Archive | Uncategorized RSS for this section

Nguồn gốc tháng Hoa kính Đức Mẹ

Tháng Hoa có từ đời nào? Do ai khởi xướng?

Gốc tích:

Vào những thế kỷ đầu, hàng năm, khi tháng Năm về, người Rôma tôn kính sự thức giấc sau mùa Đông dài của thiên nhiên bằng việc tổ chức gọi những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân.

Các tín hữu Công giáo trong các xứ đạo đã thánh hóa tập tục trên khi tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú.

Có nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh”. Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa, đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ. Các thi sĩ cũng như các thánh đua nhau sáng tác những bài hát, bài giảng ca tụng những ngày lễ đó cũng như ca tụng Đức Mẹ.

Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã dâng lên Đức Mẹ những việc tôn kính đặc biệt và lấy hoa trang hoàng tượng Đức Mẹ.

Thánh Philipe đệ Nêri, cũng vào ngày 1 tháng 5, thích tập họp các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Đức Mẹ, để cùng các bông hoa mùa xuân, Ngài dâng cho Đức Mẹ các nhân đức còn ẩn náu trong tâm hồn non trẻ của chúng.

Đầu thế kỷ 17, tại Napoli, nước Ý, trong thánh đường kính thánh Clara của các nữ tu Dòng Phanxicô, tháng Đức Mẹ được cử hành công cộng: Mỗi chiều đều có hát kính Đức Mẹ, ban phép lành Mình Thánh. Từ ngày đó, tháng Đức Mẹ nhanh chóng lan rộng khắp các xứ đạo.

Năm 1654, cha Nadasi, dòng Tên, xuất bản tập sách nhỏ khuyên mời giáo hữu dành riêng mỗi năm một tháng để tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời.

Đầu thế kỷ 19, hết mọi xứ trong Giáo hội đều long trọng kính tháng Đức Mẹ. Các nhà thờ chính có linh mục giảng thuyết, và gần như lấy thời gian sau mùa chay là thời gian chính thức để tôn kính Đức Mẹ. Trong việc này linh mục Chardon đã có nhiều công. Không những ngài làm cho lòng sốt sắng trong tháng Đức Mẹ được phổ biến trong nước Pháp mà còn ở mọi nước Công giáo khác nữa.

Đức Giáo hoàng Piô XII, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa“, cho “việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ“.

Đức Giáo hoàng Phaolô VI, trong Thông điệp Tháng Năm, số 1 viết:

Tháng Năm là Tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ. Đó là dịp để “bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng.

Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt. Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai tòa rất dồi dào của Đức Mẹ.” (Dictionary of Mary, Catholic book Pub. 1985, tr. 236)

Một mẫu chuyện cũ đáng suy nghĩ:

Ở thành Nancêniô trong nước Pháp, có một gia đình trung lưu. Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan. Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình , nhưng chồng cứng lòng mãi. Năm ấy, đầu tháng Hoa kính Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ. Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con. Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ. 

Ngày 15 tháng Sáu năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục. Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa. Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Vianey.

Ngài là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người xem là vị thánh sống. Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Gioan liền bảo:

– Đừng lo cho linh hồn chồng bà. Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?!

– Cha sở nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết. Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.

Nghe xong lời cha Gioan, bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ.

(Sách Tháng Đức Bà, Hiện Tại xuất bản, 1969, trang 10)

Nếu chỉ vì mấy bông hoa mọn dâng kính Đức Mẹ cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy, thử hỏi, những ai trong tháng Năm này tham dự dâng Hoa, rước kiệu, đọc kinh Môi côi, hơn nữa, họ dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hi sinh, đau khổ, bệnh nạn… chắc sẽ còn được Đức Mẹ ban muôn ơn trọng hơn nữa. Vì Mẹ thích những bông hoa Xanh của Lòng Cậy, hoa Đỏ của Lòng Mến, hoa Trắng của lòng Trong Sạch, hoa Tím của Hãm Mình, hoa Vàng của Niềm Tin, hoa Hồng của kinh Kính mừng.

Thánh Anphongsô Ligori quả quyết rằng: “Nếu tôi thật lòng yêu mến Mẹ, thì tôi chắc chắn được lên thiên đàng”.

Thánh Bênađô thì diễn tả văn vẻ hơn: “Được Mẹ dẫn dắt, bạn sẽ không ngã. Được Mẹ che chở, bạn sẽ không sợ. Được Mẹ hướng dẫn, bạn sẽ an lòng. Được Mẹ ban ơn, bạn sẽ đạt đích mong chờ”.

Nguồn: Tổng Giáo Phận Sài Gòn

M. Quỳnh Ngọc

Người nước ngoài tại Sài Gòn đón lễ Phục sinh

Ngày 17-4, mừng Chúa phục sinh, các nhà thờ, giáo điểm trên địa bàn TP.HCM tổ chức thánh lễ với sự tham gia của đông đảo người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại TP.HCM, như sự hồi sinh sau đại dịch.

Theo linh mục Giuse Đào Nguyên Vũ – đại diện giám mục đặc trách ngoại kiều, Tổng giáo phận TP.HCM, Phục sinh là đại lễ lớn nhất trong năm đối với người Công giáo. Chính vì vậy, dịp này, giáo dân trong và ngoài nước đều tham gia thánh lễ.

Thống kê chưa đầy đủ dựa trên số người thường xuyên đi lễ, tại TP.HCM, cộng đoàn tiếng Anh (tức người nói tiếng Anh ở các nước trên thế giới) trên 2.000 người, cộng đoàn tiếng Hàn có khoảng 700 người, cộng đoàn tiếng Pháp hơn 100 người và cộng đoàn tiếng Nhật tầm 30 người.

Thánh lễ diễn ra tại nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn sáng 17-4 có gần 1.000 người cộng đoàn tiếng Anh tham dự. Trước đó, tối 16-4 có khoảng 300 người dự thánh lễ.

Trưa 17-4, tại nhà thờ Huyện Sĩ có khoảng 300 người cộng đoàn tiếng Hàn tham dự thánh lễ, hôm 16-4 có hơn 100 người.

“Trước đây, khi dịch bệnh bùng phát, nhà thờ đóng cửa. Vì hoàn cảnh gia đình, công việc nên nhiều người nước ngoài phải về nước. Còn những người ở lại đi lễ rất ít. Việc đi lễ lại của giáo dân được xem là sự kết nối với phục sinh, là sự sống mới của Chúa, đây là sự hồi sinh. Đối với mỗi người, điều này cũng rất quan trọng” – linh mục Giuse Đào Nguyên Vũ cho biết.

TP.HCM hiện có 203 nhà thờ, 15 giáo điểm (nhóm sinh hoạt tôn giáo chưa lên nhà thờ).

Thông qua các hoạt động trong tuần thánh, đức cha Giuse Nguyễn Năng – tổng giám mục, Tổng giáo phận TP.HCM – mong muốn mọi người thấy được giá trị về yêu thương, chia sẻ của người Công giáo trong suốt đại dịch vừa qua và tiếp tục phát huy trong thời gian tới.

Người nước ngoài tại TP.HCM đón lễ Phục sinh - Ảnh 2.

Linh mục Giuse Đào Nguyên Vũ gửi lời bình an đến cộng đồng người Hàn Quốc dự thánh lễ tại nhà thờ Huyện Sĩ, quận 1 – Ảnh: PHƯƠNG NAM

Người nước ngoài tại TP.HCM đón lễ Phục sinh - Ảnh 3.

Giáo dân đi dự thánh lễ ở nhà thờ Huyện Sĩ, quận 1, TP.HCM – Ảnh: PHƯƠNG NAM

Cộng đoàn tiếng Anh có thể tham gia thánh lễ tại nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn (quận 1), nhà thờ Ba Chuông (quận Phú Nhuận).

Cộng đoàn tiếng Pháp có thể đi lễ tại nhà thờ Mai Khôi (quận 3).

Cộng đoàn tiếng Hàn đi nhà thờ Huyện Sĩ (quận 1).

Đặc biệt tại Trung tâm mục vụ tổng giáo phận Sài Gòn (quận 1) có lễ thánh dành cho cộng đoàn tiếng Anh, Hàn, Nhật.

tuoitre.vn

Cùng Chúa bước vào Tuần Thánh

Lễ Lá có một khởi đầu vui nhưng lại có một kết cục buồn. Khởi đầu Chúa Giêsu long trọng vào thành Giêsusalem. Kết cục, Chúa Giêsu chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá. Con đường vào thành của Người là con đường vinh quang vương giả. Nhưng con đường lên Núi Sọ lại là con đường của kẻ tội đồ.

Thánh lễ hôm nay cũng họa lại hai hình ảnh trái ngược trong một tuần thương khó. Khung cảnh ban đầu là đoàn rước thật long trọng, hồ hởi với đàn hát, với trải lá lót đường …; Khung cảnh sau là phiên tòa kết án, với lời thóa mạ, với đòn roi, với án tử. Xuyên suốt hai khung cảnh ấy là hình ảnh Chúa Giêsu luôn bình tĩnh trước mọi biến cố. Dường như Ngài đã không tìm cách lẩn trốn trước những gì đang diễn ra. Ngài bình thản đi vào tuần thương khó mà Thánh Kinh bảo rằng: “để mọi sự được nên trọn”.

Trước hết Chúa nhật Lễ Lá là việc tưởng niệm cuộc vào thành Giêrusalem cách long trọng.Biến cố này cho chúng ta thấy giờ của Ngài đã đến. Ngài sẽ phải bước vào cái chết để đem lại ơn cứu độ và sự phục sinh, như hạt lúa mì cần phải mục nát đi thì mới nẩy mầm và kết trái. Trước đó, nhiều lần những người Do Thái chống đối lập mưu giết hại Ngài, nhưng giờ Ngài chưa đến, đồng thời nhiều lần dân chúng định tôn Ngài lên làm vua, nhưng giờ Ngài cũng chưa đến. Còn lúc này giờ ấy đã đến và đã đến thật rồi.

Tiếp đến, với Chúa nhật Lễ Lá, chúng ta tôn kính Đức Kitô là Vua.Đây là lần đầu tiên trong suốt cuộc đời trần thế, Ngài đồng ý để dâng chúng tung hô vạn tuế Ngài là Vua: Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Và cũng chính vì phong cách vương đế này mà Ngài đã bị kết án tử hình. Bản án của Ngài được viết bằng ba thứ tiếng: Do Thái, Latinh và Hy Lạp: Giêsu Nagiarét, vua dân Do Thái. Chính Ngài đã xác quyết trước toà án Philatô: Tôi sinh ra và đến trong thế gian là để làm chứng cho sự thật. Ai tôn trọng sự thật thì nghe tiếng tôi. Sở dĩ như vậy vì vương quốc của Ngài là vương quốc của yêu thương và an bình, vương quôc của sự sống và chân lý.

Sau cùng, Chúa nhật Lễ Lá nhắc cho chúng ta biết về giá trị của những đau khổ.Thực vậy, sống trên đời là phải đối đầu với khổ đau, bởi vì Lễ Lá dẫn đưa chúng ta vào cuộc thương khó của Chúa, chuẩn bị chúng ta chiêm ngắm cái chết đau thương của Ngài trên đỉnh Canvê. Khi chấp nhận vác thập giá mình mà bước theo Chúa, chúng ta cũng chia sẻ gánh nặng của Ngài. Thế nhưng điều quan trọng không phải là vác đi trong than khóc, mà vác đi trong hy vọng. Bởi vì với Chúa Giêsu, thập giá và phục sinh không thể tách lìa nhau. Với Chúa Giêsu, đau khổ và sự chết không đẩy con người vào ngõ cụt, mà trái lại đem con người tiến bước trên con đường dẫn tới ngày phục sinh.

Điều nghịch lý của Lễ Lá, đó là vị vua của chúng ta đang tiến lên, vị vua đã bênh vực nhân vị, đã xoa dịu mọi đau khổ thể xác cũng như tinh thần của con người, thế nhưng chính vị vua ấy lại thu tích tất cả những đau khổ thể xác cũng như tinh thần của con người vào trong chính bản thân của mình để chết đi một lần thay cho tất cả và đã mở ra cánh cửa vào cõi phúc trường sinh. Và đó cũng chính là niềm hy vọng của chúng ta, bởi vì đau thương là đường lên ánh sáng, gian khổ là đường về vinh quang và thập giá là đường dẫn tới sự phục sinh.

Tình yêu thương của Người là làn ánh sáng xé tan bóng đêm thù hận, chiếu soi cả những người ghét ghen. Tình yêu thương của Người giống như loài gỗ quý nhuốm cả hương thơm vào lưỡi búa đã đốn ngã nó. Tình yêu của Người như đoá hoa sen. Bùn lầy có dậy lên cũng không nhiễm được vào đoá hoa tinh khiết thánh thiện. Tình yêu của Người là tình yêu nguyên tuyền không vẩn một chút oán hờn giận ghét, vượt lên trên tất cả những hận thù, nhỏ nhen, hèn nhát, phản bội. Giữa những hung hãn tàn bạo, Người vẫn yêu thương. Giữa những phản bội, Người vẫn tha thứ. Tình yêu của Người đã thắng.

Rước lá đi theo Chúa Giêsu trong vài giờ không phải là một điều khó khăn lắm. Đi theo Chúa giữa lúc Ngài được tung hô chúc tụng là điều dễ dàng. Nhưng tiếp tục đi theo Ngài khi Ngài đã bị mọi người bỏ rơi và lên án, điều đó khó hơn nhiều. Tin Mừng không thấy nói đến một ai dám lên tiếng bênh vực cho Chúa Giêsu vào lúc đó, mà chỉ thấy lên tiếng đòi phóng thích cho tên đạo tặc Baraba. Nếu Kitô hữu được định nghĩa là người đi theo Chúa Giêsu, thì chắc chắn chúng ta sẽ có lúc nghiệm thấy nỗi khó khăn khi phải đến nơi mà mình không muốn đến. Còn đường bước theo Chúa có lúc vui, lúc buồn. Chúng ta phải có mặt ở trong đám đông hoan hô Chúa khi vào thành đô Giêrusalem và cũng không được vắng mặt khi Ngài hấp hối trên thập giá.

Trong những ngày thánh này, chúng ta phải tìm thời giờ đọc lại chậm rãi cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Hãy để cho tâm tình, lời nói và hành động của Chúa Giêsu thấm nhuần và biến đổi chúng ta. Trong cuộc khổ nạn của Chúa, chúng ta bắt gặp rất nhiều tình huống tăm tối của đời thường: vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết… Nhưng trên hết, chúng ta bắt gặp một tình yêu. Tình yêu vô cùng lớn của Đức Giêsu đối với Chúa Cha và nhân loại. Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ.

Bề ngoài, cuộc tiến vào thành Giêrusalem giữa tiếng tung hô của đám đông dân chúng nô nức phất cao cành lá: “Hoan hô Con Vua Đavit” có vẻ là một cuộc toàn thắng vang dội. Nhưng thực ra, đây là một cuộc mở màn Thương Khó mỉa mai nhất và có lẽ cũng là giai đoạn bi thương nhất của cuộc Thương Khó. Bởi vì Chúa biết rõ rằng trong niềm phấn khởi chóng qua của dân chúng, đã chất chứa một sức phản bội sẽ bùng nổ dữ trước mặt Tổng trấn Philatô trong tiếng kêu gào với những bàn tay nắm chặt đưa lên: “Đả đảo! Đóng đinh nó vào Thập giá!”

Xin Chúa giúp chúng ta bước vào tuần thương khó với tâm tình sám hối ăn năn, vì có những lần chúng ta cũng thay lòng đổi dạ để kết án Người, cũng có những lần chúng ta bỏ rơi Ngài. Nhưng điều quan yếu là chúng ta hãy luôn nhận ra tình yêu của Chúa để biết tri ân tình yêu cao vời mà Chúa đã dành cho chúng ta. Xin cho chúng ta đừng bao giờ phụ bạc ân tình mà Chúa vẫn dành cho chúng ta.

Lm. Anmai, CSsR

Tại sao gọi là Tuần Thương Khó?

Chúa nhật lễ lá, bắt đầu Tuần thánh. Lịch Phụng vụ cũng ghi là Chúa nhật tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. Trước đây, mùa thương khó bắt đầu hai tuần trước lễ Chúa Phục sinh, tại sao bây giờ rút còn một tuần?

Trước cuộc cải tổ lịch phụng vụ năm 1969, thì mùa thương khó bắt đầu từ Chúa nhật thứ năm mùa chay, và như vậy kéo dài hai tuần. Mùa thương khó gây một ấn tượng khá lớn cho các tín hữu. Tất cả các tượng ảnh trong nhà thờ đều bị phủ bởi màn tím cho đến lễ Vọng Phục sinh. Nhiều nhà thờ còn căng một bức màn lớn che khuất tất cả gian thánh. Có người giải thích là Chúa Giêsu đi trốn, bởi vì dựa trên bài Phúc âm thuật lại việc Chúa lánh mình khi dân chúng mưu toan ném đá Người. Thế nhưng với cuộc canh tân sau công đồng Vaticanô II, thì lịch phụng vụ không còn nói đến mùa thương khó nữa, mà chỉ còn Mùa Chay kéo dài cho tới lễ Phục sinh. Tuần lễ trước Phục sinh không phải là tuần Thương khó, nhưng từ ngữ “tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa” chỉ còn được gắn cho hai ngày: Chúa nhật lễ lá (Dominica in Palmis de Passione Domini) và thứ sáu tuần thánh (Feria VI in passione Domini). Vào hai dịp đó, phụng vụ đọc bài Thương khó: ngày Chúa nhật thì dựa theo Phúc âm nhất lãm thay đổi tùy theo chu kỳ ABC; còn ngày thứ Sáu thì luôn luôn đọc Phúc âm theo thánh Gioan.

Tại sao cuộc cải tổ phụng vụ lại bỏ mùa Thương khó?
 

Thực ra thì không phải là bỏ, nhưng mà muốn trở lại với truyền thống cổ xưa thôi. Từ thời xưa, các Kitô hữu dành 40 ngày để chuẩn bị mừng Lễ Chúa Phục sinh. Vì thế thời gian đó được gọi là Mùa 40 (trong tiếng La-tinh là Quadragesima), chứ không phải là mùa thương khó. Trong thời gian này, các dự tòng được chuẩn bị qua chương trình huấn giáo sâu đậm để lãnh các bí tích khai tâm. Còn những người đã được rửa tội rồi thì được mời gọi xét mình về cuộc sống đức tin, xem mình đã trung thành thế nào đối với lời cam kết. Dĩ nhiên, đây cũng là thời gian để thực hành công cuộc cải hoán, qua việc cầu nguyện, hãm mình, bác ái. Vào thời Trung cổ, khi mà con số dự tòng không còn đáng kể nữa, thì công cuộc huấn giáo cũng bớt phần quan trọng. Từ đó, người ta chuyển sang việc suy gẫm cuộc Thương khó của Chúa.

Thương khó là gì?

Chúng ta có thể khảo sát ý nghĩa của từ này theo tiếng Hán Việt cũng như theo nguyên gốc La-tinh. “Thương” ở đây không có nghĩa là “yêu”, nhưng có nghĩa là “đau xót, đau đớn xót xa”, chẳng hạn như khi nói “thương tâm, đau thương, thảm thương, sầu thương”. Còn “khó” không phải trái nghịch với dễ; nhưng “khó” ở đây có nghĩa là “khổ”, chẳng hạn như “khốn khó, khốn khổ”. Nói tóm lại “thương khó” cũng tương tự như là “đau khổ”. Trên thực tế, nhiều bản dịch Việt ngữ dùng những từ “Tử nạn, Khổ nạn, Chịu nạn, Chịu khổ hình”. Đó là nói đến từ ngữ Hán Việt. Đến khi bước sang nguyên bản La-tinh, ta sẽ còn thấy nhiều ý nghĩa khác nữa. Từ “thương khó” dùng để dịch từ “passio” trong tiếng La-tinh (sang tiếng Pháp và tiếng Anh thì thêm chữ “n”: passion). Thế nhưng từ passio có tới ít là bốn nghĩa.

1/ Thường thì người ta giải thích rằng passio bởi động từ “patior, pati” (có nghĩa: chịu đau khổ).

2/ Một ý kiến khác hiểu tiếng passio theo nghĩa triết học, tức là “thụ động” (bị động), nhận hành động từ một chủ động khác. Như vậy “passio” đối ngược với “actio”.

3/ Một ý kiến thứ ba cho rằng passio bắt nguồn từ pathos trong tiếng Hy-lạp, và như vậy có nghĩa là cảm xúc, xúc động. Cũng theo chiều hướng đó, mà trong tâm lý học, passio thường được dịch là “đam mê, say mê, mê man”.

4/ Sau cùng, có người tán giải passio (passus) theo nghĩa là đi ngang qua, để nói đến cuộc vượt qua của Đức Giêsu: người trải qua sự khổ và cái chết để tiến vào vinh quang Phục sinh.

Trong 4 nghĩa vừa nói, nghĩa nào đúng hơn cả?

Trong bối cảnh của phụng vụ, thì nghĩa thứ nhất sát hơn nữa: passio có nghĩa là chịu đau khổ. Nói một cách cụ thể hơn, trong buổi cử hành phụng vụ, Hội thánh đọc lại các bài trình thuật Phúc âm thuật lại cuộc “khổ nạn” của Chúa Giêsu, từ lúc dùng bữa tiệc Vượt qua với các môn đệ (hoặc là từ khi vào Vườn Cây dầu, theo thánh Gioan), rồi bị bắt, bị xử án, bị đánh đòn, vác thánh giá lên núi Calvariô, nơi chịu tử hình. Chúng ta có thể đọc trình thuật này trong Phúc âm theo thánh Marcô chương.14-15; thánh Mattêu chương 26-27; thánh Luca chương 22-23; thánh Gioan chương 18-19. Cũng nên biết, là trong tiếng La-tinh, từ “passio” cũng được áp dụng cho trình thuật kể lại cuộc tử đạo của các Kitô hữu cổ thời.

Phụng vụ chỉ tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa Giêsu qua việc đọc bài Phúc âm nói về cuộc Thương khó của Chúa mà thôi hay sao?

Không chỉ có vậy mà thôi. Lòng đạo đức của các tín hữu còn tìm những hình thức khác để tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa qua các việc đạo đức cũng như qua cuộc sống. Xét về các hình thức đạo đức, thì các sử gia thường trưng dẫn những chứng tích bắt đầu từ thế kỷ IV (khoảng năm 380) bên Thánh địa, do một thiếu nữ tên là Egeria kể lại. Vào Chúa nhật lễ Lá, các tín hữu tại Giêrusalem tụ họp ở núi Cây dầu, rồi từ đó rước lá tiến vào thành thánh. Nhưng nhất là kể từ tối thứ năm tuần thánh trở đi, các tín hữu họp nhau tại một nhà thờ tên là Eleona trên núi Cây dầu để tham dự buổi canh thức đầu tiên, từ 7 giờ tối cho đến 11 giờ. Đến nửa đêm, bắt đầu buổi canh thức thứ hai, tại một nhà thờ gần đó, và nghe đọc bài Sách thánh về cuộc hấp hối của Chúa. Đến sáng thứ 6, thì đám rước di chuyển lên núi Calvariô, để nghe đọc bài tường thuật về cuộc Thương khó và cử hành việc suy tôn Thánh Giá. Và suốt ngày thứ sáu, nhiều cuộc suy gẫm lời Chúa được tổ chức bên cạnh nhà thờ kính nhớ mộ Chúa. Có thể nói được là từ đó trở đi, các tín hữu tìm cách diễn lại cảnh thương khó của Chúa theo gương các tín hữu Giêrusalem, không những là vào ngày thứ năm thứ sáu tuần thánh, mà còn kéo dài quanh năm nữa. Một hình thức khá quen thuộc đối với các tín hữu Việt Nam là ngắm 14 chặng đường thánh giá, đi theo Chúa Giêsu từ lúc bị xử án, rồi vác thập giá lên núi Calvariô, nơi Người chịu đóng đinh, chịu chết và mai táng. Nên biết là hình thức 14 chặng như hiện thời chỉ mới thành cố định từ thế kỷ XVII, chứ trước đây nó linh động hơn, chẳng hạn có nơi tính đến 7 lần ngã xuống đất, hoặc bắt đầu từ vườn Cây dầu, rồi bị bắt, bị điệu qua toà Anna, Caipha, vv.

Ở Việt Nam còn có hình thức ngắm 15 sự thương khó Chúa Giêsu nữa, phải Không?

Có nhiều hình thức để suy gẫm sự thương khó của Chúa. Một hình thức đơn giản hơn cả là suy gẫm 5 dấu thánh: hai dấu nơi bàn tay; hai dấu nơi bàn chân, và một dấu nơi cạnh sườn. Một hình thức nữa là suy gẫm 7 lời của Chúa Giêsu trên thập giá. Hình thức ngắm 15 sự thương khó của Chúa thì dựa trên một căn bản khác. Tại sao lại có 15 ngắm? Tại vì nó hoạ theo giờ kinh Phụng vụ. Trong ba ngày cuối Tuần thánh, tại các đan viện hay nhà thờ chánh toà, người ta cử hành phụng vụ giờ kinh cách long trọng. Ở chính giữa nhà thờ người ta thắp một giá đèn hình tam giác, với 15 ngọn nến. Tại sao 15 ngọn nến? Có người gỉai thích là tượng trưng cho Chúa Giêsu với 12 tông đồ và 2 môn đệ. Sự thực thì 15 ngọn nến tương đương với 9 thánh vịnh giờ kinh Đêm (nay gọi là kinh Sách) và 5 thánh vịnh giờ Kinh sáng, cộng với thánh ca Tin mừng Benedictus. Cứ sau mỗi thánh vịnh thì người ta tắt đi một ngọn đèn. Tại sao vậy? Có người giải thích là nó tượng trưng cho các tông đồ và môn đệ lần lượt rút lui, bỏ Chúa một mình. Nhưng cũng có người giải thích cách đơn giản là đời xưa khi chưa có đèn điện thì tất nhiên là phải thắp nhiều đèn để đọc sách. Tuy nhiên, trời càng lúc càng về sáng tỏ, cho nên có thể tắt bớt dần dần các ngọn nến đi. Cho dù giải thích nguồn gốc lịch sử như thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải khâm phục các vị thừa sai trước đây đã tìm cách để giáo dân tham gia vào phụng vụ Giờ kinh của Giáo hội, dĩ nhiên không phải bằng việc hát các thánh vịnh La-tinh (mà họ chẳng hiểu gì) nhưng qua việc suy gẫm các sự thương khó của Chúa.

Việc tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa chỉ dừng lại ở việc suy gẫm mà thôi hay sao?

Còn nhiều hình thức khác nữa. Một hình thức khá phổ thông bên Âu châu trước đây là diễn tuồng Thương khó, mà Đức Cha Nguyễn bá Tòng cũng đã thích ứng sang tiếng Việt. Nên biết là tuồng Thương khó không phải chỉ diễn ra trên sân khấu, nhưng còn trở thành hoạt cảnh, nhiều khi biến thành một cuộc rước kiệu. Dù là suy niệm bài thương khó dựa theo Phúc âm, dù là đi đàng Thánh giá hay ngắm các sự thương khó, hoặc tham dự tuồng Thương khó, người tín hữu muốn nhớ đến Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì tội chúng ta; từ đó ta muốn tỏ lòng biết ơn bằng cách thông dự vào sứ mạng cứu độ của Người. Thánh Phaolô đã viết rằng tôi muốn chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, muốn hoàn toàn sống cho Đấng đã yêu mến và hiến mạng vì ta (Gal 2,19-20). Thánh Phaolô cũng muốn lãnh nhận mọi đau khổ để góp phần vào cuộc khổ nạn của Chúa hầu giúp ích cho Hội thánh (Col 1,24). Thánh Phêrô tông đồ, trong bài thánh thi đọc vào kinh chiều Chúa nhật mùa Chay, cũng nhắc cho các tín hữu hãy coi cuộc thương khó của Chúa như một gương mẫu để dõi bước theo Người: “bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình” (1Pr 2,23). Thiết tưởng đó là ý nghĩa chính của các việc cử hành cuộc Thương khó của Chúa từ những thế kỷ đầu tiên tại Giêrusalem cho đến chặng đường thánh giá ngày nay: đó là chúng ta muốn đi theo Chúa.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành

Nghiệp quả từ góc nhìn của đức tin Công giáo

Câu hỏi:

Xin lỗi vì con theo Đạo Phật nên không biết nghiệp quả được hiểu như thế nào trong đạo Công Giáo. Làm sao để bớt nghiệp quả theo lối nhìn của Công Giáo?

Trả lời:

Đây là một câu hỏi chạm đến một khác biệt cốt lõi giữa hai tôn giáo lớn. Cần có những nghiên cứu đủ sâu và đủ rộng thì mới có thể trả lời thoả đáng những câu hỏi loại này. Trong khuôn khổ của bài viết ngắn ở đây, chúng ta thử tiếp cận câu hỏi này theo ba bước như sau. Thứ nhất, nên có một hiểu biết sơ lược về thuyết nghiệp quả của nhà Phật, nhận ra cái hay và những giá trị của thuyết ấy. Thứ hai, cần nhìn rộng hơn để thấy nghiệp quả là một thuyết phổ biến, hiện diện hầu như trong khắp mọi nền văn hoá và tôn giáo từ cổ đại cho đến hiện đại. Thứ ba, nhìn xem nội dung của lý thuyết nghiệp quả được hiểu như thế nào trong đạo Công Giáo.

Thuyết nghiệp quả theo nhà Phật

Chữ “nghiệp” (Karma) là một trong những thuật ngữ quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Chữ ấy có thể được hiểu là một hành động có chủ ý trong tư tưởng, lời nói hay việc làm. Khi bạn làm một điều gì đó với đầy đủ chủ ý, bạn gieo một hạt nhân cho đời mình. Hạt nhân ấy chắc chắn sẽ thành cây và sinh quả. Gieo nhân loại nào, bạn sẽ gặt quả loại ấy. Nếu bạn gieo thiện nhân, bạn sẽ gặt thiện quả. Ngược lại, nếu bạn gieo ác nhân hay ác nghiệp, bạn sẽ gặt lại quả báo.

Theo giáo lý nhà Phật, nghiệp quả được hiểu như là một quy luật phổ quát. Không chỉ có tác dụng trong đời người, Luật ấy bao trùm vũ trụ vạn vật. Không chỉ giới hạn trong một đời người, Luật ấy có thể kéo dài từ đời này sang đời khác. Theo thuyết nghiệp quả, có những khổ đau của đời này được giải thích như là quả của những nghiệp ác đã được gieo từ kiếp trước. Cũng vậy, những nghiệp ác mà một người làm ở đời này, có thể người ấy sẽ còn phải trả trong cả kiếp sau.

Như thế, thuyết nghiệp quả dạy rằng cuộc sống của một người sướng hay khổ, vui hay buồn, thành công hay thất bại, thật ra đều phụ thuộc vào chính người ấy. Bạn được cứu rỗi hay trở nên hư mất đều phụ thuộc vào chính bạn, vào chính điều bạn đã làm và nghiệp bạn đã gieo. Sự cứu độ theo thuyết này thật ra là một sự “tự độ”. Mặt khác, thuyết nghiệp quả giả định rằng có một sự công bằng nhất định trong lối vận hành của vũ trụ vạn vật. Thuyết ấy cũng hàm chứa những bài học luân lý quý giá trong việc dạy dỗ con người: người ta phải biết tu thân tích đức và sống tốt để gặp điều thiện lương; ngược lại, người nào sống bất lương và bất chính, chắc chắn đến một lúc nào đó sẽ phải trả giá.

Thuyết nghiệp quả trong các nền văn hoá khác nhau

Không chỉ có trong nhà Phật, thuyết nghiệp quả còn hiện diện trong rất nhiều nền văn hoá và tôn giáo khác nhau. Trong những nền văn minh cổ đại của nhân loại như Ai-cập, Su-mer, A-cát, Ba-by-lon, Do-thái, Trung Hoa… luôn có một niềm tin vào nghiệp quả dựa trên nguyên tắc công bằng, cả ở cấp độ cá nhân lẫn cấp độ xã hội. Gieo nhân nào thì gặt quả đó. Gieo gió ắt gặp bão. Kẻ ác phải bị trừng trị và kẻ lành phải được tưởng thưởng. Một hôn quân vô đạo gieo nhiều nghiệp xấu, trước sau gì cũng phải gặt quả ác và làm cho vương quốc của mình sụp đổ. Một xã hội bất công và thối nát, tất sẽ đến hồi diệt vong. Một kẻ ác, có làm cách gì đi nữa cũng không thoát khỏi Luật trời. “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”. Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng khó lọt.

Trong kho tàng văn hoá Việt Nam, thuyết nghiệp quả được cưu mang trong rất nhiều câu chuyện cổ tích. Cô Tấm hiền lành tốt bụng một đời nên cuối cùng được hạnh phúc. Hai mẹ con nhà Cám gian ác nên kết cục bị trừng phạt đích đáng. Thạch Sanh thiện lương và nghĩa hiệp nên cuối cùng được tưởng thưởng. Lý Thông gian manh xảo quyệt nên kết cục phải bị trời phạt, v.v…

Tóm lại, có thể nói rằng thuyết nghiệp quả dựa vào xác tín căn bản rằng trong đời này không có gì tự sinh ra cũng không có gì tự mất đi. Có một Luật nhân quả chi phối toàn bộ vũ trụ vạn vật và mọi thứ trong cuộc đời. Nhờ có Luật ấy, mọi thứ vận hành theo đúng với lẽ công bằng.

Đạo Công Giáo nhìn về thuyết nghiệp quả

Não trạng bình dân của một người Công Giáo ít nhiều tin vào thuyết nghiệp quả. Chẳng hạn, người ta thường tóm lược Giáo Lý Công Giáo trong lời dạy: làm lành lánh dữ. Làm lành để được hưởng phúc Thiên Đàng, lánh dữ để khỏi phải sa hoả ngục đời đời. Có rất nhiều câu Kinh Thánh dạy dỗ điều này: “Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được sống” (Tv 37,3). Những nhà lập pháp đầu tiên của dân Ít-ra-en khi dạy dân về Luật của Thiên Chúa cũng dựa vào khuôn mẫu vận hành theo kiểu nhân quả: ”Nếu anh em nghe tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em mà đem ra thực hành tất cả những mệnh lệnh của người […] thì Đức Chúa sẽ cho anh em vượt mọi dân tộc trên mặt đất và mọi phúc lành sẽ đến với anh em […]” (Đnl 28,1-14); “Nhưng nếu anh em không nghe tiếng Đức Chúa [….], anh em sẽ bị nguyền rủa” (Đnl 28, 15-68). Thánh Phao-lô thì dạy rằng: “Ai gieo giống nào, thì sẽ gặt giống đó” (Gal 6,7), v.v.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giữa niềm tin Công Giáo và niềm thuyết nghiệp quả có những khác biệt rất tận căn.

Thứ nhất, thuyết nghiệp quả theo nhà Phật là một Luật vận hành tuyệt đối. Không điều gì có thể thoát ra ngoài Luật ấy. Theo thuyết nghiệp quả của nhà Phật, không nhất thiết phải tin có một Đấng Tuyệt Đối nào. Trong khi đó, với niềm tin Công Giáo, điều tuyệt đối không phải là một Luật, nhưng là một Đấng làm chủ mọi Luật. Niềm tin Công Giáo không chỉ dạy người ta làm lành lánh dữ vì giá trị tuyệt đối của Luật nhân quả, nhưng là để xây dựng một tương quan cá nhân thiết thân và bền chặt giữa mình với Đấng Tuyệt Đối là Thiên Chúa của mình.

Mặt khác, niềm tin Công Giáo dạy rằng con người chỉ có một cuộc đời làm người để sống. Một người sống cuộc đời duy nhất của mình thế nào sẽ quyết định vận mệnh đời đời của người ấy. Nhưng sự quyết định này không nhất thiết hoàn toàn tuân theo Luật nghiệp quả. Trong hành trình cuộc đời của của mỗi con người, Thiên Chúa có một phương pháp sư phạm để dạy con người lớn lên. Sự lớn lên ấy có khi phải ngang qua những vấp ngã và thất bại, ngang qua những lỗi lầm và sai trái. Nhưng niềm tin Công Giáo dạy rằng nếu Thiên Chúa đối xử với con người theo luật nghiệp quả, khó một ai có thể đứng vững và được cứu thoát. “Ôi lại Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130,3). Không một con người nào thật sự có khả năng tự cứu mình, bởi có những yếu đuối bất khả vượt qua của thân phận con người. Thánh Phaolô, một vị tông đồ lừng danh về sự mạnh mẽ đã từng phải thốt lên: “Tôi không hiểu mình nữa, điều tốt tôi muốn thì tôi không làm. Điều xấu tôi không muốn tôi lại cứ làm” (Rm 7,15). Như thế, tự nền tảng, niềm tin Công Giáo dạy rằng mỗi người không phải và không thể là đấng cứu độ của riêng mình. Ai cũng cần một Đấng giải thoát, cần một trợ lực từ bên ngoài. Để được cứu, ai cũng cần đến sự đỡ nâng, cần tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Điều này khác biệt hoàn toàn với quan niệm “tự độ” của nhà Phật.

Hơn nữa, trong khi thuyết nghiệp quả của nhà Phật đề cao tuyệt đối trách nhiệm cá nhân và quan niệm rằng một người được cứu hay bị hư mất hoàn toàn phụ thuộc vào chính người ấy, đức tin Công Giáo dạy về sự liên đới và giá trị của chiều kích cộng đoàn đối với ơn cứu độ của từng cá nhân. Sự liên đới trong niềm tin là một giá trị đẹp của người Công Giáo. Đấy là lý do tại sao trong Giáo Hội Công Giáo thường có những buổi cầu nguyện cho những người đã qua đời, cầu nguyện cho những người đang gặp khó khăn hoạn nạn. Những lời cầu nguyện mà một người Công Giáo dâng lên Thiên Chúa thường không chỉ là cho riêng mình, nhưng cho rất nhiều người khác. Niềm tin nền tảng của việc thực hành ấy là thế này: người Công Giáo tin rằng Thiên Chúa có thể cứu rỗi một người nhờ vào lời khẩn nguyện của những người khác. Một người có thể được nâng đỡ và được cứu rỗi nhờ vào lời khẩn nguyện của cả cộng đoàn.

Quan trọng hơn hết đối với một người Công Giáo là những giáo huấn và gương sống cuộc đời của Đức Giê-su. Xuyên suốt các trang Tin Mừng, có thể thấy Đức Giê-su không cho rằng vận mệnh của một con người tuyệt đối bị khuôn định bởi Luật nhân quả. Ngài không dạy rằng một người đã gieo nhân nào thì đương nhiên sẽ nhận quả ấy. Đối tượng quan trọng mà Đức Giê-su chọn trong suốt cuộc đời rao giảng của mình là những người tội lỗi. Ấy là những người đã gieo nhân xấu trong đời mình. Ngài không rao giảng rằng họ sẽ phải nhận quả xấu. Ngài mời họ hoán cải, thay đổi đời sống để được cứu. Với Đức Giê-su, bất cứ một tội nhân nào cũng có một tương lai phía trước nếu họ biết từ bỏ đường tội lỗi, thay đổi cuộc đời để sống tốt và để làm người tốt. Có nhiều câu chuyện và dụ ngôn có thể minh hoạ rất tốt điều này.

Người ta bắt quả tang một người phạm tội ngoại tình (Ga 8,1-11). Chị đã gieo một nghiệp xấu trong đời mình là hành vi ngoại tình. Theo đúng lẽ đúng luật, chị phải gặt quả xấu là bị ném đá cho đến chết. Đức Giê-su không đi theo con đường đó. Nếu cứ phạm tội thì phải bị trừng phạt, liệu có một ai thoát khỏi án phạt không? Chuyện kể rằng khi Đức Giê-su đặt lại câu hỏi cho những kẻ chất vấn: “ai trong các ông không phạm tội, thì hãy ném đá người này trước đi” (Ga 8,7), những người kết án chị phụ nữ lần lượt bỏ đi, từ người lớn tuổi nhất. Câu chuyện Tin Mừng ấy dạy rằng ai cũng từng phạm tội. Ai cũng là kẻ có tội. Ai cũng từng ít nhiều gieo nhân xấu trong đời mình. Nếu cứ máy móc áp dụng theo luật nhân quả, liệu có ai là người sống sót được chăng? Liệu có ai đáng được cứu được chăng? Liệu có ai tự cứu mình được chăng? Càng thật lòng nhìn lại chính mình và thân phận làm người của mình, người ta càng có cơ hội nhận ra rằng mình cần đến lòng thương xót. Ai cũng cần đến sự tha thứ để có thể làm lại cuộc đời.

Đức Giê-su nhiều lần kể chuyện về lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa trong lời dạy của Đức Giê-su luôn là một người cha có trái tim nhân từ. Với người cha ấy, có khi chính đứa con hư hỏng và gieo nhiều ác nghiệp nhất lại là đứa con được quan tâm và lo lắng nhiều nhất. Có khi Thiên Chúa sẵn sàng đầu tư nhiều tâm huyết và kiên nhẫn nhất cho những con người bị coi là bất xứng nhất. Một thí dụ điển hình là dụ ngôn về đứa con hoang đàng (Lc 15,11-35). Đứa con ấy bỏ nhà cha của mình, thu gom hết của cải, ăn chơi phung phí cho đến khi tán gia bại sản thì mới quay trở về. Anh là người đã gieo nhân xấu. Lẽ ra quả mà anh gặt phải là bị kết án, bị ruồng bỏ, bị khinh miệt xa lánh. Nhưng không. Người Cha đón nhận anh bằng rất nhiều yêu thương và ưu đãi. Không phải vì anh ta xứng đáng. Chỉ đơn giản vì tình yêu của người Cha dành cho con mình luôn là như vậy. Anh có ra hư hỏng thế nào đi nữa, có gieo quả xấu thế nào đi nữa, cũng chẳng thể làm mai một tình yêu vô bờ mà người Cha dành cho anh. Tình yêu ấy vượt trên lẽ công bằng, vượt ra ngoài vòng khuôn định nhân quả. Tình yêu ấy không màng đến chuyện xứng đáng hay không xứng đáng. Chỉ đơn giản anh là người được yêu. Vì được yêu nên anh được tha thứ. Thiên Chúa không dùng luật nhân quả để phân loại và phán xử con người. Ngài dùng sự thương xót và tha thứ để cảm hoá lòng người, để mở ra một con đường mới cho con người có thể làm lại cuộc đời.

Như thế, niềm tin Công Giáo xác tín rằng trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa, có những khung tiêu chuẩn khác quan trọng hơn và lý tưởng hơn là khung tiêu chuẩn công bằng theo kiểu nghiệp quả. Ấy là giá trị của tình yêu, của lòng thương xót và của sự tha thứ. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người không dựa trên bất cứ một quy luật nhân quả nào. Tình yêu của Thiên Chúa không phải là cái quả mà con người gặt được nhờ đã gieo nhân tốt. Thiên Chúa yêu thương con người không phải vì con người xứng đáng, không phải vì con người giỏi giang và đẹp đẽ, không phải như một cách để thưởng công cho con người. Chính tình yêu làm cho con người hoán cải để trở nên tốt hơn mỗi ngày, chứ không phải nhờ con người đã tốt nên con người mới được Thiên Chúa yêu thương. Trong tương quan tình yêu giữa Thiên Chúa và con người, chính Thiên Chúa là người đi bước trước, bất kể sự bất toàn bất xứng của con người. Cả khi con người bất trung và lầm lỗi, tình yêu mà Thiên Chúa đặt vào con người vẫn là không hề thay đổi. Đây là khác biệt tận căn giữa thuyết nghiệp quả và niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa.

Như thế, làm sao để giảm bớt “nghiệp quả”?

Khi nói về tình yêu nhưng không và vô điều kiện của Thiên Chúa, luôn có nguy cơ người ta sẽ lý luận kiểu này: được Chúa yêu như vậy, con người muốn làm trời làm đất gì thì làm, còn phải sợ gì nữa! Người chọn “làm trời làm đất” khi nhận ra mình được yêu thật ra là người không có trái tim. Người đó không biết trân trọng tình yêu được đặt vào đời mình. Người đó trước sau gì cũng tự mình làm mất tình yêu mà mình đang được hưởng nếm, và tự đánh mất chính mình. Vậy nên vẫn có trường hợp có những người được Thiên Chúa yêu thương vô cùng, nhưng cuối cùng vẫn ra hư mất. Người ấy phải gánh quả ác từ những cái nhân xấu mà mình đã gieo, nếu giải thích theo lối hiểu nhà Phật. Đơn giản, bởi vì người ấy tự do nhưng lại không muốn dùng tự do của mình để chọn con đường tốt mà chính Thiên Chúa đã mở ra cho mình.

Nhận ra tình yêu Thiên Chúa và cộng tác với tình yêu ấy là cách tốt nhất để “giảm bớt nghiệp quả”. Chính tình yêu Thiên Chúa luôn có khả năng gột sạch những “nghiệp” xấu mà con người đã gieo trong đời mình và mở ra cho con người con đường sống mới. Bước đi trong hành trình đức tin mỗi ngày, người Công Giáo học cách nhận ra mình là người được yêu. Học cách sống xứng đáng với tình yêu đặt vào đời mình, để cho tình yêu ấy trở thành đảm bảo và thành nguồn động lực giúp mình trở nên tốt hơn mỗi ngày.

Tóm lại, người Công Giáo đặt niềm tin tuyệt đối vào tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu ấy vượt lên trên mọi khuôn định của thuyết nghiệp quả.

https://hdgmvietnam.com/

Vietcatholicnews: Vẻ vang dân Việt, Đức Cha Kevin Vann bổ nhiệm cha Thái Quốc Bảo là “tân” Rector nhà thờ Chính Tòa Chúa Kitô, giáo phận Orange, California

Garden Grove, Cali (22/2/2022) – Đức Cha Kevin Vann bổ nhiệm cha Thái Quốc Bảo, hiện đang là Linh mục chính xứ nhà thờ Thánh Cecilia, ở thành phố Tustin, sẽ kế nhiệm cha Christopher Smith để là Linh mục Rector nhà thờ Chính Tòa Chúa Kitô. Nhà thờ Chính Tòa là ngôi nhà tâm linh của Đức Giám Mục giáo phận Orange và là trung tâm thờ phượng Công Giáo tầm cỡ quan trọng thuộc miền Tây Hoa Kỳ.

Cha Smith sẽ nghỉ hưu bắt đầu từ ngày1/7/2022 sau khi ngài tròn 70 tuổi. Ngài sẽ hoàn tất nhiệm kỳ 10 năm vừa làm Linh mục Đại diện Đức cha vừa làm Linh mục Rector nhà thờ Chính Tòa. Nhà thờ Chính Tòa được thánh hiến vào năm 2019, sau khi Giáo phận Công giáo Orange đã mua lại tất cả các cơ sở vật chất trong khuôn viên Chính Tòa này vào năm 2012 từ vị cố mục sư khả ái Robert H. Schuller, người lãnh đạo mục vụ Crystal Cathedral.

Dưới sự lãnh đạo của cha Smith từ năm 2012, nhà thờ Chính Tòa ngày nay, trước đây từng được biết đến với tên gọi là Nhà thờ Kiếng, đã được cập nhật hoàn thiện toàn bộ đúng theo nhu cầu lễ nghi Công giáo giáo phận Orange, bao gồm các sắc tộc khác nhau như những người giáo dân Mỹ, Châu Mỹ La Tinh, Phi Luật Tân, Samoan, Hàn Quốc và người Việt chúng ta.

Cha Smith xuất thân là một trong những thầy chủng sinh thuộc khóa đầu tiên của giáo phận Orange, thụ phong linh mục ngày 3/6/1978. Kể từ ngày 1/7/2022 tới đây, cha Smith sẽ nghỉ hưu với tên gọi mời là “nguyên” Rector nhà thờ Chính Tòa và sẽ tiếp tục thực hiện các dự án đặc biệt của giáo phận như bao gồm việc xây dựng nhà nguyện Thánh Calistus và Hầm Mộ. Đây là gian bên dưới nhà thờ Chính Tòa. Khi bàn giao lại tất cả những trách nhiệm về quản lý các cơ sở của nhà thờ Chính Tòa và những công tác mục vụ của một giáo xứ chính tòa rộng lớn, cha Smith nói: “Tôi nhận thấy đây là lúc cần thay đổi.” Ngài nói thêm: “Cuộc đời tôi đã được thay đổi bởi những đức tính nhẫn nại, bao dung và lòng nhiệt thành của các giáo dân và tất cả những người đã góp phần vào cuộc hành trình đức tin này. Cuộc hành trình đức tin này chưa chấm dứt với tôi nhưng đúng hơn là đổi sang hướng khác với mục đích và trách nhiệm mới. Tôi rất biết ơn Đức Cha Vann và tất cả những giáo dân đã quan tâm, tin tưởng và yêu thương tôi suốt 10 năm phục vụ tại nhà thờ Chính Tòa Chúa Kitô.”

Cha Bảo, 51 tuổi, thụ phong linh mục ngày 7/6/2003, nói thông thạo tiếng Việt, tiếng Anh và biết chút tiếng Mễ và tiếng Ý, nói: “Tôi tạ ơn Chúa với sứ vụ mới được tin tưởng trao phó. Tôi rất biết ơn Đức Cha Vann và Hội đồng Tư vấn của ngài đã tin tưởng nơi tôi trong mục vụ mới này.” Đức Cha Vann, Giám mục giáo phận Orange từ năm 2012, nói đây là một hồng ân Chúa ban khi ngài về đây gặp cha Smith. Ngài nhận ra rằng cả hai đều về nhà thờ Chính Tòa chỉ cách nhau vài tháng. Cả hai đều có cùng một sở thích về thánh nhạc, đánh đàn organ và dương cầm.

Đức Cha Vann nói: “Tôi tin tưởng rằng do sự sắp xếp của Thiên Chúa đã dùng tài năng có sẵn của chúng tôi để giúp chúng tôi thực hiện được sự biến đổi lịch sử này. Biến nhà thờ Kiếng thành nhà thờ Chính Tòa Chúa Kitô. Quan trọng hơn cả là chúng tôi đã trở thành hai người bạn tốt với nhau suốt những năm tháng qua, thật là một cuộc hành trình đức tin rất tuyệt vời và làm cho chúng tôi thăng tiến rất nhiều trong đời sống mục vụ và tu trì của đời linh mục.”

Cha Bảo đã từng là cha Phó phục vụ trong giáo phận Orange tại các giáo xứ Thánh San Francisco Solano (2003-2005), Thánh Anthony Claret (2005-2007), nhà thờ Holy Family nguyên Chính Tòa (2009-2012) và giáo xứ Đức Mẹ La Vang (2012-2015). Ngài là cha Quản xứ giáo xứ thánh Cecilia (2015-2017), và là cha Chính xứ giáo xứ thánh Cecilia (2017-2022). Ngài cũng là cha Quản xứ giáo xứ La Purisima trong vòng 6 tháng đầu tiên năm 2020. Cha Bảo còn là thành viên của Hội Đồng Quản Trị cơ quan từ thiện Orange Catholic Foundation của giáo phận Orange, và đã từng phục vụ hai nhiệm kỳ trong Hội Đồng Nhân Sự Linh Mục giáo phận. Ngài cũng làm cha linh hướng cho các tổ chức thiện nguyện Magnificat, Bảo Vệ Sự Sống (Viet Respect Life) và đồng thời cũng là cha tuyên úy cho Hội Hiệp Sĩ Columbus quận Cam. Ngài cũng là thành viên trong ban cố vấn và ban tổ chức ngày Cung Hiến Linh Đài Đức Mẹ La Vang, ngày 17/7/2021 vừa qua tại nhà thờ Chính Tòa. Một Linh Đài ngoài trời rất hiện đại dâng kính Đức Mẹ Maria đã hiện ra với người Công giáo Việt Nam năm 1798 tại La Vang, Quảng Trị.

Đức Cha Vann ghi nhận ngài đã có một thời gian đáng ghi nhớ tại giáo xứ Thánh Cecilia với cha Bảo mấy năm trước (khi ngài đang tĩnh dưỡng sau một cuộc giải phẫu). Ngài nói: “Thời gian tôi lưu lại đó không những cho tôi biết rõ về cha Bảo, mà còn thấy tình thương yêu của cha, là một cha xứ, dành cho giáo dân của mình. Trước tiên là tôi thấy khả năng làm việc của cha Bảo với những giáo dân người Việt Nam, người Châu Mỹ La Tinh, và người Mỹ tại giáo xứ Thánh Cecilia, một giáo xứ gồm nhiều sắc tộc như tại giáo xứ nhà thờ Chính Tòa.”

Cha Bảo, sinh ra tại thành phố Sài Gòn, Việt Nam, là người Mỹ gốc Việt thứ tư được làm Linh mục Rector của nhà thờ Chính Tòa ở Hoa Kỳ, theo sau ba vị là: Đức Ông Lê Xuân Thượng, tổng giáo phận Galveston-Houston, Cha Phạm Văn Hanh, giáo phận Corpus Christi và Cha Đồng Minh Quang, giáo phận Oakland. Cha Bảo tốt nghiệp Đại Học Tổng Hợp Sài Gòn (1992) với bằng cử nhân điện toán, cử nhân triết học, Đại chủng viện Mount Angel ở Oregon (1998), thạc sĩ thần học, Đại chủng viện Saint John ở Camarillo, Calif, và cha cũng có thạc sĩ thần học về tâm linh, trường Giáo Hoàng Học Viện Thánh Thomas Aquinas (có tên gọi tắt là trường Angelicium) tại Roma.

Vài nét về Giáo phận Công Giáo Orange: Giáo phận Orange có tới 1 triệu 300 ngàn người Công giáo trong 57 giáo xứ, 5 trung tâm mục vụ và 35 trường học tư Công giáo. Giáo phận còn là một trong 10 giáo phận lớn nhất và có nhiều sắc dân, cộng đồng công giáo nhiều nhất Hoa Kỳ. Giáo phận kết hợp người công giáo khắp quận Cam để có đời sống đức tin sống động hòa nhập vào đời sống thường nhật của cộng đồng và đời sống linh thiêng của Giáo hội. Dưới sự lãnh đạo của Đức Giám mục Giáo phận là Đức Cha Kevin Vann, giáo phận thực hiện các mục vụ nhằm tạo dựng và nâng đỡ những giáo xứ và học đường năng động và đầy sức sống để đón chào tất cả mọi người sống Phúc Âm với một đức tin, niềm vui, lòng bác ái và sự đoàn kết hiệp nhất. Nhà thờ Chính Tòa Chúa Kitô, ngôi nhà tâm linh của Đức Giám Mục giáo phận quận Cam, đã được thánh hiến ngày 17/7/2019, rộng lớn 37 mẫu, gồm: Trung tâm mục vụ Tòa Giám Mục (Pastoral Center), ngôi nhà thờ Chính Tòa (Christ Cathedral), tòa nhà Arboretum, Linh Đài Đức Mẹ La Vang, trung tâm văn hóa (Culture Center), tòa nhà cao tầng (Power of Hope), nghĩa trang, trường học, giáo xứ và các cơ sở khác nữa.

https://communicationsmediarelations.us.newsweaver.com/

15 nhà khoa học Công giáo có những đóng góp đáng kinh ngạc cho thế giới

Khoa học và đức tin có thể xung khắc không? Thông thường, có nhiều người cho rằng hai lãnh vực này mâu thuẫn với nhau. 15 nhân vật dưới đây đã chứng minh người Công giáo có thể là nhà khoa học vĩ đại. Họ không chỉ bảo vệ giáo huấn của Giáo hội, nhưng còn có những đóng góp phi thường cho thế giới.

Roger Bacon (1220–1292)

Là một tu sĩ triết gia người Anh thuộc Dòng Phanxicô, ông rất chú tâm nghiên cứu khoa học tự nhiên thông qua chủ nghĩa duy nghiệm. Trong thời cận đại, Bacon được xem như “pháp sư” dùng khoa học để giải thích các hiện tượng kỳ bí và đặc biệt nổi tiếng với truyền thuyết ông làm ra chiếc đầu cơ khí bằng đồng rất “kỳ diệu” có thể trả lời mọi câu hỏi.

Henri Becquerel (1852–1908)

Ông được trao giải Nobel vật lý năm 1903 cùng với ông bà Marie and Pierre Curie trong công trình khám phá ra hiện tượng phóng xạ.

Roger Boscovich (1711–1787)

Là nhà vật lý, thiên văn, toán học, thi sĩ, nhà ngoại giao, triết-thần học gia và là linh mục Dòng Tên đã có nhiều đóng góp cho thiên văn học.

Nicholas Copernicus (1473–1543)

“Nicolaus Copernicus [tiếng Việt thường gọi là Copernic] đã xác định chính xác Trái đất là một trong những hành tinh xoay quanh Mặt trời. Chỉ có Mặt trăng xoay quanh Trái đất. Copernicus cũng diễn tả thứ tự chính xác của các hành tinh”.

René Descartes (1596–1650)

Cogito ergo sum (Tôi suy tư nên tôi hiện hữu). Ông là triết gia, nhà toán học và nhà khoa học, được coi là cha đẻ của triết học Tây phương hiện đại, phần lớn triết học Tây phương sau này đều là lời đáp trả đối với các tác phẩm của ông.

Thánh Hildegard of Bingen (1098–1179)

“Mặc dù công trình khoa học của bà không được thừa nhận đúng mức trong thế giới hiện đại, Hildegard von Bingen vẫn là ánh sáng dẫn đầu trong giáo dục thời Trung cổ. Nữ tu viện trưởng đa tài này là nhà vật lý, nhà tự nhiên học, nhà soạn nhạc, nhà ngôn ngữ học, triết gia, thi–văn sĩ. Bà cũng là một nhà thần bí trong truyền thống Trung cổ”.

Tiến sĩ Thomas Hilgers (1943 – )

Ông là nhà sáng lập và là Giám đốc của Viện Nghiên cứu Giáo hoàng Phaolô VI về Sinh sản Con người được thành lập năm 1985.

Nữ tu Mary Kenneth Keller (1913–1985)

Bà là một nữ tu, nhà giáo dục và là người tiên phong trong khoa học máy tính. Nữ tu này cũng là phụ nữ đầu tiên có bằng tiến sĩ về khoa học máy tính ở Mỹ và giúp phát triển ngôn ngữ lập trình BASIC.

Georges Lemaître (1894–1966)

Ông là linh mục Công giáo người Bỉ, là nhà thiên văn học và là giáo sư vật lý tại Đại học Công giáo Leuven. Ông được biết đến như là cha đẻ của thuyết Big Bang.

Thánh Albertô Cả (1193–1280)

Ngài được biết đến là người khám phá ra nguyên tố Asen, hơn nữa là Thánh tiến sĩ Hội thánh.

Gregor Mendel (1822–1884)

“Gregor Mendel được biết đến như là ‘cha đẻ của thuyết di truyền hiện đại’, sinh năm 1822 tại Áo. Là một tu sĩ, Mendel khám phá ra nguyên lý căn bản của sự di truyền qua các thí nghiệm trong khu vườn của tu viện”.

Thánh Giuseppe Moscati (1880–1927)

“Xuất thân từ một gia đình quý tộc ở Naples, nước Ý, Giuseppe Moscati dấn thân vào công việc y tế để phục vụ người nghèo. Ông cũng là giáo sư trường y và là người tiên phong trong ngành hóa sinh, mà các nghiên cứu của ông đã đưa đến việc khám phá ra chất Insulin như là phương thuốc chữa bệnh tiểu đường”.

Blaise Pascal (1623–1662)

Là nhà toán học, vật lý, nhà phát minh, nhà văn và nhà thần học Công giáo người Pháp. Ông nổi tiếng vì phát minh ra chiếc máy tính cơ học đầu tiên, đóng góp vào tam giác Pascal và lý thuyết xác suất.

Louis Pasteur (1822–1895)

“Louis Pasteur có ảnh hưởng trên y học. Phương pháp đun sôi chất lỏng để tiêu diệt vi trùng vẫn được sử dụng ngày nay; hầu hết các sản phẩm từ sữa đều được tiệt trùng [động từ pasteurise có nghĩa là tiệt trùng xuất phát từ tên Pasteur của ông]. . . . Sử dụng phương pháp này, ông có thể chứng minh mỗi căn bệnh đều do những loại vi trùng khác nhau gây ra. Ông tìm ra vi trùng gây bệnh lao năm 1882 và bệnh dịch tả năm 1883”.

Nicolas Steno (1638–1686)

Nhà tự nhiên học người Đan Mạch Nicolas Steno đã đưa ra Nguyên tắc chồng chất trong địa lý và định luật Hằng số góc giữa các mặt [cũng gọi là định luật 1 trong tinh thể học]. “Bằng lý luận này, Steno có thể cho thấy hóa thạch và các tinh thể ắt hẳn phải đông đặc lại trước khi nền đá mẹ chứa chúng được hình thành. . . . Đây là đóng góp nổi tiếng nhất của Steno cho địa chất học”. Nicolas Steno cũng là một giám mục Công giáo.

Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ catholic-link.org

Kinh Cầu Cho Các Thai Nhi

Lạy Chúa Giêsu Thai Nhi, chúng con thật lòng yêu mến Chúa. Chúng con nài xin Chúa đoái thương cứu mạng các em bé đang được cưu mang nơi lòng mẹ.

– Xin cho các thai nhi trên thế giới của ngày hôm nay được thoát khỏi đại họa phá thai.

– Xin cho những người mẹ đang mang thai được ơn soi sáng và can đảm để giữ gìn con mình cho đến ngày sinh nở.

– Xin cho những người làm cha, được ơn kính sợ Thiên Chúa để biết lãnh nhận trách nhiệm và tranh đấu cho sự sống của thai nhi.

– Xin cho các bác sĩ được lòng từ bi của Thánh Tâm Chúa để mạnh dạn từ chối, và kịch liệt chống đối việc phá thai. Xin cho các nhà lãnh đạo được ơn đức tin và biết phụng thờ Thiên Chúa, để lập nên những luật pháp bênh vực cho sự sống.

– Xin cho các linh mục của Chúa được ơn hoán cải hằng ngày để sống thánh thiện và sẵn sàng hy sinh tánh mạng cho công cuộc tranh đấu bảo vệ thai nhi.

– Hôm nay, con xin nhận một thai nhi đang trong cơn hiểm nghèo làm con linh hồn của con, nhờ lời chuyển cầu của bà Thánh Gianna Beretta Molla và ông Thánh Giêrađô là Quan thầy của các Thai nhi và các bà mẹ có thai.
 
Xin Chúa dủ lòng thương nhận lời chúng con, và cậy vì Lòng thương xót của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen

Học Hỏi Phúc Âm Chúa Nhật Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa Năm C

1.  Đọc Lc 3, 15-16. Hãy cho thấy ông Gioan là người khiêm nhường. 

·       Ông Gioan Tẩy giả hẳn là người khiêm nhường. Người khiêm nhường không phải là người giả vờ tự hạ mình xuống, nhưng là người vui vẻ nhìn nhận mình thực sự là ai. Khi gặp ông Gioan, mọi người nghĩ trong lòng rằng biết đâu ông này chính là Đấng Kitô mà dân đang mong đợi (Lc 3,15). Chắc Gioan đoán biết họ nghĩ như thế về mình, nên ông đã cho gián tiếp trả lời cho họ trong Luca 3,16. Ông nhắc đến một Đấng khác, quyền thế hơn ông, mạnh hơn ông. Đấng ấy cao trọng hơn ông đến mức ông không đáng làm đầy tớ cúi xuống cởi dây giày cho Ngài. Gioan đang có tiếng tăm lừng lẫy vì ông ban phép rửa sám hối cho nhiều người ở sông Giođan, nhưng ông lại thú nhận rằng phép rửa của ông chỉ là phép rửa trong nước, còn Đấng ấy sẽ ban phép rửa trong Thánh Thần và lửa. Như thế gián tiếp Gioan không nhận mình là Đấng Kitô hay Mêsia. Ông không đánh lừa đám đông và không tìm danh tiếng cho mình.

2.  Ai đã làm phép rửa cho Đức Giêsu? Đức Giêsu có khiêm nhường không khi Ngài cùng với dân chúng đến nhận phép rửa của Gioan Tẩy giả?

·       Khi đọc Lc 3,21 ta không thấy nói rõ ai là người ban phép rửa cho Đức Giêsu. Tuy nhiên, chúng ta có thể biết chắc đó là Gioan Tẩy giả, người đang ban phép rửa cho “toàn dân” ở sông Giođan. Hai sách Tin Mừng Mát-thêu và Mác-cô nói rõ Gioan đã làm phép rửa cho Đức Giêsu (Mt 3,13; Mc 1,9). Đức Giêsu, Đấng mà Gioan coi là cao trọng vượt bậc, bây giờ lại đứng chung với dân để cùng chịu phép rửa trong nước sông Giođan. Đấng mà sứ thần Gabriel gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa, Đấng được thụ thai bởi Thánh Thần, Đấng được quyền năng của Đấng Tối Cao che phủ (Lc 1,35), bây giờ Đấng ấy lại xin chịu phép rửa bày tỏ lòng hối cải để được tha tội (Lc 3,3). Chúng ta không hiểu được tại sao Đức Giêsu lại làm như thế. Khi thấy Ngài đứng cùng với đám đông tội nhân chờ lãnh nhận phép rửa, ta nhận ra việc Ngài muốn liên đới với họ, muốn chia sẻ thân phận tội nhân của họ, dù Ngài biết mình vô tội. Ngài đã sống sự liên đới này suốt đời, cho đến tận thập giá, khi chịu đóng đinh giữa hai tội nhân (Lc 23,33).

3.  Khi nào thì trời mở raTrời mở ra nghĩa là gì?

·       Phép rửa của Gioan gồm nghi thức dìm cả người xuống nước. Khi lên khỏi mặt nước, Đức Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chúa. “Đang khi Ngài cầu nguyện” thì “trời đã mở ra” (Lc 3,21). Trời được coi là nơi Thiên Chúa ngự. Trời mở ra cho thấy sự đáp lại của Thiên Chúa trước lời cầu nguyện của Đức Giêsu. Giữa Thiên Chúa trên trời và Đức Giêsu đứng dưới nước đã có tương quan gặp gỡ nhau.

4. Khi Đức Giêsu chịu phép rửa, có sự hiện diện của những ai?

·       Trời mở ra báo hiệu sự hiện diện linh thánh của Thiên Chúa ở nơi Đức Giêsu đang đứng cầu nguyện sau khi chịu phép rửa. Luca 3,22 cho thấy có hai Đấng thần linh xuất hiện. Trước hết là Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu dưới hình dáng chim bồ câu. Và có tiếng từ trời nói với Ngài rằng: “Con là con yêu dấu của Cha; Cha hài lòng về Con.” Như thế vào lúc này, ở dòng sông này, có cuộc thần hiển của Cha, Con và Thánh Thần. Từ khi được thụ thai đến nay, Cha và Thánh Thần vẫn luôn ở bên Đức Giêsu bằng sự hiện diện âm thầm. Giờ đây, sự hiện diện đó trở nên thấy được (Thánh Thần dưới hình dáng chim bồ câu), và nghe được (tiếng của Cha từ trời).

5. Việc Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu lúc Ngài chịu phép rửa có ý nghĩa gì? Đọc Lc 3,22.

·       Thánh Thần đã ngự xuống trên Đức Giêsu cách hữu hình ở sông Giođan khi Ngài hơn ba mươi tuổi. Với Thánh Thần đó, Đức Giêsu đã bắt đầu sứ vụ của mình ở Galilê (Lc 4,14-15), và tại hội đường Nadarét, Ngài biết mình đã nhận được Thần Khí và đã được Đức Chúa xức dầu (Lc 4,18). Như thế, biến cố Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu khi chịu phép rửa đã khai mạc sứ vụ của Ngài trong tư cách là Đấng Mêsia, Đấng được Thiên Chúa xức dầu (x. Cv 10,38). Nói cách khác, sau khi nhận Thánh Thần lúc chịu phép rửa, Đức Giêsu biết mình phải bỏ mái nhà Nadarét để lên đường đi sứ vụ.

6. Lời nói của Thiên Chúa Cha với Đức Giêsu lúc chịu phép rửa có ý nghĩa gì? Đọc Lc 3,22; Tv 2,7; Is 42,1.

·       Thiên Chúa Cha nói chuyện trực tiếp với Đức Giêsu và gọi Ngài là Con. Trong Thánh vịnh 2,7 Thiên Chúa cũng gọi Đấng được xức dầu, Đấng Mêsia là con: “Con là con của Cha, hôm nay Cha đã sinh ra Con.” Hơn nữa, Ngài là Con yêu dấu, tương tự như Isaac là con yêu dấu của Abraham (St 22,2.12.16, theo bản LXX). “Cha hài lòng về Con” lại gợi cho ta nhớ đến Người Tôi trung chịu đau khổ trong ngôn sứ Isaia. Đây là Người Tôi trung mà Chúa hài lòng (Is 42,1). Như thế, Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Mêsia và là Người Tôi trung của Chúa.

7. Sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa bởi Gioan và cầu nguyện, có những biến cố linh thánh từ trời xảy ra.

Theo ý bạn, những biến cố ấy có nâng đỡ tinh thần Đức Giêsu không?

·       Những gì xảy ra cho Đức Giêsu sau khi chịu phép rửa của Gioan đều đến từ trời (trời mở ra, Thánh Thần từ trên ngự xuống, tiếng Cha từ trời). Đức Giêsu vui vì khi tự hạ xuống hàng tội nhân, thì Ngài lại được Thiên Chúa nâng lên đến tột cùng. Chúa Cha đã âu yếm gọi Ngài là Con yêu dấu, người có tương quan đặc biệt thân thiết với Cha, người mà Cha rất hài lòng. Có thể Cha hài lòng vì Con đã làm đúng ý Cha, khi đứng chung với tội nhân, liên đới với họ để cứu chuộc họ. Con đã giữ thái độ liên đới này suốt đời. Đức Giêsu vui khi nhận được Thánh Thần, dấu hiệu cho thấy Cha tin cậy Ngài và muốn sai Ngài đi sứ vụ.

8. Tin Mừng Luca là Tin Mừng của cầu nguyện. Tìm những đoạn nói đến việc chính Đức Giêsu cầu nguyện trong Tin Mừng Luca. Tìm những chỗ Đức Giêsu dạy cầu nguyện, và tìm những dụ ngôn về cầu nguyện trong Tin Mừng Luca.

·        Trong Tin Mừng Luca, Đức Giêsu cầu nguyện: 3,21; 5,16; 6,12; 9,18.28-29; 11,1; 22,32.40-46; 23,34.46. Đức Giêsu dạy cầu nguyện: 6,28; 11,1-4; 20,47; 22,40.46. Dụ ngôn về cầu nguyện: 11,5-8; 18,1-8.9-14.

Linh Mục Cao Siêu SJ.

Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa – 01/01/2022

Có một nhóm giáo dân trong một thành phố nhỏ quyết định làm một máng cỏ giáng sinh ở công trường. Họ đi xin những người hảo tâm giúp đỡ. Đứng đầu danh sách những người hảo tâm là ông chủ bút một tờ tuần báo địa phương. Ông ta ủng hộ việc này cho tới lúc cha sở phát biểu. Nhiều người, nhất là trẻ em sẽ phấn khởi nhìn thấy Chúa Hài Nhi, Đức Mẹ, thánh Giuse và cả những con vật nữa, ở đây ngay tại trung tâm thành phố. Thế nhưng, ông chủ bút liền kêu to:

– Không, phải bỏ Đức Mẹ đi, đừng có bày đặt lắm chuyện làm chi.

Cha sở nghe vậy bèn nói với ông ta:

– Ông bảo gì vậy? Ông thử nói cho tôi hay: Một người sinh ra mà lại không do người mẹ, thì tôi sẽ đồng ý bỏ Đức Mẹ. Đức Mẹ phải ở với Con mình trong công trường thành phố. Tại sao không?

Đúng thế, Mẹ đã ở với Chúa Giêsu ngay từ lúc Ngài được dựng thai cho tới khi Ngài lên trời và Mẹ còn liên kết với Ngài trong suốt dòng lịch sử. Vì thế, chúng ta không thể tưởng nghĩ tới Chúa Giêsu mà không tưởng nghĩ Mẹ Ngài. Cũng như chúng ta không thể tưởng nghĩ đến một em bé mà không tưởng nghĩ đến người mẹ của em.

Chúa Giêsu là người thật nhưng cũng là Thiên Chúa thật. Đức Maria là Mẹ của Thiên Chúa làm người, theo ý nghĩa là con trẻ Mẹ sinh ra có bản tính Thiên Chúa và bản tính con người.

Ngày đầu năm dương lịch, Giáo hội muốn chúng ta tôn vinh Mẹ Thiên Chúa. Bởi vì không ai xứng đáng được gọi là mẹ sự sống cho bằng Mẹ Thiên Chúa. Mẹ đã ban sự sống nhân loại cho Chúa Giêsu, Đấng đã nói: Tôi đến cho người ta được sống và sống dồi dào. Một đời sống thể lý tốt đẹp hơn, một đời sống tinh thần tốt đẹp hơn. Điều đó sẽ làm cho mọi người được hạnh phúc trong năm mới. Chúng ta phải chú trọng giá trị của sự sống. Những vụ tàn sát, những tai nạn xe cộ, những cuộc chiến và đói kém đã cướp đi hàng trăm ngàn cuộc sống. Sự sống đã trở thành rẻ mạt. Một cuộc nghiên cứu mới đây cho biết: trẻ em Hoa Kỳ ở vào tuổi 17 đã xem 18.000 vụ tàn sát qua truyền hình. Đồng thời trong năm mới này có biết bao nhiêu bà mẹ, thay vì cho con cái mình sự sống, thì đã giết chúng bằng những vụ phá thai. Vì thế, chúng ta cần đến một người mẹ cao siêu để chấm dứt sự tàn sát này. Bước sang năm mới, Mẹ Thiên Chúa làm người, sẵn sàng cứu giúp mọi bà mẹ để trao ban sự sống thay vì huỷ diệt nó đi. Mẹ cũng sẵn sàng xin được nơi người Con của mình một sự sống tinh thần mạnh mẽ hơn, một sự sống được tiếp tục ngay cả sau cái chết thể xác. Sự sống mà người Con của Mẹ đã ban cho chúng ta một cách dồi dào trong thánh lễ và trong các bí tích. Một sự sống ngập tràn hạnh phúc mà chúng ta sẽ cầu chúc cho nhau trong năm mới này.

Một câu chuyện khác:

Trong một bài giảng, vị linh mục đã nêu lên câu hỏi.

– Vậy Đức Maria là ai?

Mọi người đều thinh lặng không một ai đã trả lời. Ngài lại hỏi thêm một lần nữa:

– Vậy ai có thể nói cho tôi hay Đức Maria là ai?

Sau cùng một bà già đã trả lời:

– Thưa cha, Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.

Vị linh mục nói:

– Đúng lắm, Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, nhưng tôi muốn biết ngài còn là ai nữa?

Tiếp theo là những câu trả lời khác nhau:

– Mẹ là Nữ vương thiên đàng, là nơi ẩn náu của kẻ tội lỗi…

Vị linh mục mỉm cười và bảo:

– Đúng lắm, tất cả đều đúng nhưng chưa đủ, bởi vì Đức Maria còn là Mẹ tôi nữa.

Vâng, Đức Maria là Mẹ chúng ta. Trên thế gian, chúng ta không một ai đã yêu thương chúng ta, không một ai đã sẵn sàng lắng nghe chúng ta kêu cầu, cảm thông và giúp đỡ chúng ta trong mọi hoàn cảnh như Mẹ.

Hôm nay, ngày đầu năm dương lịch, chúng ta mừng kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta phó thác năm mới này cho Mẹ để xin Me nâng đỡ chở che.

Sở dĩ chúng ta biết Đức Maria là Me Thiên Chúa, bởi vì Đức Maria là Mẹ của Chúa Giêsu. Đồng thời chúng ta cũng tin rằng Chúa Giêsu vừa là người vừa là Thiên Chúa. Bởi đó, một khi đã là Mẹ của Chúa Giêsu, thì Đức Maria cũng là Mẹ của Thiên Chúa làm người. Không ai được nói rằng Đức Maria đã sinh ra thiên tính của Chúa Giêsu. Nhưng chúng ta chỉ đơn giản tuyên xưng rằng Đức Maria là Mẹ của Chúa Giêsu, Đấng vừa là người lại vừa là Thiên Chúa. Từ đó chúng ta có thể đi tới một kết luận quan trọng như sau:

Vì là Mẹ của Thiên Chúa làm người cho nên Đức Maria cũng là Mẹ thật của mỗi người chúng ta. Trong lòng Giáo hội, gia đình của Thiên Chúa thì Đức Kitô là anh cả còn chúng ta là những người em. Một khi Đức Maria đã là Mẹ của Chúa Giêsu thì ngài cũng là Mẹ của chúng ta nữa.

Vậy chúng ta phải làm gì để khởi đầu cho năm mới 2008 này? Nếu không có Mẹ Maria thì không có sự sống. Vì thế, ngay cả Chúa Giêsu cũng phải có Mẹ. Nếu cuộc sống con người khởi đầu từ người mẹ, thì mỗi chặng đường đời của chúng ta., chẳng hạn một năm mới, cũng khởi đầu với Đức Maria: Mẹ Thiên Chúa và Mẹ chúng ta.

Người mẹ đón nhận con mình mỗi buổi sáng, Đức Maria đón nhận chúng ta ngày đầu năm, Mẹ nghiêng mình trên chúng ta, nuôi dưỡng, bao bọc và chạy chữa chúng ta cùng với biết bao biểu lộ của yêu thương và trìu mến.

Người mẹ làm cho ngày mới của đứa con có một ý nghĩa, thì Đức Maria cũng làm cho năm mới của chúng ta có một ý nghĩa.

Để kết luận chúng ta hãy xin Mẹ Maria cầu bầu cho chúng ta hôm nay, ngày đầu năm mới và suốt cả những tháng ngày kế tiếp, để trong năm mới nay, chúng ta sẽ sống gắn bó với Chúa và Mẹ. Như thế, năm mới này sẽ là một năm bình an và hạnh phúc. Đó cũng là lời cầu chúc tôi xin gửi đến với anh chị em.