Tân tòng ngăn cấm vợ giữ đạo, hôn nhân vô hiệu?

Anh ấy người lương học đạo và theo đạo (tân tòng) khi kết hôn. Khi con có bầu, mẹ chồng cấm con đi nhà thờ vì cho rằng làm như vậy sẽ gây điều xấu cho thai nhi. Anh ấy sau kết hôn đã không giữ đạo và bây giờ cũng đồng tình với mẹ không cho con đi lễ. Con đã bỏ về nhà mẹ để sinh con và rửa tội cho con. Hôn nhân vì vậy đã tan vỡ. Anh ấy đã lấy vợ khác. Hôn nhân của con có vô hiệu không?

Sự kiện

Đôi khi xảy ra trường hợp người chồng là lương dân muốn kết hôn với người Công Giáo. Anh đã bằng lòng học và theo đạo trước khi kết hôn. Tuy nhiên sau đó anh không còn giữ đạo và còn cấm người vợ giữ đạo. Hoặc có trường hợp anh không cấm cách người vợ giữ đạo nhưng lại đồng tình với sự cấm cách của cha mẹ, không cho vợ được đi nhà thờ, thậm chí không cho con cái được Rửa tội.

Một kết ước hôn nhân đã xảy ra như trên thì có thể bị vô hiệu không? Tòa án hôn phối, căn cứ vào Giáo Luật, có thể thẩm xét và tuyên bố hôn nhân này vô hiệu dựa trên những cơ sở pháp lý khác nhau tùy theo sự kiện đã xảy ra tương ứng với điều khoản tiêu hôn nào.

Có 5 cơ sở pháp lý có thể được nêu ra trong trường hợp này để kết luận hôn nhân vô hiệu:
– Kết hôn có điều kiện về tương lai (đ. 1102#1)
– Kết hôn lầm lẫn về một tư cách được nhắm đến trực tiếp và chính yếu (đ. 1107#2)
– Kết hôn bị lầm lẫn do lừa gạt (đ. 1098)
– Kết hôn giả hình (simulatio, đ. 1101#1)
– Thiếu nghiêm trọng óc phán định về nghĩa vụ trao ban cho nhau (đ. 1095, 20)

1. Kết hôn có điều kiện về tương lai (đ. 1102#1)

Điều 1102#1 quy định: Kết hôn với điều kiện về tương lai thì bất thành.

Đặt điều kiện kết hôn có nghĩa là đưa ra một điều kiện có tính cách quyết định cho sự ưng thuân kết hôn hay không. Điều đó có nghĩa là điều kiện được đặt ra là chính yếu và quan trọng hơn cả người kết hôn. Ví dụ đặt điều kiện tương lai như: “Anh phải trở thành bác sĩ trong hai năm tới”. Nếu bên kia không đồng ý thì bên đặt điều kiện sẽ không kết hôn. Trong ý nghĩ của người đặt điều kiện thì việc bên kia sẽ trở thành bác sĩ là quan trọng hơn cả con người thực sự của bên kia. Ngược lại, khi coi con người là chính yếu và điều đòi hỏi đặt ra là phụ thuộc khi kết hôn (Vd. cho dù anh có trở thành bác sĩ hay không thì tôi vẫn cưới anh) thì không phải là hôn nhân với điều kiện.

Trong trường hợp về sự theo đạo của bên lương như một điều kiện được đặt ra do bên Công Giáo thì có thể xảy ra hai trường hợp:
– Điều kiện hiện tại: Đòi bên kia phải theo đạo mới chịu kết hôn, chẳng hạn như bên Công Giáo nói: “Nếu anh không theo đạo tôi sẽ không kết hôn với anh”. Trường hợp này là kết hôn với điều kiện hiện tại (đ. 1102#2). Hôn nhân có vô hiệu hay không thì tùy thuộc vào nội dung của điều kiện có được thực hiện không, nghĩa là có được thỏa mãn không. Vì vậy, nếu anh người lương đã chịu rửa tội và sau đó kết hôn thì hôn nhân thành sự. Tuy nhiên, nếu anh đó nói dối là mình đã được rửa tội, nhưng thực sự anh chưa được rửa tội, thì hôn nhân này vô hiệu chiếu theo điều 1102#2, vì không thỏa mãn điều kiện hiện tại.
– Điều kiện tương lai: Đòi bên kia phải theo đạo và sẽ giữ đạo tốt thì mới chịu kết hôn. Điều kiện tương lai được đặt ra ở đây là “sẽ giữ đạo tốt”.
Đòi sẽ giữ đạo tốt ít khi xảy ra cách rõ ràng mà thường chỉ là một hy vọng hay một ước mơ của bên Công Giáo. Trong trường hợp này, nó không là một điều kiện kết hôn tương lai.

Nếu cho rằng là họ đã kết hôn với điều kiện tương lai thì phải có những sự kiện chứng minh được rằng hai bên đã có đặt ra điều kiện là “sẽ giữ đạo tốt” hay là “sẽ không cấm giữ đạo”.

Việc đòi bên kia phải theo đạo không đương nhiên là đòi bên kia phải giữ đạo tốt hay không cấm đạo, trừ khi có những dấu hiệu tích cực chứng tỏ rằng họ đã thỏa thuận điều kiện một cách mặc nhiên dù không nói ra. Vì vậy, nếu không có đủ chứng cứ cho việc đặt điều kiện tương lai thì không thể kết luận hôn nhân vô hiệu. Vị thẩm phán, khi đó, nên lý giải sự vô hiệu dựa theo cơ sở pháp lý khác.

2. Kết hôn lầm lẫn về một tư cách được nhắm đến trực tiếp và chính yếu (đ. 1107#2)

Điều 1107#2 quy định:
Sự lầm lẫn về tư cách của một người, ngay cả khi tư cách ấy là nguyên nhân của khế ước, không làm cho hôn nhân bất thành, trừ khi tư cách ấy được nhắm đến cách trực tiếp và chính yếu.

“Trực tiếp” ở đây có nghĩa là tư cách nhắm đến không phải là điều trung gian hay phương tiện. Ví dụ như khi kết hôn cũng đồng thời nhắm đến người chồng trong tương lai có sức khỏe. Sức khỏe trong trường hợp này chỉ là điều nhắm tới cách gián tiếp.[1]
“Chính yếu” ở đây có nghĩa là trước hết, ưu tiên hơn hết cái khác.
Ví dụ 1: Cô gái có chủ ý kết hôn với một bác sỹ. Nếu anh ta không là bác sĩ thì cô không kết hôn. Cô ta coi địa vị bác sĩ hơn là con người có địa vị đó. Tư cách bác sĩ đã được cô nhắm tới một cách trực tiếp và chính yếu.
Ví dụ 2: Chàng trai khi quyết định kết hôn nhắm đến cô gái Công Giáo, thực hành đạo. Nếu như cô ta không là người Công Giáo đạo hạnh thì anh ta không kết hôn. Tư cách Công Giáo đạo hạnh đã được chàng trai nhắm đến một cách trực tiếp và chính yếu.
Hãy xét đến trường hợp được nêu ra: sau kết hôn người tân tòng bỏ đạo và hoặc cấm vợ giữ đạo, hoặc đồng tình với cha mẹ cấm, hoặc phản ứng cách tiêu cực với sự cấm đó của cha mẹ mà không bênh vực cho vợ giữ đạo.
Nếu chứng tỏ được rằng bên Công Giáo đã đòi hỏi bên người lương là phải theo đạo và giữ đạo, và coi đó là điều tiên quyết để bằng lòng kết hôn. Bên tân tòng trước kết hôn đã thể hiện mình như vậy. Tuy nhiên, sau kết hôn người tân tòng đã thể hiện một tư cách (qualitas) khác hẳn với tư cách ban đầu mà bên Công giáo nhắm tới và gây sai lầm cho bên này.
Điểm chính cần chứng minh trong án lý này là phải có được những sự kiện chứng tỏ rằng bên Công Giáo đã nhắm đến việc theo đạo và giữ đạo là điều tiên quyết. Bên lương trước kết hôn cũng tỏ ra mình có đủ những điều mà bên kia mong đợi. Tuy nhiên sau kết hôn, bên lương theo đạo đó đã thể hiện thật sự là một người không muốn theo đạo nhưng chỉ làm cho có hình thức.
Cũng nên lưu ý là ngay cả trong đời sống hôn nhân, khi người tân tòng chỉ không sống đạo và gây nên sự bất hòa xung khắc trong gia đình, dẫn tới việc chia tay, mà không cần có sự bách hại hay đồng tình với cha mẹ bách hại bên Công Giáo, thì hôn nhân vẫn vô hiệu. Lý lẽ nền tảng cho sự vô hiệu ở đây là sự lầm lẫn về một tư cách được nhắm đến cách tự tiếp và chính yếu, đó là theo đạo và giữ đạo. Chứng cứ về sự bách hại đạo giáo ở đây chỉ là phụ thuộc. Nếu có những chứng cứ này thì nó giúp chứng tỏ thêm về tư cách quá khác xa với tư cách mà người kết hôn nhắm tới.
Trong trường hợp người Công Giáo vì sự cấm mà phải ra đi để giữ đạo thì càng chứng tỏ thêm rằng chị đã đặt vấn đề theo đạo và giữ đạo của chồng là điều tiên quyết và bây giờ thì thấy bị lầm trầm trọng.

3. Kết hôn bị lầm lẫn do lừa gạt (đ. 1098)

Điều 1098 quy định:
Người kết hôn bị lừa gạt về một tư cách nào đó của phía bên kia, với chủ ý để ưng thuận, và nếu tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng, thì hôn nhân bất thành.

Nếu bên lương theo đạo có chủ ý để được ưng thuận nhưng sau đó không thi hành đạo và lại không bênh vực cho vợ để vợ giữ đạo trước sự cấm cách của cha mẹ thì hôn nhân bất thành. Trong sự bất

thành này cần lưu ý:
Có sự “chủ ý để được ưng thuận” kết hôn của bên người lương khi theo đạo. Điều này được chứng tỏ qua sự anh biết hay suy đoán bên Công Giáo sẽ không tiến đến kết hôn với anh nếu anh không theo đạo. Trong trường hợp này, không cần có sự đòi buộc hay đặt điều kiện của bên Công Giáo là anh phải theo đạo, nhưng cần có dấu hiệu chứng tỏ bên Công Giáo bị lầm lẫn nghiêm trọng do chủ ý lừa dối của bên kia.
Thông thường, sự việc một người theo đạo để được kết hôn và ngay sau đó bỏ đạo và không bênh vực cho vợ để vợ giữ đạo trước sự cấm cách của cha mẹ đủ để chứng minh anh ta lường gạt và gây lầm lẫn nghiêm trọng cho bên Công Giáo. Việc không sống đạo có thể gây nhiễu loạn đời sống gia đình và giáo dục con cái. Vì vậy, hôn nhân bất thành, chiếu theo điều 1098.
Có thể đặt thêm vấn đề là nếu bên người tân tòng vẫn để cho vợ tự do giữ đạo nhưng tự mình bỏ đạo hay không thực hành đạo thì hôn nhân có vô hiệu không?
Trong trường hợp người tân tòng đã không giữ đạo gì cả hay chỉ đi nhà thờ một ít lần vì chiều theo ý muốn của vợ thì người này vẫn có thể đã có ý lừa gạt. Vì vậy cần có đủ yếu tố chứng minh người này đã có chủ ý là theo đạo chỉ để để được kết hôn và đối với người Công Giáo và điều này gây một lầm lẫn lớn cho bên có đạo thì hôn nhân vô hiệu.
Tuy nhiên nếu bên Công Giáo chỉ muốn bên kia theo đạo để cho mình được kết hôn trong Thánh Lễ và có danh giá nhưng không có dấu hiệu tích cực nào chứng minh cho việc theo đạo của bên kia là thiết yếu thì kết luận bên Công Giáo này đã không bị lầm mà đến nỗi hà tỳ ưng thuận khiến hôn nhân vô hiệu.
Nên lưu ý là, không cần có sự bách hại hay đồng tình với cha mẹ bách hại việc giữ đạo của bên tân tòng, thì hôn nhân vẫn có thể vô hiệu. Lý do được thấy là, lý lẽ nền tảng cho sự vô hiệu ở đây là sự lầm lẫn của bên Công Giáo do bên kia lừa gạt. Lý lẽ về sự bách hại đạo giáo ở đây chỉ là phụ thuộc. Nếu nó có, nó chỉ giúp chứng tỏ thêm về sự lừa gạt.
Trong trường hợp người Công Giáo vì sự cấm mà phải ra đi để giữ đạo thì càng chứng tỏ thêm rằng chị đã bị lầm lẫn nghiêm trọng.

4. Kết hôn giả hình (simulatio, đ. 1101#1)

Điều 1101#2 quy định:
Nếu một bên hay cả hai bên bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân thì họ kết hôn với nhau bất thành.
L.G. Wrenn giải thích “hành vi tích cực của ý chí có thể sẽ là minh nhiên hay mặc nhiên nhưng chắc chắn nó là điều gì đó hơn là một hành vi phủ định của ý chí (more than a negative act of the will)”.[2] Sự tích cực của ý chí, như vậy, cũng chỉ là nhận hay chấp nhận.

Vì vậy, có thể xác nhận kết hôn simulatio nếu chứng minh được trong tâm ý của người kết hôn đã có ý định hay có muốn, hoặc có chấp nhận loại trừ những điều mà chính yếu nào đó của hôn nhân (đ. 1101#2) mà không cần phải có một quyết tâm hay một chủ ý rõ ràng về sự loại trừ đó.

Các nhà Giáo luật đều đã lưu ý rằng một người đã sống trong một nền văn hóa, tôn giáo mà chủ trương cho ly dị tái hôn, đa thê, thì người đó khó có thể chấp nhận lề luật của Công Giáo, và vì vậy họ dễ kết hôn giả hình, cách riêng đối với loại trừ tính bất khả phân ly.

“Thiếu đức tin” có thể là nguồn phát sinh sự “giả hình” trong kết ước hôn nhân. Người thiếu đức tin có thể cho rằng những luật hay những ý nghĩa về hôn nhân của đạo chẳng có ý nghĩa gì đối với họ hoặc coi thường chúng (MI, Regole procedurali,14).
Trong trường hợp của vụ án được nêu ra, người tân tòng sau kết hôn bỏ đạo và cấm cách người vợ giữ đạo hoặc đồng tình với cha mẹ cấm đạo thì có thể kết luận người này đã loại trừ thiện ích của hôn nhân (bonum coniugum), nếu như có sự cấm cách giữ đạo xảy ra tương đối sớm sau kết hôn. Trong trường hợp xảy ra vào thời gian lâu sau hôn nhân thì có thể giả thiết là người tân tòng đã không có ý loại trừ khi kết hôn nhưng sau này vì hoàn cảnh mới có nẩy sinh như vậy. Vì vậy, cần có những sự kiện chứng tỏ rằng sự loại trừ đã có trong ý định hay đã chấp nhận nó ngay từ khi kết hôn.
Ví dụ như người chồng tân tòng, khi kết hôn, tiên liệu rằng mẹ mình sẽ có thể cấm cách con dâu mình giữ đạo nhưng người chồng nghĩ rằng nếu có xảy ra thì cũng chẳng đáng quan tâm. Hôn nhân vô hiệu vì đã có ý chấp nhận loại trừ thiện ích hôn nhân; hôn nhân vô hiệu. Hoặc người chồng này nghĩ rằng, nếu tương lai có mâu thuẩn mà không giải quyết được giữa mẹ chồng nàng dâu thì chấp nhận chia tay. Trong trường hợp này người tân tòng đã có lý loại trừ tính bất khả phân ly của hôn nhân; hôn nhân vô hiệu.
Nếu xảy ra việc người tân tòng không cho hoặc không lo cho con được rửa tội thì sự vô hiệu do hôn nhân giả hình lại càng được chứng tỏ mạnh mẽ hơn. Bởi lẽ, một người tân tòng vẫn được coi là người Công Giáo cho dù là không có đức tin. Nghĩa vụ của người này là phải lo rửa tội và giáo dục con cái trong tinh thần Kitô giáo. Nếu không chu toàn nghĩa vụ này, hôn nhân có thể vô hiệu do sự loại bỏ thiện ích con cái (bonum prolis) hoặc thiếu óc phán định nghiêm trọng về nghĩa vụ hôn nhân (đ. 1095,20).

5. Thiếu nghiêm trọng óc phán định về nghĩa vụ trao ban cho nhau (đ. 1095, 20)

Điều 1095,20 quy định:
Không có khả năng kết hôn: những người thiếu nghiêm trọng óc phán định về quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của việc trao ban và lãnh nhận nhau trong hôn nhân;
Mặc dù điều 1095,20 không dùng bổ túc từ “thích đáng” (due) cho cụm từ “óc phán định”, óc phán định thích đáng (due discretion of judgment) nhưng các án lệ Rota vẫn thường dùng nó.[3] Lý do là đối tượng của phán định ở đây là các nghĩa vụ và bổn phận trao ban cho nhau của hôn nhân. Sự phán định phải thích đáng với đối tượng của nó, tức là tương xứng với những điều liên hệ đến tương lai của hai người dấn thân sống trao ban cho nhau và bất khả phân ly. Khả năng phán định để kết ước hôn nhân như vậy phải là “thích đáng”.[4]
Sự thiếu phán định thích đáng của người tân tòng theo đạo trong trường hợp hôn nhân đang bàn thảo là sự “phán định sai lệch”.
Nếu một người chỉ biết nghe theo lời cha mẹ mà phá hủy hoặc không lo bảo vệ đời sống hôn nhân thì người đó đã phán đoán sai lệch về hôn nhân. Một óc phán định bình thường của một người Công Giáo là phải bảo vệ cho gia đình mình được giữ đạo tốt. Nếu đó là một người lương có cấm cách vợ con giữ đạo thì còn có lý do biện minh, nhưng nếu đó là người Công Giáo, cho dù là một tân tòng, thì quả là người có óc phán định quá là sai lệch về nghĩa vụ hôn nhân Công giáo. Vì dù sao đi nữa hôn nhân giữa hai người được Rửa Tội là hôn nhân bí tích.
Sự hiếu thảo với cha mẹ của người tân tòng có thể biện minh cho hành vi của người tân tòng trong vấn đề này không? Không thể, vì bản chất hôn nhân đòi hai vợ chồng phải hiệp thông và trao ban cho nhau. Nghĩa vụ đối với cha mẹ của con người được đặt thấp hơn nghĩa vụ đối với vợ chồng. Một người tân tòng tuy không tự mình cấm cách nhưng vì nghe lời cha mẹ mà cấm cách hoặc không bênh vực cho người vợ hay chồng mình giữ đạo thì quả là phán định rất sai lệch về nghĩa vụ trao ban cho nhau khi kết hôn. Sự thiếu óc phán định lại là rất nghiêm trọng khi hôn nhân có nguy cơ tan vỡ mà người tân tòng không cố gắng để bảo trì mà chỉ nghe lời cha mẹ để cho tan vỡ. Thiếu óc phán đoán còn tệ hại hơn khi người tân tòng nghe theo lời cha mẹ để bỏ vợ có đạo rồi sau đó kết hôn với người khác. Xét theo một phương diện khác, hôn nhân có thể vô hiệu với lý do người tân tòng này không làm chủ được hành vi của mình trong đời sống vợ chồng nếu như người này lệ thuộc hoàn toàn vào sự quyết định của cha mẹ. Một người như vậy được coi là không đủ trưởng thành tâm lý tình cảm để kết hôn hữu hiệu vì không làm chủ được hành vi của mình.
Trong trường hợp nêu trên nếu xảy ra việc người tân tòng không cho hoặc không lo cho con được rửa tội thì sự vô hiệu hôn nhân lại càng được chứng tỏ mạnh mẽ hơn do sự thiếu phán định của người này.
Tuy nhiên, sự thiếu óc phán định nếu xảy ra do một biến cố sau khi kết hôn mà khiến cho một người thay đổi những quan điểm sống hoặc bị bệnh về tinh thần thì không thể kết luận người này thiếu óc phán định khi kết hôn.

Kết luận

Người lương theo đạo (tân tòng) để kết hôn thường không có đức tin. Thực tế cho thấy, hôn nhân của họ thường dễ bị tan vỡ hơn những hôn nhân của hai người có đạo gốc Công Giáo.
Trong trường hợp đang bàn luận, có sự tự ý lìa bỏ hôn nhân của bên Công Giáo vì để bảo vệ đời sống đức tin của mình. Trong trường hợp này, có nhiều lý do tiêu hôn như đã xét đến. Vị thẩm phán sẽ chọn lý do nào có nhiều chứng cứ chứng minh hơn.
Trong trường hợp, bên Công Giáo vẫn cố gắng duy trì hôn nhân cho dù có bách hại nhưng bên tân tòng chủ động chia tay để lấy người khác thì cũng có thể xét hôn nhân vô hiệu theo những lý do tiêu hôn khác, trong đó thường là sự loại trừ tính chung thủy hay bất khả phân ly (đ. 1101#2).

Cũng nên lưu ý rằng sự tự ý lìa bỏ hôn nhân của bên Công Giáo không được Giáo Hội ủng hộ. Vì vậy, trong vấn đề này cũng cần có sự cân nhắc. Giáo Luật khuyến cáo: Không nhận giải gỡ hôn phối trừ khi sự tan vỡ vợ chồng đến mức không thể sửa chửa được (đ. 1675).

—————
[1] Cf. S.I. HILBERT, “Error qualitate in personae (can. 1097#2)”, in U. NAVARRETE, Errore e simulazione nel matrimionio canonico, E.P.U.G, Roma 1998, 434.

[2] Cf. Lawrence g. Wrenn, The Invalid Marriage, Washington DC 1998, 122

[3] Cf. Lawrence g. Wrenn, The Invalid Marriage …, 26.

[4] Cf. Ibidem, 26.

giaoluatconggiao.com

Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp, Công Giáo và Armenia ký thỏa thuận trùng tu Mộ Thánh Chúa Giêsu trong giai đoạn thứ hai

Giai đoạn trùng tu đầu tiên, diễn ra cách đây 2 năm trước, đã gỡ bỏ chiếc lồng kim loại được xây dựng vào năm 1947 bị hư hại vì động đất. Bắt đầu vào tháng 5 năm 2016, công trình này có chi phí khoảng 3 triệu đô la, với sự đóng góp của nhiều nhóm Palestine, Do thái, Giordan, các Giáo Hội Kitô tại Giêrusalem và nhiều cá nhân. “Đó là sự kết thúc của một giai đoạn và khởi đầu một giai đoạn mới”, Đức Tổng Giám Mục Pierbattista Pizzaballa, Giám Quản Tông Tòa tại Giêrusalem tuyên bố ngày 22 tháng 3. Có một buổi “cử hành tôn giáo cách đơn giản và đại kết với những bài hát và lời cầu nguyện” đã được tổ chức tại nơi linh thiêng để kết thúc một giai đoạn khôi phục. Tất cả những người đóng góp đã được mời tham dự, bao gồm cả chính quyền Israel.

Ngày 27.5.2019 tại thành cổ Giêrusalem, Đức Giáo Chủ Chính thống Hy Lạp Theophilus III ở Giêrusalem, Cha Giám Hộ Thánh Địa Francesco Patton, và Đức Giáo Chủ Armenia Nourhan Manoughian đã ký một thỏa thuận bắt đầu giai đoạn thứ hai của việc trùng tu Vương cung thánh đường Mộ Chúa.

Thỏa thuận về giai đoạn thứ hai của công trình sẽ bao gồm việc nâng toàn bộ nền thánh đường để loại bỏ sự những xâm nhập và để tiến hành san phẳng mặt bằng. Như vậy, vấn đề các bộ phận hiện chưa được kết nối sẽ được giải quyết.

Thỏa thuận dự kiến một giai đoạn nghiên cứu đầu tiên về tình huống sẽ bắt đầu vào tháng 9 và sẽ kéo dài khoảng một năm. Khác với sự can thiệp trước đây được thực hiện do Đại học Kỹ thuật Quốc gia Athens, giai đoạn thứ hai của trùng tu sẽ được điều phối do hai tổ chức khoa học hàn lâm Italia, nhưng tên của hai nhóm chưa được công bố. “Chúng tôi đang hoàn tất các thỏa thuận”, Cha Patton giải thích như vậy. Tuy nhiên, trùng tu sẽ gặp ít khó khăn trong việc đảm bảo không làm gián đoạn dòng người hành hương đến Mộ Chúa.

Giai đoạn mới của các công trình cũng có ý nghĩa rất lớn xét theo quan điểm đại kết. Cha Patton xác nhận đã có “mối quan hệ thực sự của hợp tác, tin tưởng và tình huynh đệ” đang tồn tại giữa các Giáo Hội Kitô khác nhau ở Giêrusalem. Cuối cùng, Cha nhấn mạnh rằng công việc tái cấu trúc sẽ là một dịp quan trọng cho các cuộc điều tra khảo cổ, như thường xảy ra ở Thánh địa.

Việc nâng cao nền thánh đường sẽ cho phép chúng ta điều tra các phần còn lại của vương cung thánh đường Constantinô – được Hoàng Hậu Helen xây dựng vào đầu thế kỷ thứ tư – ngay tại nơI Chúa Giêsu được an táng và phục sinh. Hơn nữa, các công cụ mới có thể giúp các nhà khảo cổ học ngày nay có cơ hội để hiểu rõ hơn về toàn bộ cấu trúc của nghĩa địa, trong đó có phần mộ của Chúa Giêsu.

Lm. Nguyễn Tất Thắng OP

Công tố viên ú ớ và nổi nóng với quan tòa trong phiên kháng cáo của Đức Hồng Y Pell

poo8nedr-2

Hôm thứ Năm 6 tháng Sáu (2019), tòa đã dành để chất vấn phía công tố viện, sau khi đã nghe các ý kiến kháng cáo của nhóm luật sư bảo vệ Đức Hồng Y Pell. Công tố viên chính đã phải vất vả tranh luận nhằm yêu cầu ba vị thẩm phán phiên kháng cáo của Đức Hồng Y George Pell giữ nguyên bản án dành cho ngài đã đưa ra vào hôm thứ Tư 13 tháng Ba. Công tố viên Christopher Boyce đã rất vất vả để có thể trả lời các câu hỏi từ tòa phúc thẩm gồm ba thẩm phán Anne Ferguson, Chris Maxwell và Mark Weinberg. Trong một lúc nổi nóng, ông ta quên mất cấm kỵ đến mức vô tình nêu tên người tố cáo Đức Hồng Y trong một phiên tòa được trực tiếp truyền hình trên Web site của tòa án Victoria.

Boyce nhất mực cho rằng nguyên cáo không phải là một kẻ nói dối hay một kẻ hoang tưởng, mặc dù thừa nhận rằng anh ta đã thay đổi ngày và năm xảy ra cái gọi là vụ lạm dụng tính dục trong suốt quá trình vụ án và không còn đồng ý với các khẳng định của chính công tố viện.

Boyce liên tục thấy mình phải vật lộn để đưa ra các lập luận của mình, đôi khi ú ớ trước các câu hỏi của ba vị thẩm phán. Tại một thời điểm Boyce thừa nhận rằng “Điều tôi vừa nói trước đó chưa được hay lắm”, hay nói rằng “nhắc lại những điều nhàm chán này có thể chẳng ích lợi gì.”

Công tố viên nhấn mạnh với tòa án rằng nguyên cáo mà ông ta vô tình nêu tên (mặc dù tòa án vẫn cấm nêu danh tính của người này) đã chứng tỏ rằng anh ta quen thuộc với bố cục và nội thất của nhà thờ chính tòa Thánh Patrick của Melbourne, bao gồm cả công việc trùng tu đang diễn ra tại thời gian xảy ra các cáo buộc.

Nguyên cáo tự nhận là một ca viên trong ca đoàn của nhà thờ, và sự hiểu biết của anh ta về nội thất của nhà thờ không bị các luật sư bào chữa tranh biện. Bất cứ ai đến nhà thờ dù chỉ một lần, hay có khi chẳng đến lần nào nhưng được xem các hình ảnh do ai đó cung cấp cũng có thể có kiến thức này. Việc nhấn mạnh của công tố viên vào điểm này là một luận cứ quá yếu trước tòa. Thay vì tranh biện chi tiết không có mấy tác dụng thuyết phục này của Boyce, các luật sư bào chữa đã chỉ ra bằng chứng quan trọng từ Đức ông Charles Portelli phụ trách các nghi lễ phụng vụ tại nhà thờ chính tòa. Đức Ông đã làm chứng rằng Đức Hồng Y Pell đã chào các giáo dân ở cửa phía tây của nhà thờ sau Thánh lễ, trong phẩm phục đầy đủ và Đức Ông luôn ở bên cạnh Đức Hồng Y trong suốt thời gian đó.

Dưới sự thẩm vấn của các thẩm phán, dẫn đầu bởi chủ tịch tòa án Chris Maxwell, Boyce đã phải vất vả để giải thích cho những gì mà các thẩm phán gọi là “những trường hợp cực kỳ khó xảy ra” trong cáo buộc chống lại Đức Hồng Y.

Khi được hỏi làm thế nào mà một nhân vật to cao và dễ nhìn thấy như Đức Hồng Y Pell có thể tiếp cận, cô lập và tấn công hai cậu bé tại nhà thờ, vào lúc bận rộn nhất, Boyce nói rằng công tố viện khẳng định rằng câu chuyện của nguyên cáo không thể thêu dệt ra vì quá lạ lùng. [Keith Windschuttle trong bài The Borrowed Testimony that Convicted George Pell – Chứng tá vay mượn để kết tội Đức Hồng Y George Pell đăng trên tờ Quadrant Online hôm 8 tháng Tư, 2019 cho rằng cáo buộc chống lại Đức Hồng Y Pell là “y chang” như câu chuyện đã đăng trên tờ Rolling Stone của Mỹ vào ngày 15 tháng Chín 2011]

Boyce nổi nóng nói với các quan tòa “Chúng ta cứ nói hoài đến mức muốn mửa luôn là chuyện này có phải thêu dệt ra hay không. Thêu dệt ra để làm cái quái gì?” [Cãi như Boyce thì thật là yếu quá: Để bỏ tù người vô tội.]

Boyce thậm chí đi xa đến mức cho rằng các thẩm phán không có khả năng hiểu toàn bộ bối cảnh của các bằng chứng của phiên tòa, mà chỉ dựa vào video và các tường thuật bằng văn bản của vụ án.

Boyce nổi nóng nói: “Các ngài không có cùng một vị thế với bồi thẩm đoàn. Chính xác là không. Tôi xin lỗi nếu tôi không thể giúp các vị trong khả năng của mình. Nói chung, mỗi phiên tòa nó có một bầu không khí nhất định của nó.”

Đức Hồng Y Pell bước sang tuổi 78 vào cuối tuần này, đã có mặt tại tòa. Ngài trông già hẳn đi. Đức Hồng Y đeo cổ côn của hàng giáo sĩ nhưng không có nhẫn giám mục hoặc thánh giá. Ngài ghi chú trong suốt quá trình tố tụng.

Phiên xét xử kết thúc lúc 4 giờ chiều giờ địa phương Melbourne. Các thẩm phán chưa đưa ra phán quyết của họ, cũng không cho biết thời gian sẽ đưa ra phán quyết.

Catholic News Agency Prosecution falters during Cardinal Pell appeal hearing

Đức Cha Đinh Đức Đạo được bổ nhiệm là thành viên Bộ Giáo dục Công giáo

cq5dam.thumbnail.cropped.750.422

Sáng ngày 6/6, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm bốn thành viên mới cho Bộ Giáo dục Công giáo. Bốn thành viên mới gồm Đức Hồng y Joseph William Tobin, Tổng giám mục Newark (Hoa Kỳ); ĐHY Désiré Tsarahazana, Tổng giám mục Toamasina (Madagascar); ĐHY Luis Francisco Ladaria Ferrer, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin và Đức cha Giuse Ðinh Ðức Ðạo, giám mục giáo phận Xuân Lộc.
Trong số bốn thành viên mới, Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo là giám mục duy nhất không phải là hồng y. Ngài đã từng có kinh nghiệm phục vụ nhiều năm tại Roma với nhiều chức vụ khác nhau. Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo hiện là Chủ tịch Ủy ban Giáo dục Công giáo thuộc HĐGMVN (nhiệm kì 2013-2016 và 2016-2019), và hiện nay ngài cũng là viện trưởng Học viện Công giáo Việt Nam.
Bộ Giáo dục Công giáo có nhiệm vụ thông truyền và đảm bảo thực hiện giáo dục Công giáo theo đường hướng của Toà Thánh tại các trường, học viện, các cơ sở thuộc thẩm quyền Giáo hội.

(Rei 6/6/2019)

ĐHY Sgreccia- cựu chủ tịch Hàn lâm viện về sự sống, qua đời

cq5dam.thumbnail.cropped.750.422-2

ĐTC Phanxicô chia buồn: “Tôi nhớ đến việc phục vụ quảng đại của ngài đối với Giáo hội, đặc biệt quý giá trong việc bảo vệ giá trị nền tảng của sự sống con người.”

Lúc 12h15 ngày 5/6/2019, ĐHY Elio Sgreccia, cựu chủ tịch Hàn lâm viện Giáo hoàng về sự sống, đã qua đời tại Roma, thọ 91 tuổi.

ĐHY Sgreccia sinh ngày 6/6/1928, chịu chức linh mục năm 1952. Từ năm 1974, ngài là phụ tá về đời sống thiêng liêng cho Khoa Y và Phẩu thuật của đại học Công giáo Thánh Tâm. Ngài là giáo sư đầu tiên về đạo đức sinh học của trường này từ năm 1984. Năm 1992, ĐGH Gioan Phaolô II tấn phong ngài làm giám mục. Từ 2005 đến 2008, ĐHY Sgreccia là chủ tịch Hàn lâm viện Giáo hoàng về Sự sống. ĐTC Benedicto XVI đã thăng ngài làm hồng y năm 2010.

ĐTC Phanxicô đã gởi điện thư chia buồn về sự ra đi của ĐHY Sgreccia. Điện thư có đoạn: “Tôi nhớ đến việc phục vụ quảng đại của ngài đối với Giáo hội, đặc biệt quý giá trong việc bảo vệ giá trị nền tảng của sự sống con người.”

Với sự ra đi của ĐHY Sgreccia, Hồng y đoàn còn lại 220 hồng y, trong số đó có 120 hồng y cử tri.

Văn Yên, SJ

 

Costa Rica muốn buộc các linh mục tiết lộ bí mật tòa giải tội

Tổng thống Carlos Alvarado của Costa Rica đã kêu gọi quốc gia Trung Mỹ này thảo luận về điều luật buộc các linh mục Công giáo báo với chính quyền khi họ nghe hối nhân xưng tội lạm dụng trẻ em và ấu dâm.

Dự luật này do đại biểu Enrique Sanchez, một thành viên của đảng trung tả của tổng thống, đề xướng, nhắm sửa đổi điều khoản 206 của bộ luật hình sự của Costa Rica.

Yêu cầu linh mục trình báo người xưng tội ấu dâm

Dự luật quy định, yêu cầu các giáo sĩ cũng như những người có liên hệ với những người trẻ phải báo cáo các cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên. Theo đó, các linh mục không báo cáo những gì họ nghe được trong tòa giải tội về lạm dụng tình dục trẻ em sẽ bị phạt tiền. Dự luật này sẽ được Quốc hội xem xét. Luật hiện hành của Costa Rica chỉ quy định các giáo viên và các chuyên viên y tế buộc phải báo cáo việc lạm dụng tình dục trẻ em.

Ông Sanchez giải thích rằng dự luật này bao gồm những nơi quy tụ các trẻ em, từ các tổ chức thể thao, đến văn hóa và tôn giáo, và ông nói rằng nghĩa vụ báo cáo chính quyền không giới hạn những điều nghe trong tòa giải tội nhưng cả những điều ngoài tòa giải tội. Theo ông, dự luật này dựa trên Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, trong đó khẳng định rằng quyền của trẻ vị thành niên vượt trên đặc quyền của luật sư-khách hàng và quyền trẻ em vượt lên trên học thuyết tôn giáo, bao gồm cả ấn tín tòa giải tội được Giáo hội Công giáo công nhận.

“Ấn tòa giải tội không thể bị vi phạm”

Đáp lại dự luật này, Đức Tổng GM Jose Rafael Quiros của giáo phận San Jose, thủ đô Costa Rica, đã khẳng định theo giáo luật của Hội Thánh: “Ấn tòa giải tội không thể bị vi phạm; những điều được nói trong tòa không thể bị tiết lộ”. Người phát ngôn của HĐGM Costa Rica nhận định rằng dự luật này đe dọa quyền tự do tôn giáo nhưng không làm điều gì để bênh vực công lý. 

Hồng Thủy – Vatican

Lễ Của Mẹ, Tưởng Nhớ Mẹ Bằng Đọc Lại Ca Dao

Trong các hình ảnh về gia đình mà mỗi người chúng ta còn giữ lại, có lẽ hình ảnh về mẹ là sâu dậm và rõ rệt hơn cả. Nó rõ rệt đến nỗi không chỉ được gợi lại qua các kỷ niệm của cuộc sống thường ngày, mà còn được viết ra cả trong thơ văn. Không cần nhìn đâu xa, chỉ cần mở bất cứ một cuốn tục ngữ ca dao nào ra, thì ta cũng đọc được nhan nhản những câu ca phác họa hình ảnh mẹ.

1. Bức tranh thứ nhất mà ca dao Việt Nam vẽ về mẹ là bức tranh bà mẹ nghĩa đức dầy công lao sinh đẻ, nuôi nấng và vun trồng gầy dựng cho con cái. Công lao này có thể được tóm gồm qua chữ ‘nghĩa‘ :

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Có khi công lao ấy lại được tổng hợp trong chữ ‘đức‘ :
Công cha Đức Mẹ cao dầy,

Cưu mang trứng nước những ngày thơ ngây.

Có một điều đặc biệt là hình ảnh về mẹ thường gắn liền với hình ảnh cha. Hầu như không bao giờ ca dao nói về mẹ mà không nói về cha. Ngay cả khi dùng những hình ảnh đối chọi nhau, như núi với nước, ca dao luôn luôn nghĩ rằng cha mẹ là hai người, dẫu khác nhau, nhưng luôn bổ túc cho nhau và không thể chia lià nhau được. Gia đình ấm cúng yên vui, bởi vậy, luôn luôn là cái viễn ảnh, là cái khung trời trong đó mẹ được vẽ.

Vợ chồng là nghĩa tào khang,
Chồng hoà vợ thuận nhà trường yên vui;
Sinh con mới ra thân người,
Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.

Là vợ hiền, là mẹ tốt, tất nhiên bà là yếu tố căn bản gây nên cái đức của gia đình, làm cho cuộc sống được vuông tròn, trong đó, chồng vinh hiển, con sang giầu. Và hình ảnh ấy không người chồng nào, không người con nào quên được.

Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Mừng cây rồi lại mừng cành,
Cây đức lắm chồi, người đức lắm con.
Ba vuông sánh với bảy tròn,
Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu.

Đó là lý do khiến bất cứ một ai thành thân thành người, cũng đều nghĩ rằng công ơn đầu tiên là của cha mẹ. Nét vẽ thứ ba trong bức tranh về bà mẹ nghĩa đức dầy công lao nuôi nấng và gầy dựng cho con cái là công ơn chăm sóc vun trồng của bà.

Trứng rồng lại nở ra rồng,
Hạt thông lại nở cây thông rườm rà.
Có cha sinh mới ra ta,
Làm nên thời bởi mẹ cha vun trồng.

Nét vẽ vun trồng khó nhọc cho con cái thường được vẽ đậm và biểu tượng bằng hình ảnh sương tuyết.

Cây khô chưa dễ mọc chồi,
Bởi mẹ chưa dễ ở đời với ta,
Non xanh bao tuổi mà già,
Bởi vì sương tuyết hoá ra bạc đàu.
2. Bức tranh mẹ nghĩa đức dầy công lao sinh đẻ, nuôi nấng và vun trồng gầy dựng cho con cái là bức tranh tổng quát thường được xếp hàng đầu và thường dễ thấy nhất trong ca dao. Nhưng không chỉ có bức tranh ấy. Bên cạnh bức tranh nghĩa và đức của mẹ, người ta còn thấy bức tranh thứ hai, có lẽ chi tiết hơn, nhưng không kém vẻ kiều diễm. Đó là bức tranh người mẹ, bà giáo hiền dậy con. Trong cái khung cảnh thái bình và hạnh phúc của nền kinh tế và văn hoá nông nghiệp, lý tưởng giáo dục của các bà mẹ không vượt ngoài khuôn khổ lý tưởng giáo dục chung của xã hội, trong đó, trai thì phải xuất xử, gái thì phải cửi canh :

Trên trời có cái cầu vồng,
Kẻ chợ cầu Muống, cửa đông cầu Rền
Vua trên đền, cầu vàng cầu bạc,
Các lái buôn cầu nước cầu non
Đôi ta cầu của cầu con,
Con đẹp giống mẹ, con dòn giống cha.
Con gái dệt cửi trong nhà,
Con trai đi học đỗ ba khoa liền.
Con lớn thì đỗ trạng nguyên,
Hai con tiến sĩ đỗ liền cả ba.
Vinh qui bái tổ về nhà,
Bõ công đèn sách mẹ cha nuôi thầy.

Có một ước vọng rõ rệt như vậy về cuộc đời cho con cái, bà không ngần ngại đem ra áp dụng bằng cách khuyên dậy, răn bảo con cái :

Con ơi, muốn nên thân người,
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.
Gái thì giữ việc trong nhà,
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa.
Trai thì đọc sách ngâm thơ,
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt, sau là ấm thân.

Trong việc dậy bảo, bên cạnh việc giáo dục gia đình, việc giáo dục quốc gia, xưa là khoa bảng nho học, nay là thạc sĩ và tiến sĩ đại học giữ một vai trò rất quan trọng.

Mừng nay nho sĩ có tài,
Bút nghiên dóng dả giùi mài nghiệp Nho.
Rõ ràng nên đấng học trò,
Công danh hai chữ trời cho dần dần.
Tình cờ chiếm được bảng xuân,
Ấy là phú quí đầy xuân quế hoè.
Một mai chân bước Cống, Nghè,
Vinh qui bái tổ, ngựa xe đưa mình.
Bốn phương nức tiếng vang lừng,
Ngao du Bể Thánh, vẫy vùng Rừng Nho.
Quyền cao chức trọng Trời cho,
Bõ công học tập, bốn mùa chúc minh.
Vui đâu bằng Hội đề danh,
Nghề đâu bằng nghiệp học hành là hơn.
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy xuôi.
Phu nhân thời có công nuôi,
Toàn gia hưởng phúc lộc trời ban cho.

Vì vậy, bà cố sức :

Dậy con từ thủa tiểu sinh,
Gần thầy, gần bạn tập tành lễ nghi.
Học cho cách vật trí tri,
Văn chương chữ nghĩa, nghề gì cũng thông.

Và không quên nhắc nhở con cái về cái gia nghiệp, về đức cần kiệm, về cách làm ăn:

Trăm năm như cõi trời chung,
Trăm nghề cũng phải có công mới thành.
Cứ trong gia nghiệp nhà mình,
Ngày đêm xem sóc giữ gìn làm ăn.
Chữ rằng ‘Tiểu phú do cấn’,
Còn như ‘Đại phú‘ là phần ‘do thiên’.
Đừng trễ nải, chớ ghét ghen,
Còn như lộc nước, có phen dồi dào.

Bà cũng không quên rằng xã hội không chỉ có ‘sĩ‘, mà còn có ‘nông’, ‘công’ và ‘thương’. Và chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Khổng nho, bà vẫn tâm niệm rằng :

Trời thu vừa gặp tiết lành,
Muôn dân yên khỏe thái bình âu ca.
Muốn cho yên nước, yên nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Trong bốn nghiệp ra công gắng sức,
Đường nghĩa phương ta phải khuyên con.
3. Cạnh kề hai bức tranh trên, còn một bức tranh thứ ba rất linh hoạt về mẹ. Đó là bức tranh người mẹ đảm đang. Dĩ nhiên cũng như hai bức tranh trước, trong bức tranh này, người mẹ tốt và người vợ hiền như chồng lên nhau thành một.
Sự đảm đang của bà trước nhất là ở sự quán xuyến công việc cửa nhà.

Canh một dọn cửa dọn nhà,
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Lo cho chồng học hành
Canh tư bước sang canh năm,
Trình anh dậy học, chớ nằm làm chi.
Nữa mai Chúa mở khoa thi,
Bảng vàng choi chói kìa đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.
Lo lắng săn sóc nuôi nấng con cái
Miệng ru mắt nhỏ đôi hàng
Thương con càng lớn mẹ càng thêm lo

Nết đảm đang thứ hai của bà là ở sự thông thạo công việc đồng áng.

Khó thay công việc nhà quê,
Cùng năm khó nhọc dám hề khoan thai.
Tháng chạp thời mắc trồng khoai,
Tháng giêng trồng đău, tháng hai trồng cà.
Tháng ba cầy vỡ ruộng ra,
Tháng tư bắt mạ thuận hòa mọi nơi.
Tháng năm gặt hái vừa rồi,
Bước sanh tháng sáu nước trôi đầy đồng.
Nhà nhà, vợ vợ, chồng chồng,
Đi làm ngoài đồng, sá kể sớm trưa.
Tháng sáu, tháng bảy khi vừa,
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ tranh.
Tháng tám lúa giỗ đã đành,
Tháng mười cắt hái cho nhanh kịp người.
Khó khăn làm mấy tháng trời,
Lại còn mưa nắng bất thời khổ trông.
Cắt rồi nộp thuế nhà công,
Từ rầy mới được yên lòng ấm no.

Và nét đảm đang thứ ba của bà được thấy rõ ở việc thành thạo công thương.

Một năm chia mười hai kỳ,
Thiếp ngồi thiếp tính khó gì chẳng ra.
Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm.
Tháng ba đi bán vải thâm,
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về,
Tháng sáu em đi buôn bè,
Tháng bảy, tháng tám trở về đong ngô…
4. Trong ba bức tranh trên, hình ảnh đảm đang của bà mẹ đã được họa trong khung cảnh của một gia đình đầy đủ. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng hoàn hảo như thế. Có những lúc người cha đi vắng. Sự can đảm của người mẹ thực là cao cả. Bức tranh thành ra chứa chất những nét đớn đau, vừa hào hùng, vừa bi thảm. Bức tranh thứ tư về mẹ phải là bức tranh ‘Mẹ can đảm sầu bi ‘

Anh đi, em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi, anh liệu chen đua với đới.

Hoặc thì nét nhớ nhung, nét cô đơn phảng phất khắp bức tranh.

Bác mẹ già lơ phơ đầu bạc,
Con chàng còn trứng nước thơ ngây.
Có hay chàng ở đâu đây,
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.

Bức tranh này thành ra thống thiết, nếu sự vắng bóng của người cha là vĩnh viễn. Hình ảnh mẹ góa nuôi con côi thực là chơi vơi.

Thiệt hại thay cho thằng bé nên ba,
Nó lăn, nó khóc giữa nhà năm gian,
Khóc than giữa chốn linh sàng,
Ba vuông nhiễu tím đôi hàng chữ vôi.
Chớ thiệt hại thay, người khác thì đã yên rồi,
Để cho người sống ở đời trơ vơ.
Ba bốn năm nhang khói thiếp tôi phụng thờ,
Đầu đội chữ hiếu, tay xe chữ tình.
Chữ Hiếu Trung, tôi gánh vác một mình,
Chẳng hay chàng có thấu tình thiếp hăng ?
Đường đi Khuất nẻo khói chùng.

Dĩ nhiên về người mẹ, ca dao Việt Nam không chỉ họa có bốn bức tranh trên, mà còn họa biết bao bức tranh khác nữa, trong đó nhiều hình ảnh khác được ghi nhận, nhiều nét vẽ khác được phác họa, nhiều sắc mầu khác được tô điểm. Nhưng đó là bốn bức độc đáo hơn cả.

Trong những bức khác, nét vẽ có vẻ tượng trưng, trừu tượng hơn, mà thoạt nhìn chẳng thấy nét nào về mẹ, như những bức tranh sơn thủy, tứ thời, đồng áng. Nhưng nếu biết mẹ là biểu tượng của sự khôn ngoan, được diễn tả bằng hình ảnh nước, mẹ là nguồn gốc và là kết quả của việc đồng áng,…thì những bức tranh về mẹ đếm sao cho hết.

Có những bức khác, hình ảnh mẹ lại ẩn hiện trong những cảnh khác của cuộc sống : cảnh cưới hỏi, cảnh đình đám, cảnh chợ búa,… Đâu đâu, nếu biết nhìn, và muốn nhìn, thì người ta cũng thấy những hình ảnh mẹ.

Vì hình ảnh mẹ được vẽ nhiều và khắp nơi như vậy, thành ra nhiều lúc và nhiều người không thấy mẹ, nhất là những lúc còn mẹ, có mẹ. Nhưng khi nào mẹ mất, lúc đó người ta mới thấy mẹ ; đúng hơn là thấy thiếu mẹ./.

Paris, ngày 01.05.2019
Trần Văn Cảnh

Linh mục dòng Đa Minh: Luật mới của California về ấn tín tòa giải tội chỉ nhằm bách hại các linh mục

Nếu California áp dụng dự luật đang được đề nghị nhằm ép buộc các linh mục phải vi phạm ấn tín tòa giải tội, thì không chỉ có Giáo Hội Công Giáo mà tất cả mọi tôn giáo sẽ phải đau khổ, một linh mục dòng Đa Minh đã đưa ra nhận xét trên trong một bài viết gần đây trên tờ USA Today.

Hôm Chúa Nhật 28 tháng Tư, Cha Pius Pietrzyk, trợ lý giáo sư giáo luật tại Chủng viện St. Patrick ở Menlo Park, California, cảnh báo rằng nếu dự luật này được thông qua, không có tôn giáo nào được an toàn.

Nếu một nguyên tắc cốt lõi ăn sâu vào truyền thống và giáo lý Công Giáo có thể bị nhà nước xóa bỏ dễ dàng như thế, thì không còn quyền tín ngưỡng hay lương tâm cơ bản nào là an toàn.

Dự luật Thượng viện California 360, tìm cách buộc các linh mục phải vi phạm ấn tín tòa giải tội trong các trường hợp nghi ngờ lạm dụng hoặc bỏ bê trẻ em.

Hơn 40 ngành nghề, bao gồm cả giáo sĩ, đã bị chi phối bởi luật pháp tiểu bang yêu cầu họ phải thông báo cho chính quyền dân sự trong các trường hợp nghi ngờ lạm dụng hoặc bỏ bê trẻ em. Tuy nhiên, luật hiện hành miễn trừ đối với “các trao đổi sám hối” giữa một cá nhân và thừa tác viên của họ nếu yêu cầu bảo mật bắt nguồn từ tín lý của giáo hội liên hệ. Lời thú tội trong tòa giải tội là một trường hợp điển hình.

Thượng nghị sĩ Jerry Hill đã giới thiệu dự luật California 360 vào tháng Hai, nói rằng: “Luật pháp nên được áp dụng như nhau cho tất cả các nhà chuyên môn bị chi phối bởi luật bắt buộc phải báo cáo những tội ác này – không có ngoại lệ, chấm hết.” Ông ta cho rằng việc miễn trừ cho các giáo sĩ chỉ là nhằm bảo vệ những kẻ lạm dụng và khiến trẻ em có nguy cơ cao hơn.

Đáp lại, Cha Pius Pietrzyk khẳng định rằng dự luật này không có gì khác hơn là “một nỗ lực nhằm tống giam các linh mục vô tội”.

Mặc dù mục đích của đạo luật báo cáo bắt buộc là tốt, “không có bằng chứng nào cho thấy việc buộc các linh mục tiết lộ các trường hợp lạm dụng biết được trong tòa giải tội sẽ ngăn chặn được một trường hợp lạm dụng trẻ em nào”.

Thay vào đó, ngài nói, “Có tất cả mọi lý do để tin rằng việc loại bỏ miễn trừ này sẽ có nghĩa là thủ phạm đơn giản sẽ không đưa vụ việc đó ra tòa giải tội. ”

Dự luật sẽ buộc một linh mục nghe được tội lạm dụng tình dục trong tòa giải tội “phải chọn hoặc là đối diện với án tù hoặc là phản bội bí mật đó và vi phạm lương tâm sâu sắc nhất của ngài và luật pháp của Thiên Chúa và của Giáo Hội Công Giáo.”

Cha Pius Pietrzyk nhận xét rằng: “Tôi biết rõ là tất cả các linh mục thuộc mọi quang phổ thần học và ý thức hệ, không ai trong số họ từng xem xét việc vi phạm ấn tín tòa giải tội.”

“Giáo Hội Công Giáo cho rằng bí tích hòa giải là một bí tích quan trọng, cho phép các hối nhân nhận được ân sủng của Chúa Kitô và tha thứ tội lỗi cho họ,” vị linh mục giải thích.

“Mặc dù vị linh mục hoạt động như một công cụ, nhưng việc xưng tội về cơ bản là một cuộc gặp gỡ giữa hối nhân Kitô hữu với Thiên Chúa; người ấy thừa nhận tội lỗi của mình với Chúa và thông qua vị linh mục nhận được ơn xá giải của Chúa. Đó là một khoảnh khắc linh thánh trong đó một người tiết lộ phần sâu thẳm nhất trong lương tâm của mình trước Thiên Chúa.”

Giáo hội dạy rằng “ấn tín bí tích hòa giải” là bất khả xâm phạm và không thể thay đổi bởi các thẩm quyền con người, bởi vì nguồn gốc của bí tích này nằm trong mặc khải của Thiên Chúa,” Cha Pius Pietrzyk nói. Một linh mục cố ý vi phạm ấn tín này phạm vào một trọng tội và lập tức bị tuyệt thông.

Giáo Hội Công Giáo cho rằng thông tin mà linh mục nhận được trong tòa giải tội không thuộc về ngài. Nó chỉ thuộc về Chúa. Vì lý do đó, một linh mục dứt khoát bị cấm tiết lộ tội lỗi của một hối nhân, không có bất kỳ ngoại lệ nào.

Niềm tin này là nền tảng cho giáo lý Công Giáo, tồn tại trong nhiều thế kỷ trước khi Hoa Kỳ được thành lập, vị linh mục lưu ý. Và từ lâu điều này đã được các tòa án và chính quyền dân sự tán thành.

Cha Pius Pietrzyk nhắc nhớ rằng vào năm 1813, Tòa Đại Hình New York tuyên bố: “Buộc một thừa tác viên nói ra những gì nhận được trong tòa giải tội, là tuyên bố rằng sẽ không còn có sự thú tội nữa; và đặc tính quan trọng này đạo Công Giáo sẽ bị tiêu diệt.”

Năm 1980, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thừa nhận: “Quan hệ giữa linh mục và hối nhân thừa nhận nhu cầu của con người phải tiết lộ cho một cố vấn tâm linh, là người mình hoàn toàn tin tưởng một cách tuyệt đối, những gì được cho là khiếm khuyết trong hành động hoặc suy nghĩ ngõ hầu có thể nhận được sự an ủi và hướng dẫn.”

Với bối cảnh tôn giáo và lịch sử của ấn tín bí tích hòa giải, tất cả người dân Hoa Kỳ cần phải cảnh giác trước dự luật của California.

“Buộc các cá nhân lựa chọn giữa phần bất khả xâm phạm nhất trong niềm tin tôn giáo và tù tội chính là điều mà Dự luật Nhân quyền [10 tu chính án đầu tiên của Hoa Kỳ được thông qua năm 1791- chú thích của người dịch] muốn tránh đi.”

Source:Catholic News Agency

 

 

Cảnh sát Paris nghi ngờ công nhân xây dựng hút thuốc làm cháy nhà thờ Đức Bà

nhatho

 

Trong bản tin hôm thứ Sáu 26 tháng Tư, thông tấn xã Công Giáo Catholic News Agency tường thuật rằng một cuộc tranh luận sôi nổi đã diễn ra trên các phương tiện truyền thông tại Pháp sau khi tờ Le Canard Enchaine của Paris đưa tin rằng cảnh sát đã tìm thấy 7 mẩu thuốc lá trong ngôi nhà thờ bị cháy, và các nguồn tin thân cận với cuộc điều tra đã xác nhận báo cáo này.

Phát hiện này đã gây ra các phản ứng mạnh mẽ trong dư luận tại Pháp và đã khiến cho công ty giàn giáo đang làm việc tại nhà thờ chính tòa Đức Bà Paris khi xảy ra vụ hỏa hoạn phải lên tiếng.

Ông Marc Eskenazi, phát ngôn viên của công ty giàn giáo Le Bras nói với các phóng viên rằng các công nhân của công ty có thể đã từng hút thuốc lá trong khi làm việc trên mái nhà của nhà thờ, nhưng thuốc lá không phải là nguyên nhân của vụ cháy.

“Chắc chắn, hút thuốc gây ung thư phổi, bệnh tim, sinh suất thấp, đột quỵ và viêm khớp. Nhưng hút thuốc không thể nào gây ra vụ cháy ngày 15 tháng 4 tại Nhà thờ Đức Bà ở Paris. Chúng tôi lên án nó. Nhưng ngọn lửa bắt đầu bên trong tòa nhà. .. vì vậy đối với công ty Le Bras, đây không phải là một giả thuyết, không phải là một điếu thuốc đã làm cho nhà thờ Đức Bà Paris bốc cháy,” ông Marc Eskenazi nói với Reuters hôm 24 tháng Tư.

Ông cũng bác bỏ 7 mẩu thuốc lá cảnh sát tìm được là của công nhân công ty Le Bras.

“Tôi không biết những mẩu thuốc lá đó ở đâu ra nhưng các mẩu thuốc lá mà sống sót nổi sau trận hỏa hoạn kinh hoàng như thế thì tôi không biết chúng được làm từ chất liệu gì?” ông Marc Eskenazi vặn hỏi ngược lại, và khẳng định không thể tàn thuốc lá có thể đốt được một thanh gỗ.

Công ty Le Bras cũng nói rằng đám cháy không thể xuất phát từ các thang máy đưa lên giàn giáo của mình, và lưu ý rằng hệ thống điện của họ được bảo trì tốt, và thang máy của họ đã được cúp điện vào thời điểm đám cháy bắt đầu vì đã hết ngày làm việc.

Tuy nhiên, các công tố viên Pháp nói rằng họ không loại trừ bất kỳ khả năng nào liên quan đến việc bắt đầu vụ cháy, và họ tiếp tục điều tra tất cả các nguyên nhân có thể.

 

chay_nha_tho_duc_ba_paris_

Vụ hỏa hoạn bắt đầu vào lúc 6g50 chiều ngày thứ Hai Tuần Thánh 15 tháng 4 đã phá hủy mái nhà thờ và ngọn tháp cao đến 91.44m. Những hình ảnh bên ngoài nhà thờ cho thấy một sự tàn phá gần như hoàn toàn sau vụ hỏa hoạn, nhưng thật sự trần nhà thờ bằng đá vòm đã không hề hấn gì và nhiều di tích lịch sử, tôn giáo và nghệ thuật của nhà thờ đã được cứu khỏi ngọn lửa. Các cửa sổ hoa hồng nổi tiếng, các tháp chuông và các quả chuông lớn, cùng với cây đàn đại phong cầm đều còn nguyên vẹn sau vụ cháy. Các vật phẩm tôn giáo quan trọng nhất của nhà thờ như vương miện gai Chúa Kitô, áo choàng vua Louis và Mặt Nhật có Mình Thánh Chúa đã được cứu trong trận hỏa hoạn.

 

ttxvn_chaynhathoducba

Không có ước tính chính thức nào là việc trùng tu nhà thờ sẽ mất bao lâu. Nhưng, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron nói rằng ông muốn thấy việc phục hồi hoàn toàntrong vòng năm năm, các chuyên gia nói rằng khả năng đó có lẽ khó xảy ra.

Gần một tỷ euro đã được cam kết cho nỗ lực phục hồi.

Vietcatholic News