. “Xét vì ngài có nghĩa vụ bảo vệ sự duy nhất của Giáo Hội phổ quát, Giám Mục phải cổ võ kỷ luật chung của toàn thể Giáo Hội và vì thế phải thôi thúc việc tuân hành mọi luật lệ của Giáo Hội. Ngài phải đề phòng đừng để du nhập các lạm dụng kỷ luật trong Giáo Hội, nhất là về thừa tác vụ Lời Chúa, việc cử hành các bí tích và á bí tích, việc tôn kính Thiên Chúa và các thánh”.

“178. Vì thế, mỗi khi Đấng Bản Quyền sở tại hay của một Hội Dòng tu sĩ hoặc của một Tu Hội tông đồ biết được, ít nữa là có lẽ thực, về một tội phạm hay một lạm dụng phạm đến Phép Thánh Thể Chí Thánh, thì chính ngài hoặc nhờ một giáo sĩ khác xứng hợp, phải thận trọng điều tra, về các sự kiện, hoàn cảnh, cũng như về khả năng quy trách nhiệm của hành vi.

“179. Những tội phạm nghịch cùng đức tin, cũng như những graviora delicta phạm khi cử hành Thánh Thể và các bí tích khác, phải được giao ngay cho Bộ Giáo Lý Đức Tin “xét xử và, cùng lúc, tuyên bố hay bắt chịu những hình phạt của giáo luật theo các quy tắc của luật chung hay luật riêng”.

“180. Mặt khác, Đấng Bản Quyền phải tiến hành theo các quy tắc của giáo luật, bằng cách áp dụng, nếu có, những hình phạt theo giáo luật, và, đặc biệt, nhớ lại những quy định của điều 1326 của Bộ giáo luật. Nếu là những hành vi nặng, ngài phải thông báo cáo cho Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích.

“5. TÔNG TOÀ

“181. Mỗi khi Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích biết được, ít nữa là có lẽ thực, về một tội phạm hay một lạm dụng phạm đến Phép Thánh Thể Chí Thánh, Bộ thông báo cho Đấng Bản Quyền hay, để vị này làm điều tra về sự việc. Nếu hành vi đang nói đến được xác nhận là nặng, Đấng Bản Quyền, càng sớm càng tốt, phải gởi về Bộ này một bản về các hành vi liên quan đến cuộc điều tra đã làm, và, có thể, đến hình phạt đã bắt chịu.

“182. Trong những trường hợp khó khăn nhất, vì lợi ích của Giáo Hội hoàn vũ, mà chính ngài cũng chia sẻ việc chăm sóc bằng việc ngài chịu chức thánh, Đấng Bản Quyền không được chểnh mảng giải quyết vấn đề, sau khi đã tham khảo ý kiến của Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích. Về phần mình, chính Bộ này, căn cứ vào những quyền hạn mà Đức Giáo Hoàng Rôma đã ban cho mình, phải giúp đỡ Đấng Bản Quyền, tuỳ trường hợp, bằng cách nhường cho ngài những miễn chuẩn cần thiết, hay thông báo cho ngài những huấn thị và những quy định mà ngài phải áp dụng cách chu đáo.

“6. NHỮNG KHIẾU NẠI LIÊN QUAN ĐẾN CÁC LẠM DỤNG VỀ PHỤNG VỤ

“183. Tuỳ theo khả năng của mỗi người, tất cả đều có bổn phận quan tâm đặc biệt để Phép Bí Tích Thánh Thể Chí Thánh được bảo vệ khỏi mọi bất kính và mọi biến dạng, và để mọi lạm dụng được hoàn toàn sửa chữa. Bổn phận này, bổn phận quan trọng nhất, được ủy thác cho mọi người và mỗi thành viên của Giáo Hội, phải được thực hiện mà không thiên vị ai.

“184. Mọi người Công Giáo, dù là linh mục, phó tế hay giáo dân, được nhìn nhận có quyền tố cáo một lạm dụng nào đó về phụng vụ, nơi Giám Mục giáo phận hay Đấng Bản Quyền có thẩm quyền được giáo luật nhìn nhận, hay nữa nơi Tông Toà vì tối thượng quyền của Đức Giáo Hoàng Rôma. Tuy nhiên, nên có hết sức trình bày trước cho Giám Mục giáo phận việc khiếu nại hay tố cáo ấy. Điều đó phải luôn luôn được thực hiện trong tinh thần chân lý và bác ái” (Bản dịch Việt Ngữ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam). (Zenit.org 20-8-2019)

Nguyễn Trọng Đa

vietcatholic 20.08.2019/ zenit.org

Đức Mẹ hồn xác lên trời

Duc Me hon xac

Kinh Thánh có nói về một số trường hợp những người được hồn xác lên trời như Hênoc (Dt 11,5), tiên tri Êlia (2 V 2,11), Môsê (Gđ câu 9), Chúa Giêsu (Cv 1, 9-11). Kinh Thánh không hề nói đến Đức Mẹ hồn xác lên trời. Vậy Giáo Hội chỉ ức đoán?

a. Trường hợp ông Môsê

Người hỏi đã dựa vào Kinh Thánh để nêu lên vài trường hợp những người được lên trời. Nhưng thư thánh Giuđa đâu có nói gì về việc lên trời của ông Môsê. Câu 9 viết: “Còn Mi-ca-en Tổng lãnh Thiên thần, khi Ngài đàm phán với quỉ, tranh biện về thi thể ông Môsê, thì đã không buông lời đàn hặc phỉ báng, nhưng chỉ nói “xin Chúa trừng trị ngươi”.
Sách Đệ nhị luật nói rõ Môsê đã chết và được chôn cất trên núi Nêbô trong xứ Môab: “Môsê, tôi tớ Giavê đã chết ở đó, trong xứ Moab, trước mặt Bet-peer, nhưng không ai biết được mộ ông cho đến ngày nay” (Đnl 34,6 ; xem thêm Ds 26,12-14). Sự kiện sau này người ta không tìm ra mộ Môsê, đã làm cho một số người nghĩ rằng ông đã được lên trời (xem quyển ngoại thư “Cuộc lên trời của ông Môsê”).

b. Hênoc, Elia và Chúa Giêsu

Chúng ta cũng phải phân biệt những cuộc lên trời mà sách Cựu Ước kể về trường hợp Hênoc, Êlia với trường hợp của Chúa Giêsu. Về Hênoc thì thư Do thái nói là ông “được dời đi nơi khác để khỏi thấy cái chết” (Dt 11,5). Còn về Êlia thì Kinh Thánh nói là ông “được lên trời trong cơn gió lốc” (2 V 2,11). Cho tới nay Giáo Hội không tuyên bố gì về việc Hênoc và Êlia hiện nay ở trong tình trạng nào. Dẫu sao họ cũng còn thuộc về thời Cựu ước, tức là thời chờ đợi.
Đàng khác chúng ta biết chắc rằng trường hợp sống lại và lên trời của Chúa Giêsu là trường hợp tiên khởi, vì thánh Phaolô đã khẳng định: Đức Kitô là “truởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại ” (Cl 1,18), hoặc “Đức Kitô sống lại từ cõi chết, tiên thường của các vong linh” (1 Cr 15,20). Việc lên trời của Đức Giêsu mà sách Công vụ nói tới (Cv 1,9-11) thực ra là lần hiện ra cuối cùng của Đức Giêsu phục sinh. Từ nay Người không còn hiện diện bằng hình dáng thể xác nữa, nhưng bằng quyền năng của Chúa Thánh Thần.
Việc lên trời của Đức Maria phải được hiểu theo nghĩa sau: sự kiện quan trọng không phải là được dời đi một chỗ nào khác, cho dẫu là trên làn mây, nhưng là được tham dự cả hồn cả xác vào vinh quang phục sinh của Đức Kitô như lời Đức Thánh Cha Piô XII tuyên bố: “Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Đấng Vô Nhiễm Thai, trọn đời đồng trinh, sau cuộc sống ở trần gian, đã được nâng lên, cả hồn cả xác, về hưởng vinh quang thiên quốc” (x. Foi Catholique số 410; Hiến chế Giáo Hội số 59).
c. Nền tảng Kinh Thánh của tín Điều

Tuy Kinh Thánh không diễn tả một cách minh nhiên việc Đức Maria lên trời, nhưng tín điều này có nền tảng vững vàng trong Kinh Thánh. Trong sách Sáng thế, Giavê đã tiên báo với con rắn về cuộc chiến của Đấng Cứu Thế, sinh ra từ một người đàn bà (St 3,15). Tác giả sách Khải huyền cũng đã miêu tả cuộc chiến đấu và cuộc khải hoàn của người đàn bà nhờ con của mình là Đấng Cưú Thế (Kh 12). Lẽ dĩ nhiên “người đàn bà mặc áo mặt trời ấy” trước hết là Sion, là toàn Dân Chúa trong ngày cánh chung. Tuy nhiên thánh Luca (Lc 1,28: “Hãy vui lên”), nhắc lại lời chào của Xôphônia 3,14-17 (“reo vui lên! nữ tử Sion!… có ở giữa ngươi, Giavê Thiên Chúa của ngươi, Anh Hùng vạn thắng”) gợi ý cho ta thấy rằng Đức Maria là “Nữ tử Sion”, là hiện thân của toàn Dân Chúa để đón nhận “Anh Hùng Vạn Thắng”, tức là Đấng Cứu Thế. Bà là thành phần hoàn hảo nhất của Dân Chúa, để tiếp nhận Đấng mang ơn cứu độ cho loài nguời. Trong cụ thể, sách Tin Mừng của Luca và của Gioan cho thấy Đức Maria, với tư cách là Mẹ Đồng trinh của Chúa Giêsu đã kết hiệp chặt chẽ với Con mình trong mọi sự từ giây phút truyền tin (Lc 1,26-38) cho đến lúc Chúa chết trên Thập Giá (Ga 19,25). Và bởi vì Đức Maria đã hợp nhất với Chúa Giêsu như thế trong tâm hồn, bằng một đức tin tuyệt vời qua lời “xin vâng” (Lc 1,38), và trong thể xác bằng sự cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng Chúa Giêsu và bằng sự hiệp thông trong đau khổ, nên Giáo Hội vững tin rằng Đức Maria, cả trong tâm hồn và trong thể xác, đã được tham dự trọn vẹn vào vinh quang Phục sinh của Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Người.

d. Truyền thống

Từ thế kỷ II, các thánh Giáo Phụ đặc biệt là thánh Giustinô và thánh Irênê, đã trình bày Đức Maria như Eva mới luôn luôn tuân phục và kết hiệp với Adam mới là Chúa Kitô (Rm 5,14-17; 1 Cr 15,21-23) trong cuộc chiến đấu cũng như trong khải hoàn.
Tại Giêrusalem đã có nhà thờ dâng kính Đức Mẹ lên trời vào giữa thế kỷ V. Giáo hội Đông Phương đã mừng lễ “An giấc” (Dormition) của Đức Maria vào cuối thế kỷ VI. Đối với anh em Chính Thống Giáo lễ này gồm có sự chết, an táng, sống lại và lên trời của Đức Mẹ. Lễ Đức Mẹ lên trời đã được cử hành tại Rôma vào giữa thế kỷ VII.

Sau 15 thế kỷ, không một nhà thần học nào trong Giáo Hội đã phản đối niềm tin này. Nhận thấy niềm tin này là một sự kiện phổ quát, càng ngày càng lan tỏa sâu rộng trong tâm hồn các tín hữu, nên Đức Thánh Cha Piô XII, nhân danh quyền bính của Chúa Kitô và của các Tông đồ, đã long trọng tuyên bố là một tín điều ngày 1 tháng 11 năm 1950.
Công Đồng Vaticanô II cũng đã nhắc lại đặc ân Đức Mẹ hồn xác lên trời trong hiến chế về Giáo Hội:
“Sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa (x. Kh 19,16), Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (Hc. Giáo Hội số 59).

(Norberto, ofmvn.org)

Tân tòng ngăn cấm vợ giữ đạo, hôn nhân vô hiệu?

Anh ấy người lương học đạo và theo đạo (tân tòng) khi kết hôn. Khi con có bầu, mẹ chồng cấm con đi nhà thờ vì cho rằng làm như vậy sẽ gây điều xấu cho thai nhi. Anh ấy sau kết hôn đã không giữ đạo và bây giờ cũng đồng tình với mẹ không cho con đi lễ. Con đã bỏ về nhà mẹ để sinh con và rửa tội cho con. Hôn nhân vì vậy đã tan vỡ. Anh ấy đã lấy vợ khác. Hôn nhân của con có vô hiệu không?

Sự kiện

Đôi khi xảy ra trường hợp người chồng là lương dân muốn kết hôn với người Công Giáo. Anh đã bằng lòng học và theo đạo trước khi kết hôn. Tuy nhiên sau đó anh không còn giữ đạo và còn cấm người vợ giữ đạo. Hoặc có trường hợp anh không cấm cách người vợ giữ đạo nhưng lại đồng tình với sự cấm cách của cha mẹ, không cho vợ được đi nhà thờ, thậm chí không cho con cái được Rửa tội.

Một kết ước hôn nhân đã xảy ra như trên thì có thể bị vô hiệu không? Tòa án hôn phối, căn cứ vào Giáo Luật, có thể thẩm xét và tuyên bố hôn nhân này vô hiệu dựa trên những cơ sở pháp lý khác nhau tùy theo sự kiện đã xảy ra tương ứng với điều khoản tiêu hôn nào.

Có 5 cơ sở pháp lý có thể được nêu ra trong trường hợp này để kết luận hôn nhân vô hiệu:
– Kết hôn có điều kiện về tương lai (đ. 1102#1)
– Kết hôn lầm lẫn về một tư cách được nhắm đến trực tiếp và chính yếu (đ. 1107#2)
– Kết hôn bị lầm lẫn do lừa gạt (đ. 1098)
– Kết hôn giả hình (simulatio, đ. 1101#1)
– Thiếu nghiêm trọng óc phán định về nghĩa vụ trao ban cho nhau (đ. 1095, 20)

1. Kết hôn có điều kiện về tương lai (đ. 1102#1)

Điều 1102#1 quy định: Kết hôn với điều kiện về tương lai thì bất thành.

Đặt điều kiện kết hôn có nghĩa là đưa ra một điều kiện có tính cách quyết định cho sự ưng thuân kết hôn hay không. Điều đó có nghĩa là điều kiện được đặt ra là chính yếu và quan trọng hơn cả người kết hôn. Ví dụ đặt điều kiện tương lai như: “Anh phải trở thành bác sĩ trong hai năm tới”. Nếu bên kia không đồng ý thì bên đặt điều kiện sẽ không kết hôn. Trong ý nghĩ của người đặt điều kiện thì việc bên kia sẽ trở thành bác sĩ là quan trọng hơn cả con người thực sự của bên kia. Ngược lại, khi coi con người là chính yếu và điều đòi hỏi đặt ra là phụ thuộc khi kết hôn (Vd. cho dù anh có trở thành bác sĩ hay không thì tôi vẫn cưới anh) thì không phải là hôn nhân với điều kiện.

Trong trường hợp về sự theo đạo của bên lương như một điều kiện được đặt ra do bên Công Giáo thì có thể xảy ra hai trường hợp:
– Điều kiện hiện tại: Đòi bên kia phải theo đạo mới chịu kết hôn, chẳng hạn như bên Công Giáo nói: “Nếu anh không theo đạo tôi sẽ không kết hôn với anh”. Trường hợp này là kết hôn với điều kiện hiện tại (đ. 1102#2). Hôn nhân có vô hiệu hay không thì tùy thuộc vào nội dung của điều kiện có được thực hiện không, nghĩa là có được thỏa mãn không. Vì vậy, nếu anh người lương đã chịu rửa tội và sau đó kết hôn thì hôn nhân thành sự. Tuy nhiên, nếu anh đó nói dối là mình đã được rửa tội, nhưng thực sự anh chưa được rửa tội, thì hôn nhân này vô hiệu chiếu theo điều 1102#2, vì không thỏa mãn điều kiện hiện tại.
– Điều kiện tương lai: Đòi bên kia phải theo đạo và sẽ giữ đạo tốt thì mới chịu kết hôn. Điều kiện tương lai được đặt ra ở đây là “sẽ giữ đạo tốt”.
Đòi sẽ giữ đạo tốt ít khi xảy ra cách rõ ràng mà thường chỉ là một hy vọng hay một ước mơ của bên Công Giáo. Trong trường hợp này, nó không là một điều kiện kết hôn tương lai.

Nếu cho rằng là họ đã kết hôn với điều kiện tương lai thì phải có những sự kiện chứng minh được rằng hai bên đã có đặt ra điều kiện là “sẽ giữ đạo tốt” hay là “sẽ không cấm giữ đạo”.

Việc đòi bên kia phải theo đạo không đương nhiên là đòi bên kia phải giữ đạo tốt hay không cấm đạo, trừ khi có những dấu hiệu tích cực chứng tỏ rằng họ đã thỏa thuận điều kiện một cách mặc nhiên dù không nói ra. Vì vậy, nếu không có đủ chứng cứ cho việc đặt điều kiện tương lai thì không thể kết luận hôn nhân vô hiệu. Vị thẩm phán, khi đó, nên lý giải sự vô hiệu dựa theo cơ sở pháp lý khác.

2. Kết hôn lầm lẫn về một tư cách được nhắm đến trực tiếp và chính yếu (đ. 1107#2)

Điều 1107#2 quy định:
Sự lầm lẫn về tư cách của một người, ngay cả khi tư cách ấy là nguyên nhân của khế ước, không làm cho hôn nhân bất thành, trừ khi tư cách ấy được nhắm đến cách trực tiếp và chính yếu.

“Trực tiếp” ở đây có nghĩa là tư cách nhắm đến không phải là điều trung gian hay phương tiện. Ví dụ như khi kết hôn cũng đồng thời nhắm đến người chồng trong tương lai có sức khỏe. Sức khỏe trong trường hợp này chỉ là điều nhắm tới cách gián tiếp.[1]
“Chính yếu” ở đây có nghĩa là trước hết, ưu tiên hơn hết cái khác.
Ví dụ 1: Cô gái có chủ ý kết hôn với một bác sỹ. Nếu anh ta không là bác sĩ thì cô không kết hôn. Cô ta coi địa vị bác sĩ hơn là con người có địa vị đó. Tư cách bác sĩ đã được cô nhắm tới một cách trực tiếp và chính yếu.
Ví dụ 2: Chàng trai khi quyết định kết hôn nhắm đến cô gái Công Giáo, thực hành đạo. Nếu như cô ta không là người Công Giáo đạo hạnh thì anh ta không kết hôn. Tư cách Công Giáo đạo hạnh đã được chàng trai nhắm đến một cách trực tiếp và chính yếu.
Hãy xét đến trường hợp được nêu ra: sau kết hôn người tân tòng bỏ đạo và hoặc cấm vợ giữ đạo, hoặc đồng tình với cha mẹ cấm, hoặc phản ứng cách tiêu cực với sự cấm đó của cha mẹ mà không bênh vực cho vợ giữ đạo.
Nếu chứng tỏ được rằng bên Công Giáo đã đòi hỏi bên người lương là phải theo đạo và giữ đạo, và coi đó là điều tiên quyết để bằng lòng kết hôn. Bên tân tòng trước kết hôn đã thể hiện mình như vậy. Tuy nhiên, sau kết hôn người tân tòng đã thể hiện một tư cách (qualitas) khác hẳn với tư cách ban đầu mà bên Công giáo nhắm tới và gây sai lầm cho bên này.
Điểm chính cần chứng minh trong án lý này là phải có được những sự kiện chứng tỏ rằng bên Công Giáo đã nhắm đến việc theo đạo và giữ đạo là điều tiên quyết. Bên lương trước kết hôn cũng tỏ ra mình có đủ những điều mà bên kia mong đợi. Tuy nhiên sau kết hôn, bên lương theo đạo đó đã thể hiện thật sự là một người không muốn theo đạo nhưng chỉ làm cho có hình thức.
Cũng nên lưu ý là ngay cả trong đời sống hôn nhân, khi người tân tòng chỉ không sống đạo và gây nên sự bất hòa xung khắc trong gia đình, dẫn tới việc chia tay, mà không cần có sự bách hại hay đồng tình với cha mẹ bách hại bên Công Giáo, thì hôn nhân vẫn vô hiệu. Lý lẽ nền tảng cho sự vô hiệu ở đây là sự lầm lẫn về một tư cách được nhắm đến cách tự tiếp và chính yếu, đó là theo đạo và giữ đạo. Chứng cứ về sự bách hại đạo giáo ở đây chỉ là phụ thuộc. Nếu có những chứng cứ này thì nó giúp chứng tỏ thêm về tư cách quá khác xa với tư cách mà người kết hôn nhắm tới.
Trong trường hợp người Công Giáo vì sự cấm mà phải ra đi để giữ đạo thì càng chứng tỏ thêm rằng chị đã đặt vấn đề theo đạo và giữ đạo của chồng là điều tiên quyết và bây giờ thì thấy bị lầm trầm trọng.

3. Kết hôn bị lầm lẫn do lừa gạt (đ. 1098)

Điều 1098 quy định:
Người kết hôn bị lừa gạt về một tư cách nào đó của phía bên kia, với chủ ý để ưng thuận, và nếu tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng, thì hôn nhân bất thành.

Nếu bên lương theo đạo có chủ ý để được ưng thuận nhưng sau đó không thi hành đạo và lại không bênh vực cho vợ để vợ giữ đạo trước sự cấm cách của cha mẹ thì hôn nhân bất thành. Trong sự bất

thành này cần lưu ý:
Có sự “chủ ý để được ưng thuận” kết hôn của bên người lương khi theo đạo. Điều này được chứng tỏ qua sự anh biết hay suy đoán bên Công Giáo sẽ không tiến đến kết hôn với anh nếu anh không theo đạo. Trong trường hợp này, không cần có sự đòi buộc hay đặt điều kiện của bên Công Giáo là anh phải theo đạo, nhưng cần có dấu hiệu chứng tỏ bên Công Giáo bị lầm lẫn nghiêm trọng do chủ ý lừa dối của bên kia.
Thông thường, sự việc một người theo đạo để được kết hôn và ngay sau đó bỏ đạo và không bênh vực cho vợ để vợ giữ đạo trước sự cấm cách của cha mẹ đủ để chứng minh anh ta lường gạt và gây lầm lẫn nghiêm trọng cho bên Công Giáo. Việc không sống đạo có thể gây nhiễu loạn đời sống gia đình và giáo dục con cái. Vì vậy, hôn nhân bất thành, chiếu theo điều 1098.
Có thể đặt thêm vấn đề là nếu bên người tân tòng vẫn để cho vợ tự do giữ đạo nhưng tự mình bỏ đạo hay không thực hành đạo thì hôn nhân có vô hiệu không?
Trong trường hợp người tân tòng đã không giữ đạo gì cả hay chỉ đi nhà thờ một ít lần vì chiều theo ý muốn của vợ thì người này vẫn có thể đã có ý lừa gạt. Vì vậy cần có đủ yếu tố chứng minh người này đã có chủ ý là theo đạo chỉ để để được kết hôn và đối với người Công Giáo và điều này gây một lầm lẫn lớn cho bên có đạo thì hôn nhân vô hiệu.
Tuy nhiên nếu bên Công Giáo chỉ muốn bên kia theo đạo để cho mình được kết hôn trong Thánh Lễ và có danh giá nhưng không có dấu hiệu tích cực nào chứng minh cho việc theo đạo của bên kia là thiết yếu thì kết luận bên Công Giáo này đã không bị lầm mà đến nỗi hà tỳ ưng thuận khiến hôn nhân vô hiệu.
Nên lưu ý là, không cần có sự bách hại hay đồng tình với cha mẹ bách hại việc giữ đạo của bên tân tòng, thì hôn nhân vẫn có thể vô hiệu. Lý do được thấy là, lý lẽ nền tảng cho sự vô hiệu ở đây là sự lầm lẫn của bên Công Giáo do bên kia lừa gạt. Lý lẽ về sự bách hại đạo giáo ở đây chỉ là phụ thuộc. Nếu nó có, nó chỉ giúp chứng tỏ thêm về sự lừa gạt.
Trong trường hợp người Công Giáo vì sự cấm mà phải ra đi để giữ đạo thì càng chứng tỏ thêm rằng chị đã bị lầm lẫn nghiêm trọng.

4. Kết hôn giả hình (simulatio, đ. 1101#1)

Điều 1101#2 quy định:
Nếu một bên hay cả hai bên bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân thì họ kết hôn với nhau bất thành.
L.G. Wrenn giải thích “hành vi tích cực của ý chí có thể sẽ là minh nhiên hay mặc nhiên nhưng chắc chắn nó là điều gì đó hơn là một hành vi phủ định của ý chí (more than a negative act of the will)”.[2] Sự tích cực của ý chí, như vậy, cũng chỉ là nhận hay chấp nhận.

Vì vậy, có thể xác nhận kết hôn simulatio nếu chứng minh được trong tâm ý của người kết hôn đã có ý định hay có muốn, hoặc có chấp nhận loại trừ những điều mà chính yếu nào đó của hôn nhân (đ. 1101#2) mà không cần phải có một quyết tâm hay một chủ ý rõ ràng về sự loại trừ đó.

Các nhà Giáo luật đều đã lưu ý rằng một người đã sống trong một nền văn hóa, tôn giáo mà chủ trương cho ly dị tái hôn, đa thê, thì người đó khó có thể chấp nhận lề luật của Công Giáo, và vì vậy họ dễ kết hôn giả hình, cách riêng đối với loại trừ tính bất khả phân ly.

“Thiếu đức tin” có thể là nguồn phát sinh sự “giả hình” trong kết ước hôn nhân. Người thiếu đức tin có thể cho rằng những luật hay những ý nghĩa về hôn nhân của đạo chẳng có ý nghĩa gì đối với họ hoặc coi thường chúng (MI, Regole procedurali,14).
Trong trường hợp của vụ án được nêu ra, người tân tòng sau kết hôn bỏ đạo và cấm cách người vợ giữ đạo hoặc đồng tình với cha mẹ cấm đạo thì có thể kết luận người này đã loại trừ thiện ích của hôn nhân (bonum coniugum), nếu như có sự cấm cách giữ đạo xảy ra tương đối sớm sau kết hôn. Trong trường hợp xảy ra vào thời gian lâu sau hôn nhân thì có thể giả thiết là người tân tòng đã không có ý loại trừ khi kết hôn nhưng sau này vì hoàn cảnh mới có nẩy sinh như vậy. Vì vậy, cần có những sự kiện chứng tỏ rằng sự loại trừ đã có trong ý định hay đã chấp nhận nó ngay từ khi kết hôn.
Ví dụ như người chồng tân tòng, khi kết hôn, tiên liệu rằng mẹ mình sẽ có thể cấm cách con dâu mình giữ đạo nhưng người chồng nghĩ rằng nếu có xảy ra thì cũng chẳng đáng quan tâm. Hôn nhân vô hiệu vì đã có ý chấp nhận loại trừ thiện ích hôn nhân; hôn nhân vô hiệu. Hoặc người chồng này nghĩ rằng, nếu tương lai có mâu thuẩn mà không giải quyết được giữa mẹ chồng nàng dâu thì chấp nhận chia tay. Trong trường hợp này người tân tòng đã có lý loại trừ tính bất khả phân ly của hôn nhân; hôn nhân vô hiệu.
Nếu xảy ra việc người tân tòng không cho hoặc không lo cho con được rửa tội thì sự vô hiệu do hôn nhân giả hình lại càng được chứng tỏ mạnh mẽ hơn. Bởi lẽ, một người tân tòng vẫn được coi là người Công Giáo cho dù là không có đức tin. Nghĩa vụ của người này là phải lo rửa tội và giáo dục con cái trong tinh thần Kitô giáo. Nếu không chu toàn nghĩa vụ này, hôn nhân có thể vô hiệu do sự loại bỏ thiện ích con cái (bonum prolis) hoặc thiếu óc phán định nghiêm trọng về nghĩa vụ hôn nhân (đ. 1095,20).

5. Thiếu nghiêm trọng óc phán định về nghĩa vụ trao ban cho nhau (đ. 1095, 20)

Điều 1095,20 quy định:
Không có khả năng kết hôn: những người thiếu nghiêm trọng óc phán định về quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của việc trao ban và lãnh nhận nhau trong hôn nhân;
Mặc dù điều 1095,20 không dùng bổ túc từ “thích đáng” (due) cho cụm từ “óc phán định”, óc phán định thích đáng (due discretion of judgment) nhưng các án lệ Rota vẫn thường dùng nó.[3] Lý do là đối tượng của phán định ở đây là các nghĩa vụ và bổn phận trao ban cho nhau của hôn nhân. Sự phán định phải thích đáng với đối tượng của nó, tức là tương xứng với những điều liên hệ đến tương lai của hai người dấn thân sống trao ban cho nhau và bất khả phân ly. Khả năng phán định để kết ước hôn nhân như vậy phải là “thích đáng”.[4]
Sự thiếu phán định thích đáng của người tân tòng theo đạo trong trường hợp hôn nhân đang bàn thảo là sự “phán định sai lệch”.
Nếu một người chỉ biết nghe theo lời cha mẹ mà phá hủy hoặc không lo bảo vệ đời sống hôn nhân thì người đó đã phán đoán sai lệch về hôn nhân. Một óc phán định bình thường của một người Công Giáo là phải bảo vệ cho gia đình mình được giữ đạo tốt. Nếu đó là một người lương có cấm cách vợ con giữ đạo thì còn có lý do biện minh, nhưng nếu đó là người Công Giáo, cho dù là một tân tòng, thì quả là người có óc phán định quá là sai lệch về nghĩa vụ hôn nhân Công giáo. Vì dù sao đi nữa hôn nhân giữa hai người được Rửa Tội là hôn nhân bí tích.
Sự hiếu thảo với cha mẹ của người tân tòng có thể biện minh cho hành vi của người tân tòng trong vấn đề này không? Không thể, vì bản chất hôn nhân đòi hai vợ chồng phải hiệp thông và trao ban cho nhau. Nghĩa vụ đối với cha mẹ của con người được đặt thấp hơn nghĩa vụ đối với vợ chồng. Một người tân tòng tuy không tự mình cấm cách nhưng vì nghe lời cha mẹ mà cấm cách hoặc không bênh vực cho người vợ hay chồng mình giữ đạo thì quả là phán định rất sai lệch về nghĩa vụ trao ban cho nhau khi kết hôn. Sự thiếu óc phán định lại là rất nghiêm trọng khi hôn nhân có nguy cơ tan vỡ mà người tân tòng không cố gắng để bảo trì mà chỉ nghe lời cha mẹ để cho tan vỡ. Thiếu óc phán đoán còn tệ hại hơn khi người tân tòng nghe theo lời cha mẹ để bỏ vợ có đạo rồi sau đó kết hôn với người khác. Xét theo một phương diện khác, hôn nhân có thể vô hiệu với lý do người tân tòng này không làm chủ được hành vi của mình trong đời sống vợ chồng nếu như người này lệ thuộc hoàn toàn vào sự quyết định của cha mẹ. Một người như vậy được coi là không đủ trưởng thành tâm lý tình cảm để kết hôn hữu hiệu vì không làm chủ được hành vi của mình.
Trong trường hợp nêu trên nếu xảy ra việc người tân tòng không cho hoặc không lo cho con được rửa tội thì sự vô hiệu hôn nhân lại càng được chứng tỏ mạnh mẽ hơn do sự thiếu phán định của người này.
Tuy nhiên, sự thiếu óc phán định nếu xảy ra do một biến cố sau khi kết hôn mà khiến cho một người thay đổi những quan điểm sống hoặc bị bệnh về tinh thần thì không thể kết luận người này thiếu óc phán định khi kết hôn.

Kết luận

Người lương theo đạo (tân tòng) để kết hôn thường không có đức tin. Thực tế cho thấy, hôn nhân của họ thường dễ bị tan vỡ hơn những hôn nhân của hai người có đạo gốc Công Giáo.
Trong trường hợp đang bàn luận, có sự tự ý lìa bỏ hôn nhân của bên Công Giáo vì để bảo vệ đời sống đức tin của mình. Trong trường hợp này, có nhiều lý do tiêu hôn như đã xét đến. Vị thẩm phán sẽ chọn lý do nào có nhiều chứng cứ chứng minh hơn.
Trong trường hợp, bên Công Giáo vẫn cố gắng duy trì hôn nhân cho dù có bách hại nhưng bên tân tòng chủ động chia tay để lấy người khác thì cũng có thể xét hôn nhân vô hiệu theo những lý do tiêu hôn khác, trong đó thường là sự loại trừ tính chung thủy hay bất khả phân ly (đ. 1101#2).

Cũng nên lưu ý rằng sự tự ý lìa bỏ hôn nhân của bên Công Giáo không được Giáo Hội ủng hộ. Vì vậy, trong vấn đề này cũng cần có sự cân nhắc. Giáo Luật khuyến cáo: Không nhận giải gỡ hôn phối trừ khi sự tan vỡ vợ chồng đến mức không thể sửa chửa được (đ. 1675).

—————
[1] Cf. S.I. HILBERT, “Error qualitate in personae (can. 1097#2)”, in U. NAVARRETE, Errore e simulazione nel matrimionio canonico, E.P.U.G, Roma 1998, 434.

[2] Cf. Lawrence g. Wrenn, The Invalid Marriage, Washington DC 1998, 122

[3] Cf. Lawrence g. Wrenn, The Invalid Marriage …, 26.

[4] Cf. Ibidem, 26.

giaoluatconggiao.com

Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp, Công Giáo và Armenia ký thỏa thuận trùng tu Mộ Thánh Chúa Giêsu trong giai đoạn thứ hai

Giai đoạn trùng tu đầu tiên, diễn ra cách đây 2 năm trước, đã gỡ bỏ chiếc lồng kim loại được xây dựng vào năm 1947 bị hư hại vì động đất. Bắt đầu vào tháng 5 năm 2016, công trình này có chi phí khoảng 3 triệu đô la, với sự đóng góp của nhiều nhóm Palestine, Do thái, Giordan, các Giáo Hội Kitô tại Giêrusalem và nhiều cá nhân. “Đó là sự kết thúc của một giai đoạn và khởi đầu một giai đoạn mới”, Đức Tổng Giám Mục Pierbattista Pizzaballa, Giám Quản Tông Tòa tại Giêrusalem tuyên bố ngày 22 tháng 3. Có một buổi “cử hành tôn giáo cách đơn giản và đại kết với những bài hát và lời cầu nguyện” đã được tổ chức tại nơi linh thiêng để kết thúc một giai đoạn khôi phục. Tất cả những người đóng góp đã được mời tham dự, bao gồm cả chính quyền Israel.

Ngày 27.5.2019 tại thành cổ Giêrusalem, Đức Giáo Chủ Chính thống Hy Lạp Theophilus III ở Giêrusalem, Cha Giám Hộ Thánh Địa Francesco Patton, và Đức Giáo Chủ Armenia Nourhan Manoughian đã ký một thỏa thuận bắt đầu giai đoạn thứ hai của việc trùng tu Vương cung thánh đường Mộ Chúa.

Thỏa thuận về giai đoạn thứ hai của công trình sẽ bao gồm việc nâng toàn bộ nền thánh đường để loại bỏ sự những xâm nhập và để tiến hành san phẳng mặt bằng. Như vậy, vấn đề các bộ phận hiện chưa được kết nối sẽ được giải quyết.

Thỏa thuận dự kiến một giai đoạn nghiên cứu đầu tiên về tình huống sẽ bắt đầu vào tháng 9 và sẽ kéo dài khoảng một năm. Khác với sự can thiệp trước đây được thực hiện do Đại học Kỹ thuật Quốc gia Athens, giai đoạn thứ hai của trùng tu sẽ được điều phối do hai tổ chức khoa học hàn lâm Italia, nhưng tên của hai nhóm chưa được công bố. “Chúng tôi đang hoàn tất các thỏa thuận”, Cha Patton giải thích như vậy. Tuy nhiên, trùng tu sẽ gặp ít khó khăn trong việc đảm bảo không làm gián đoạn dòng người hành hương đến Mộ Chúa.

Giai đoạn mới của các công trình cũng có ý nghĩa rất lớn xét theo quan điểm đại kết. Cha Patton xác nhận đã có “mối quan hệ thực sự của hợp tác, tin tưởng và tình huynh đệ” đang tồn tại giữa các Giáo Hội Kitô khác nhau ở Giêrusalem. Cuối cùng, Cha nhấn mạnh rằng công việc tái cấu trúc sẽ là một dịp quan trọng cho các cuộc điều tra khảo cổ, như thường xảy ra ở Thánh địa.

Việc nâng cao nền thánh đường sẽ cho phép chúng ta điều tra các phần còn lại của vương cung thánh đường Constantinô – được Hoàng Hậu Helen xây dựng vào đầu thế kỷ thứ tư – ngay tại nơI Chúa Giêsu được an táng và phục sinh. Hơn nữa, các công cụ mới có thể giúp các nhà khảo cổ học ngày nay có cơ hội để hiểu rõ hơn về toàn bộ cấu trúc của nghĩa địa, trong đó có phần mộ của Chúa Giêsu.

Lm. Nguyễn Tất Thắng OP

Công tố viên ú ớ và nổi nóng với quan tòa trong phiên kháng cáo của Đức Hồng Y Pell

poo8nedr-2

Hôm thứ Năm 6 tháng Sáu (2019), tòa đã dành để chất vấn phía công tố viện, sau khi đã nghe các ý kiến kháng cáo của nhóm luật sư bảo vệ Đức Hồng Y Pell. Công tố viên chính đã phải vất vả tranh luận nhằm yêu cầu ba vị thẩm phán phiên kháng cáo của Đức Hồng Y George Pell giữ nguyên bản án dành cho ngài đã đưa ra vào hôm thứ Tư 13 tháng Ba. Công tố viên Christopher Boyce đã rất vất vả để có thể trả lời các câu hỏi từ tòa phúc thẩm gồm ba thẩm phán Anne Ferguson, Chris Maxwell và Mark Weinberg. Trong một lúc nổi nóng, ông ta quên mất cấm kỵ đến mức vô tình nêu tên người tố cáo Đức Hồng Y trong một phiên tòa được trực tiếp truyền hình trên Web site của tòa án Victoria.

Boyce nhất mực cho rằng nguyên cáo không phải là một kẻ nói dối hay một kẻ hoang tưởng, mặc dù thừa nhận rằng anh ta đã thay đổi ngày và năm xảy ra cái gọi là vụ lạm dụng tính dục trong suốt quá trình vụ án và không còn đồng ý với các khẳng định của chính công tố viện.

Boyce liên tục thấy mình phải vật lộn để đưa ra các lập luận của mình, đôi khi ú ớ trước các câu hỏi của ba vị thẩm phán. Tại một thời điểm Boyce thừa nhận rằng “Điều tôi vừa nói trước đó chưa được hay lắm”, hay nói rằng “nhắc lại những điều nhàm chán này có thể chẳng ích lợi gì.”

Công tố viên nhấn mạnh với tòa án rằng nguyên cáo mà ông ta vô tình nêu tên (mặc dù tòa án vẫn cấm nêu danh tính của người này) đã chứng tỏ rằng anh ta quen thuộc với bố cục và nội thất của nhà thờ chính tòa Thánh Patrick của Melbourne, bao gồm cả công việc trùng tu đang diễn ra tại thời gian xảy ra các cáo buộc.

Nguyên cáo tự nhận là một ca viên trong ca đoàn của nhà thờ, và sự hiểu biết của anh ta về nội thất của nhà thờ không bị các luật sư bào chữa tranh biện. Bất cứ ai đến nhà thờ dù chỉ một lần, hay có khi chẳng đến lần nào nhưng được xem các hình ảnh do ai đó cung cấp cũng có thể có kiến thức này. Việc nhấn mạnh của công tố viên vào điểm này là một luận cứ quá yếu trước tòa. Thay vì tranh biện chi tiết không có mấy tác dụng thuyết phục này của Boyce, các luật sư bào chữa đã chỉ ra bằng chứng quan trọng từ Đức ông Charles Portelli phụ trách các nghi lễ phụng vụ tại nhà thờ chính tòa. Đức Ông đã làm chứng rằng Đức Hồng Y Pell đã chào các giáo dân ở cửa phía tây của nhà thờ sau Thánh lễ, trong phẩm phục đầy đủ và Đức Ông luôn ở bên cạnh Đức Hồng Y trong suốt thời gian đó.

Dưới sự thẩm vấn của các thẩm phán, dẫn đầu bởi chủ tịch tòa án Chris Maxwell, Boyce đã phải vất vả để giải thích cho những gì mà các thẩm phán gọi là “những trường hợp cực kỳ khó xảy ra” trong cáo buộc chống lại Đức Hồng Y.

Khi được hỏi làm thế nào mà một nhân vật to cao và dễ nhìn thấy như Đức Hồng Y Pell có thể tiếp cận, cô lập và tấn công hai cậu bé tại nhà thờ, vào lúc bận rộn nhất, Boyce nói rằng công tố viện khẳng định rằng câu chuyện của nguyên cáo không thể thêu dệt ra vì quá lạ lùng. [Keith Windschuttle trong bài The Borrowed Testimony that Convicted George Pell – Chứng tá vay mượn để kết tội Đức Hồng Y George Pell đăng trên tờ Quadrant Online hôm 8 tháng Tư, 2019 cho rằng cáo buộc chống lại Đức Hồng Y Pell là “y chang” như câu chuyện đã đăng trên tờ Rolling Stone của Mỹ vào ngày 15 tháng Chín 2011]

Boyce nổi nóng nói với các quan tòa “Chúng ta cứ nói hoài đến mức muốn mửa luôn là chuyện này có phải thêu dệt ra hay không. Thêu dệt ra để làm cái quái gì?” [Cãi như Boyce thì thật là yếu quá: Để bỏ tù người vô tội.]

Boyce thậm chí đi xa đến mức cho rằng các thẩm phán không có khả năng hiểu toàn bộ bối cảnh của các bằng chứng của phiên tòa, mà chỉ dựa vào video và các tường thuật bằng văn bản của vụ án.

Boyce nổi nóng nói: “Các ngài không có cùng một vị thế với bồi thẩm đoàn. Chính xác là không. Tôi xin lỗi nếu tôi không thể giúp các vị trong khả năng của mình. Nói chung, mỗi phiên tòa nó có một bầu không khí nhất định của nó.”

Đức Hồng Y Pell bước sang tuổi 78 vào cuối tuần này, đã có mặt tại tòa. Ngài trông già hẳn đi. Đức Hồng Y đeo cổ côn của hàng giáo sĩ nhưng không có nhẫn giám mục hoặc thánh giá. Ngài ghi chú trong suốt quá trình tố tụng.

Phiên xét xử kết thúc lúc 4 giờ chiều giờ địa phương Melbourne. Các thẩm phán chưa đưa ra phán quyết của họ, cũng không cho biết thời gian sẽ đưa ra phán quyết.

Catholic News Agency Prosecution falters during Cardinal Pell appeal hearing

Đức Cha Đinh Đức Đạo được bổ nhiệm là thành viên Bộ Giáo dục Công giáo

cq5dam.thumbnail.cropped.750.422

Sáng ngày 6/6, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm bốn thành viên mới cho Bộ Giáo dục Công giáo. Bốn thành viên mới gồm Đức Hồng y Joseph William Tobin, Tổng giám mục Newark (Hoa Kỳ); ĐHY Désiré Tsarahazana, Tổng giám mục Toamasina (Madagascar); ĐHY Luis Francisco Ladaria Ferrer, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin và Đức cha Giuse Ðinh Ðức Ðạo, giám mục giáo phận Xuân Lộc.
Trong số bốn thành viên mới, Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo là giám mục duy nhất không phải là hồng y. Ngài đã từng có kinh nghiệm phục vụ nhiều năm tại Roma với nhiều chức vụ khác nhau. Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo hiện là Chủ tịch Ủy ban Giáo dục Công giáo thuộc HĐGMVN (nhiệm kì 2013-2016 và 2016-2019), và hiện nay ngài cũng là viện trưởng Học viện Công giáo Việt Nam.
Bộ Giáo dục Công giáo có nhiệm vụ thông truyền và đảm bảo thực hiện giáo dục Công giáo theo đường hướng của Toà Thánh tại các trường, học viện, các cơ sở thuộc thẩm quyền Giáo hội.

(Rei 6/6/2019)