Archive | Uncategorized RSS for this section

Người già: thành phần dễ bị gạt ra bên lề trong đời sống xã hội hiện đại

 

Có một hiện tượng rất phổ biến ở người già: nói rất nhiều. Ta thường chỉ nghĩ đến việc họ bị ‘lẫn’, bị lẩm cẩm, hay thích hồi tưởng quá khứ, nên họ thường xuyên nhắc lại những câu chuyện còn lại trong trí nhớ một cách nhàm chán.

 

Người già: thành phần dễ bị gạt ra bên lề trong đời sống xã hội hiện đại

Tuy nhiên, thiết tưởng còn một nguyên nhân căn bản hơn của hiện tượng này: họ thấy mình không được chú ý, không được người khác hiểu, và thấy mình bị gạt ra khỏi các sinh hoạt của xã hội. Điều này khiến người già thấy họ bị lạc lõng trong xã hội, thậm chí cả trong gia đình. Con người tự bản chất mang tính tương quan, nên bất cứ ai thấy mình thiếu môi trường sống tương quan, đều có khuynh hướng tìm cách kết nối với người khác. Ở trường hợp người già, nhu cầu này là rất cao, vì những lý do hiện sinh gắn liền với giai đoạn đặc biệt này trong cuộc đời. Vì lẽ đó, tương tự như trẻ con, người già thường nói nhiều để mong được người khác chú ý.

Trong xã hội hiện đại, tính dễ tổn thương này của người già càng lớn hơn nữa, vì những chuyển động và thay đổi diễn ra nhanh chóng ở mọi khía cạnh trong đời sống xã hội. Khi một hệ thống chuyển động mạnh, sẽ có những thành phần nhất định bị ‘văng ra ngoài’, mà thành phần dễ thấy nhất là người già. Để tìm hiểu mức độ bị ‘gạt ra rìa’ đó, chúng ta có thể suy xét đến những vấn đề sau liên quan đến người già trong thời đại hôm nay, nhất là trong xã hội Việt Nam:

Điều đầu tiên là người già và người trẻ khó hiểu được suy nghĩ của nhau. Tỉ như, mấy cô cậu học trò có thể ngạc nhiên khi thấy người ông của mình phải bỏ ra hàng giờ đồng hồ cặm cụi viết thư tay và gửi bưu điện, thay vì chỉ cần ngồi trước máy tính gõ vài phút là xong; và ngược lại, các ông bà lớn tuổi cũng không hình dung được lý do tại sao người ta lại làm những chương trình trên tivi kiểu ‘Hôn nhau để hẹn hò’ (Date & Kiss) cho giới trẻ xem, hay họ cũng không tưởng tượng được làm sao mà bọn trẻ có thể đọc, hiểu và nhắn tin cho nhau những thứ ký hiệu chẳng phải là con chữ bình thường. Tất nhiên, thời đại nào cũng có vấn đề về cách biệt suy nghĩ giữa già và trẻ. Tuy nhiên, trong thời đại hôm nay, khoảng cách của sự khác biệt này ngày càng lớn hơn. Lý do là, ngoài những nguyên nhân khá ‘tự nhiên’ như đã có từ trước giờ, hiện còn có nguyên nhân từ lối sống công nghệ của người trẻ, trong đó mọi thứ diễn ra và thay đổi rất nhanh, trong khi người già không đủ mức độ nhạy bén và năng động để có thể tiếp cận và thích ứng với lối sống này.

Thứ nữa, cơ cấu của gia đình trẻ cũng đang thay đổi: hiện nay, hình thức gia đình tam hoặc tứ đại đồng đường không còn tồn tại nhiều, mà thay vào đó là gia đình hạt nhân. Hơn nữa, số con trong các gia đình đang ngày càng giảm mạnh hơn so với các thế hệ trước. Sự thu hẹp quy mô và cấu trúc gia đình sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi thành phần trong gia đình, nhưng người già là đối tượng chịu tác động cách đặc biệt. Trong cơ cấu này, người già không còn vai trò ‘nền tảng định hướng’ của gia đình như trong truyền thống nữa.

Thêm vào đó, lối sống hiện đại đang chi phối sự gắn kết giữa người trẻ và người già. Nhịp sống ‘công nghiệp hoá’ khiến người trẻ dành chủ yếu thời gian và sức lực cho công việc. Tất cả những gì tích cực và ‘chất lượng’ nhất đã được giành cho công sở rồi; vì vậy, năng lượng tiêu cực thường phát ra trong thời gian ở nhà của họ. Bên cạnh công việc, rất nhiều thứ khác cũng đang chi phối tâm trí con người hiện đại, khiến họ trở về nhà trong tâm trạng mỏi mệt và căng thẳng. Vì vậy, rất nhiều người không còn khả năng quan tâm và đối xử nhẹ nhàng với những người trong gia đình, nhất là với người già – những người dễ gây khó chịu vì nếp sống cũ của họ.

Cuối cùng, những quan niệm mới về lối sống gia đình, nhất là trong thời đại ‘hội nhập văn hoá’, đang khiến cho khoảng cách giữa thế hệ gia đình trẻ và người già ngày một xa cách hơn. Ví dụ, nếu như trước kia, việc nuôi dạy một đứa trẻ là công việc chung dành cho mọi người trong gia đình, trong đó, đóng góp của ông bà được xem như một phần đặc biệt, thì ngày nay, nhiều ông bà không còn được trao cơ hội này nữa. Thậm chí, có người còn không được phép tiếp xúc, chăm sóc con cái, cháu chắt. Lý do là vì quan điểm giáo dục của cha mẹ trẻ rất khác biệt với ông bà. Điều này đặc biệt nghiêm trọng với trường hợp những người già ở miền quê và con cháu sống ở thành thị. Trước kia, các gia đình trẻ thường hay đưa con cái về sống với ông bà ở quê trong các dịp hè hoặc lễ lạc, để cho bọn trẻ được hoà mình vào bầu khí thôn dã và được ông bà nuôi dạy. Nhưng hiện nay, một phần vì tụi nhỏ phải học như chính khoá trong Hè, một phần vì bố mẹ cũng không muốn con tiếp xúc với lối giáo dục xưa cũ của ông bà, nên chẳng mấy ai làm như trước. Kết quả là tương quan giữa ông bà với gia đình trẻ, đặc biệt là với cháu chắt, ngày càng bị tách biệt.

Nói thế không phải để lên án người trẻ nói chung và các gia đình trẻ nói riêng, vì những thay đổi đó diễn ra theo chuyển động chung của cả xã hội, của thời đại. Có những thay đổi dường như tất yếu phải diễn ra, ngoài ý muốn chủ quan của cá nhân; hơn nữa, không hẳn tất cả những thay đổi đó đều mang tính tiêu cực. Vì vậy, người già không thể đòi hỏi người trẻ đáp ứng hết mọi mong muốn chủ quan của mình. Tuy nhiên, phía người trẻ phải ý thức về những khác biệt và thay đổi; và phải tìm cách hội nhất hết mức có thể những giá trị căn bản vào những biến chuyển đó, để những người lớn tuổi – những người xứng đáng được nhận sự tôn trọng và chú tâm của xã hội – không bị gạt bên lề. Trong nỗ lực này, có hai nhu cầu chính đáng sau của người già cần được để ý:

Thứ nhất là nhu cầu tiếp xúc với con cháu. Theo lẽ thường, ước mong bảo toàn sự sống là điều ăn sâu nơi tâm thức con người. Chính qua con cái, cha mẹ thấy cái chết của mình còn để lại một cánh cửa mở, và cuộc sống của mình được nối tiếp. Vì vậy, đối với các bậc cha mẹ, nhìn thấy con cháu chính là nhìn thấy sự nối dài của mình, là ‘di sản để dành’ của bản thân. Theo nghĩa đó, niềm hạnh phúc hàng đầu của người già là được chứng kiến sự trưởng thành và phát triển của con cháu mình, và có cơ hội chăm sóc, đụng chạm vào tiến trình phát triển đó. Do vậy, cách báo hiếu đẹp nhất của người trẻ là hãy để cho các bậc ông bà, cha mẹ có nhiều cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc và chăm sóc mình, nhất là đối với các cháu nhỏ. Đó là niềm an ủi lớn lao của họ, nhất là trong giai đoạn tuổi già, vốn là thời gian dễ bị tổn thương về tâm lý.

Thứ hai, hãy để người già có cơ hội làm việc, nếu sức khoẻ thể lý và tâm lý của họ còn cho phép. Có lẽ một trong những sầu khổ lớn nhất của con người là cảm giác thấy mình vô dụng. Cách này hay cách khác, con người luôn muốn mình có sự hữu ích, có những đóng góp nào đó, và được người khác công nhận những công trạng đó. Khi không còn cảm nhận được sự có ích của mình, người ta thấy mình chẳng có nhiều lý do để tồn tại nữa. Sự trống trải này chính là thứ khủng hoảng mà người già dễ gặp phải nhất. Vì vậy, nhiều người già dễ bị suy sụp sức khoẻ một thời gian rất ngắn sau khi bị cho nghỉ hưu. Rất tiếc là nhiều người trẻ lại không ý thức về nguy cơ này. Hơn nữa, vì những lý do rất tốt lành, rằng những người già cần được nghỉ ngơi hoàn toàn, nên họ cắt hết tất cả mọi công việc của cha mẹ lớn tuổi nói riêng và của người già nói chung. Họ không ngờ rằng mình đang góp phần lớn vào khủng hoảng của cha mẹ mình. Vì vậy, người trẻ hãy cố gắng tạo những không gian và cơ hội nhất định cho người già được đóng góp công sức, tuỳ theo hoàn cảnh và điều kiện sức khoẻ của họ.

Trong Lời Tựa cho quyển sách Chia Sẻ Sự Khôn Ngoan của Thời Đại, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng sự khôn ngoan, kinh nghiệm và hiểu biết của người già chính là những đóng góp trụ cột cho xã hội; và người trẻ cần phải bén rễ sâu vào trong truyền thống khôn ngoan của cha ông bằng cách thắt chặt mối tương quan với người già. Rõ ràng, từ phạm vi cá nhân cho tới tầm mức xã hội, chúng ta không thể triển nở trong hiện tại, cũng như không thể tìm được phương hướng cho tương lai, nếu chúng ta bị cắt đứt khỏi nguồn cội cua mình. Hơn nữa, như Kinh Thánh diễn tả, tuổi già là biểu tượng cho Vĩnh Cửu: Thiên Chúa – Đấng Vĩnh Cửu – đã hiện ra với Daniel dưới hình dáng một vị kỳ lão (Đn 7,9); hay sách Khải Huyền nhắc đến 24 vị kỳ lão – biểu trưng cho triều đình của Thiên Chúa – hằng ca hát ngợi khen vinh quang Ngài đến muôn đời (Kh 4,4; 5,14).[1] Theo nghĩa đó, hướng về người già cũng là hướng về mầu nhiệm của cuộc sống và mầu nhiệm Nước Trời. Vì thế, lời dạy sau đây của Tông huấn Christus vivit thật quan trọng, nhất là trong thời đại hôm nay:

Người trẻ và người già cùng nhau bén rễ sâu trong hiện tại, để từ đó, thăm lại quá khứ và hướng đến tương lai. Thăm lại quá khứ để học từ lịch sử và chữa lành những vết thương đôi khi ảnh hưởng đến chúng ta. Hướng đến tương lai để nuôi dưỡng lòng nhiệt thành, làm cho những giấc mơ nảy mầm, hồi sinh những lời tiên tri, khiến hy vọng nở hoa. Bằng cách này, cùng nhau, chúng ta có thể học hỏi lẫn nhau, sưởi ấm tâm hồn nhau, gây hứng khởi cho tâm trí nhau bằng ánh sáng Tin Mừng và ban cho đôi tay chúng ta sức mạnh mới.[2]

[1] X. Điển ngữ thần học Kinh Thánh, mục tự Tuổi già.

[2] Christus vivit, s. 199.

Khắc Bá, SJ

Người Công Giáo ăn Tết như thế nào?

công giáo ăn tết
Từ xưa đến nay, người Việt vẫn có quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 tết thầy”. Vẫn giữ được phong tục đẹp đó, tuy nhiên, với người Công giáo thì còn thêm cả việc kính nhớ và cầu nguyện cho linh hồn tổ tiên trong những ngày đầu năm.

Không có tục xông đất, những người Giáo dân đón năm mới theo một cách rất riêng. 4h sáng ngày mùng 1 Tết, mặc cho cái lạnh buốt giá rét khắc nghiệt của miền Bắc, tất cả giáo dân Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình) đều dậy rất sớm và có mặt tại nhà thờ để tham dự buổi lễ đầu tiên trong năm mới. Dư âm vui vẻ đón thời khắc giao thừa vẫn còn cộng thêm sự hứng khởi của buổi sớm đầu năm khiến ai ai cũng tới nhà thờ trong tâm trạng ngập tràn niềm vui.

Thời khắc tham dự buổi lễ sớm này đối với người Công giáo vô cùng đặc biệt vì đây chính là giây phút họ muốn dành cho những điều cao trọng nhất. Ngoài ý nghĩa muốn dâng lên cho Thiên Chúa những giây phút đầu tiên trong năm mới thì buổi lễ sớm mùng 1 Tết còn là dịp để tất cả con cháu dâng lời cầu nguyện xin cho linh hồn ông bà tổ tiên sớm được về nơi Thiên Đàng. Đây cũng chính là thời điểm để mọi người gặp gỡ, chúc tụng nhau những điều tốt đẹp, may mắn và an lành. Bởi vậy, có thể nói rằng, đây chính là một trong những buổi lễ mang nhiều ý nghĩa nhất trong đời sống Kitô giáo.

Nếu như những người không theo đạo Công giáo coi tục hái lộc, xông đất đầu năm rất quan trọng thì với những giáo dân, việc tham dự buổi lễ này là một hành động mang ý nghĩa rất quan trọng. Khi tham dự buổi lễ này, các giáo dân cũng được rút lộc tại nhà thờ. “Lộc” ở đây chính là những lời Chúa mang ý nghĩa tốt lành, các giáo dân sẽ mang “Lộc” này về để tại vị trí trang trọng trong nhà, coi đó như là lời dạy của Chúa về cách sống trong năm mới.

 

 

Không tới thăm mộ của tổ tiên vào Tiết Thanh Minh, người Công Giáo có riêng một ngày lễ để nhớ tới những người đã khuất, đó chính là ngày “Nhận Tiên Nhân” thường diễn ra vào ngày mùng 3, 4 Tết. Vào ngày này, các con cháu trong gia tộc bao gồm dâu rể nội ngoại tụ họp tại đất Thánh (nghĩa địa) để sửa sang mộ phần cho ông bà cha mẹ. Không có quan niệm “trần sao, âm vậy” nên thay vì gửi xuống ông bà tổ tiên những vật dụng tiện nghi như quần áo, vàng mã, nhà cửa… thì các giáo dân gửi tới tổ tiên mình những lời cầu nguyện để cầu mong các linh hồn sớm được tha thứ những tội lỗi đã phạm trên trần gian để được về nơi Thiên Đàng.

Cả dòng họ tập trung về nghĩa địa, sửa sang mộ phần cho tổ tiên và cùng đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn ông bà sớm về Thiên Đàng

Theo niềm tin Công giáo, 2 người đi tới hôn nhân là do ý định của Thiên Chúa và được Người chúc phúc. Chính vì được Thiên Chúa kết hợp nên hai người này sẽ mãi mãi là vợ chồng và cuộc hôn nhân của họ mang tính bền vững. Cũng vì mang ý nghĩa tốt đẹp này nên đôi vợ chồng mới cưới bao giờ cũng nhận được nhiều lời chúc phúc nhất. Cái Tết của họ sẽ được gọi là “Tết mới”. Trong “Tết mới”, cả hai vợ chồng sẽ cùng nhau mang “lễ vật” đi chúc Tết những bậc cao tuổi và người thân trong dòng họ.

Lễ vật ở đây chỉ đơn giản là chiếc bánh chưng xanh và chai rượu, những đồ vật thể hiện thành quả của sự lao động. Người được chúc Tết cũng sẽ nhận lễ vật của đôi vợ chồng mới cưới nhưng sau đó họ sẽ trao lại cho cặp tân lang tân nương. Đồng thời, đôi vợ chồng mới sẽ được mừng tuổi, đồng tiền ở đây không quan trọng nhiều hay ít mà nó mang ý nghĩa đặc biệt: mong hai vợ chồng có vốn làm ăn để xây dựng một tổ ấm mới.

Thuý – một nàng dâu mới theo đạo, lần đầu tiên dự cái Tết Công giáo tại nhà chồng tâm sự rằng “Tôi đã rất lo lắng và bỡ ngỡ vì những gì tôi nghĩ về cái Tết ở nhà chồng thật khác biệt. Tuy nhiên, mấy ngày Tết ở đây rất đặc biệt và cũng là một trải nghiệm thú vị. Đây là lần đầu tiên tôi biết đến “Tết mới”, cũng là lần đầu tiên được mừng tuổi dù đã lớn đến thế này”…

Có thể nói rằng, dù đón Tết theo những cách rất riêng và đặc biệt, cái Tết của người Công giáo mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng. Tết không chỉ là thời gian để mọi người cùng nghỉ ngơi, gặp gỡ, chúc tụng nhau những điều an lành trong năm mới. Tết còn là thời điểm để người Công giáo thể hiện chữ Hiếu của mình với ông bà tổ tiên, là lúc những đôi vợ chồng mới cưới nhận thấy rằng cuộc hôn nhân của mình quan trọng và ý nghĩa thế nào. Thiết nghĩ, đây cũng chính là những nét đẹp ý nghĩa đóng góp vào sự đặc sắc của văn hoá dân tộc…

 

(Mai Tân, Khampha.vn)

Thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Việt Nam

cach-trang-tri-ban-tho-chua-treo-tuong-dep-va-chuan-nhat-theo-dao-cong-giao-1

1.Mở đầu

Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng lâu đời của người Việt Nam. Trong mọi gia đình người Việt Nam từ lâu tín ngưỡng này đã trở thành đạo lý “uống nước nhớ nguồn” trên nền của “đạo hiếu”. Đạo thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam là một nét đẹp văn hóa của những con người thiên về “trọng tình” hơn “trọng lý”. Giống như các quốc gia Đông Nam Á khác, thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam ngày càng được củng cố, mở rộng thêm khi mà các nền văn hóa Đông, Tây du nhập vào. Với sự giao thoa các yếu tố văn hoá từ bên ngoài, có những quan điểm khác nhau về thờ cúng tổ tiên ở những giai đoạn lịch sử, ở những luồng tư tưởng khác nhau như tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Công giáo. Người Việt Nam sống trong môi trường làng với văn hoá làng tồn tại đậm đặc tronglốisống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hoá dân gian… Làng được xây dựng trên nền móng của quan hệ huyết thống của nhiều dòng họ. Và, thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam (kể cả người Công giáo Việt Nam) đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì môi trường gia tộc và môi trường làng.

2. Thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam

Quan niệm truyền thống của người Việt Nam cho rằng, con người có hồn và xác, xác thì có chết nhưng hồn thì tồn tại mãi ở thế giới khác, mà hồn mới là yếu tố cao quý của một con người. Quan niệm này giống các tộc người ở các quốc gia khác ở Đông Á như Trung Quốc, Philippine, Nhật Bản [9]… Hồn và xác liên kết nhau tạo nên sinh vật hoạt động được. Linh hồn chỉ thoát ra khỏi thể xác khi thực sự đã chết [6]. Người Việt Nam quan niệm “dương sao âm vậy”, con người sau khi chết còn có một cuộc sống nơi suối vàng giống như cuộc sống nơi trần thế với những nhu cầu tất yếu như ăn, mặc, chi tiêu và cả tích lũy phòng khi bất trắc. Do vậy, những người thân cần cúng giỗ để tổ tiên không bị thiếu thốn nơi âm gian, nơi chín suối. Người Việt Nam cho rằng “chín suối” là nơi sinh tồn của linh hồn tổ tiên sau khi thác, giống như cõi Niết Bàn trong quan niệm của Phật giáo, nơi Thiên Đàng của Công giáo. Người Công giáo Philippine cũng tin vào linh hồn, vào cuộc sống sau cái chết. Một người chết vẫn tiếp tục những sinh hoạt bình thường của mình trong thế giới của các linh hồn [9, tr.19].

 

Với quan niệm như vậy, người Việt Nam coi việc cúng giỗ là một đạo hiếu và họ không bao giờ bỏ cúng giỗ ông bà cha mẹ, cúng giỗ tổ tiên của mình. Việc cúng giỗ là biểu hiện mối dây liên kết mật thiết giữa tổ tiên (những người đã khuất) với con cháu (những người còn sống); hay là biểu hiện mối quan hệ giữa thế giới của người sống và thế giới của người đã thác. Mặt khác, thờ cúng tổ tiên cũng là việc để con cháu thể hiện sự biết ơn của mình đối với công giáo dưỡng của cha mẹ. Chính vì vậy việc cúng giỗ càng chu toàn bao nhiêu thì lòng con cháu càng an tâm thanh thản bấy nhiêu. Từ lòng tôn kính, sự mong muốn báo đáp cho tổ tiên ở nơi “chín suối”, từ niềm tin vào linh hồn tổ tiên sau khi thác, con cháu tìm cách báo hiếu với tổ tiên bằng việc cúng giỗ, thắp hương tưởng niệm, cẩn báo với tổ tiên mỗi dịp lễ tết, mỗi khi có việc trọng đại như hôn nhân hay tang lễ… Đây cũng là những dịp người lớn muốn nhắc nhở cho con cháu về cội nguồn của dòng họ và ghi nhớ việc báo hiếu với tiên tổ. Trong các cuộc điều tra về tôn giáo của Viện Nghiên cứu Tôn giáo tiến hành từ 1995 đến nay thì người Việt Nam thực hiện việc thờ cúng tổ tiên chiếm tỷ lệ trung bình năm là 98%.

 

Thờ cúng tổ tiên mang tính chất phổ quát nhưng đồng thời cũng mang tính khu biệt trong các hình thức thể hiện với từng nhóm xã hội – tôn giáo cụ thể. Điều đó tuỳ thuộc vào niềm tin và quan niệm cụ thể của mỗi nhóm xã hội – tôn giáo này. Chính những đặc tính khu biệt của những hình thức thể hiện việc báo hiếu tổ tiên đã tạo nên sự đa dạng và khởi sắc của việc thờ cúng tổ tiên. Điểm đầu tiên tạo nên sự khu biệt đặc thù ở các tôn giáo và các nhóm xã hội là quan niệm về hồn và nơi ở của hồn sau khi chết. Người vô thần thì không tin có linh hồn và cuộc sống sau khi chết, họ quan niệm “chết là hết”. Phật giáo quan niệm đời sống con người gắn chặt với kiếp; sau khi chết nếu hồn chưa thoát được nghiệp chướng sẽ vẫn còn bị vướng vào vòng luân hồi để quay trở lại một kiếp nào đó tương xứng với những gì mình đã làm trong kiếp trước. Phật giáo chủ trương không sát sinh vì có thể động vật ấy là một sinh linh đầu thai từ kiếp trước. Với quan niệm này, việc báo hiếu tổ tiên được thực hiện bằng những nghi lễ cầu siêu theo phương thức nhà Phật, nhà có tang ma sẽ mời sư thầy đến tụng kinh cho người chết mau siêu độ; đến ngày lễ Vu Lan con cháu đến chùa dâng lễ cúng Phật cầu cho cha mẹ. Lễ Vu Lan theo quan niệm Phật giáo là ngày Phật đại xá, những việc lành con cháu làm trong ngày này thì cha mẹ được hưởng phúc.

3. Thờ cúng tổ tiên của người Công giáo

Công giáo có một quan niệm riêng về sự tồn tại của linh hồn và thể xác, về nơi mà hồn sẽ “cư ngụ” sau khi chết – đó là Thiên Đàng, địa ngục hay nơi luyện ngục [5, tr.91 – 92]. Công giáo quan niệm chết không phải là hết; những người sống đẹp lòng Thiên Chúa, không mắc tội sẽ được lên Thiên Đàng và được gọi là các Thánh. Những người còn mang tội thì tuỳ thuộc vào tội nặng hay nhẹ mà phải xuống luyện ngục hay hoả ngục để đền bù tội lỗi mình đã làm khi còn sống và được gọi là các linh hồn. Quan niệm về sự chết, sự sống, về phần hồn, phần xác là những tín điều mà mọi giáo dân Công giáo đều tin theo mặc dù việc giải thích những điều này chưa có những luận cứ rõ ràng. Điều chính yếu là ở niềm tin của giáo dân. Người Công giáo cũng tin rằng giữa những người đang sống và những người khuất (các Thánh và các linh hồn) vẫn có mối liên hệ qua lại. Các Thánh sẽ cùng Thiên Chúa phù hộ cho những người sống. Người sống tạo lập các công phúc nhằm giúp các linh hồn chuộc những tội lỗi đã phạm phải khi còn ở trần gian, có thể lên Thiên Đàng và lại cùng Thiên Chúa phù hộ cho chính người sống. Mối quan hệ qua lại giữa người sống với các Thánh, các linh hồn và Thiên Chúa chính là cơ sở niềm tin của sự chuyển giao công trạng. Người sống thờ kính những người đã khuất để bày tỏ lòng biết ơn của mình với họ vì những gì họ đã làm cho con cháu khi còn sống và cả những điều họ sẽ cùng Chúa ban phúc cho con cháu sau khi chết. Kết quả điều tra tại các địa bàn cho thấy, mục đích của việc thờ cúng tổ tiên là để tỏ lòng biết ơn với tổ tiên của người Công giáo chiếm 98,9% [3]. Ở Philippine, người Công giáo thờ cúng tổ tiên vì họ tin rằng tổ tiên sẽ mang lại điều thiện và điều ác cho người sống [11].

 

Có thể nói, cơ sở của việc thờ cúng tổ tiên ở người Công giáo xuất phát ngay trong giáo lý của họ. Niềm tin tôn giáo của họ được đặt trọn vẹn vào đấng tối cao là Thiên Chúa. Thiên Chúa là trung tâm điểm nên mọi vấn đề, mọi sự lý giải, mọi ngôn từ diễn tả đều nhằm tôn vinh hình ảnh của Chúa Trời. Việc thờ cúng tổ tiên, báo hiếu tổ tiên là những điều thuộc về con người, giáo lý đã đề ra như là những điều luật, buộc mọi người phải thực hiện. Trong “thập giới” (Mười điều răn của Thiên Chúa) thì sau ba điều răn dạy con người thờ phụng Thiên Chúa, điều răn thứ tư buộc giáo dân phải “thảo kính cha mẹ”. Điều này đứng sau việc tôn thờ Thiên Chúa. Đây là điều rất quan trọng buộc mỗi giáo dân Công giáo phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện. Con cái luôn quan tâm, chăm sóc cha mẹ khi khoẻ mạnh cũng như lúc ốm đau là việc làm đẹp lòng Thiên Chúa. Người Công giáo tin rằng sự hiện hữu của con người là hồng ân mà Thiên Chúa ban tặng. Và con cái luôn phải biết ơn công dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, không ngoại trừ một lý do nào, bởi đó không chỉ là bổn phận mà còn là việc làm đạo đức mà con cái dành tặng cha mẹ, cũng là việc làm đẹp dâng lên Thiên Chúa. Kinh Thánh công nhận niềm hạnh phúc của một gia đình là cha mẹ biết thương yêu con cái và con cái biết vâng lời, hiếu thảo với cha mẹ. Đây chính là cơ sở để người giáo dân Công giáo thực hành việc thờ cúng tổ tiên. Theo đó, thờ cúng tổ tiên trước hết là đạo làm người, là lòng thành kính, biết ơn của thế hệ sau với thế hệ trước. Do đó, dù một thời gian dài bị lãng quên với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam bản địa do cách nhìn hạn chế từ phía Giáo hội, nhưng việc thờ kính tổ tiên vẫn tồn tại trong tâm khảm đời sống tâm linh của người Công giáo Việt Nam. Đây là một vấn đề mang tính lịch sử trong quá trình truyền giáo mở rộng “nước Chúa” của Toà thánh Vatican, Việt Nam không là ngoại lệ.

 

  1. Vấn đề thờ cúng tổ tiên trong lịch sử Công giáo

    Việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo ở Việt Nam liên quan mật thiết đến thái độ ứng xử của Toà thánh và các đoàn truyền giáo đối với vấn đề này trong lịch sử truyền giáo của đạo Công giáo.

 

Việc thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam không thể tách rời khỏi hoàn cảnh lịch sử “Nghi Lễ Trung Hoa”. Trong thời gian Matteo Ricci, bề trên dòng Tên (S.J.) còn sống chẳng có vấn đề tranh chấp về Nghi lễ Trung Hoa. Sau khi Mattheo Ricci qua đời (1610), vấn đề được đặt ra ngay giữa nhóm dòng Tên. Khi thừa sai các dòng khác (Đa Minh, Augustinô, Phanxicô, thừa sai Ba Lê) đến Trung Hoa (từ 1630 trở đi), vấn đề tranh tụng trở nên gay gắt. Diễn tiến cuộc tranh chấp qua các triều Giáo hoàng khác nhau và những quyết định được ghi lại trong các văn kiện tòa thánh. Các văn kiện về Nghi lễ Trung Hoa đều ảnh hưởng đến Việt Nam và các nước lân cận.

 

4.1.   Thái độ ứng xử của Toà thánh La Mã

Vấn đề thờ cúng tổ tiên của Công giáo tại Phương Đông (chủ yếu là ở Trung Quốc, Việt Nam…) kéo theo sự quan tâm của hơn chục vị Giáo hoàng trên nhiều ngả với những cuộc tranh luận giữa các thừa sai thuộc các dòng truyền giáo khác nhau. Trong khi các linh mục dòng Tên ở Trung Quốc không lên án cúng tế Khổng Tử và ông bà ông vải, thì các thừa sai Pháp ở Việt Nam lại phản đối quyết liệt vì cho rằng nghi lễ ấy là rối đạo không khác gì lễ nghi thờ Bụt, thờ Thần [2].

 

Giáo hoàng Clemente XI (1700 – 1721) tổ chức một hội nghị gồm các giám mục để bàn về vấn đề này và sau đó chấp nhận bản nghị quyết của Toà Điều tra trong Tông hiến đề ngày 20 tháng 11 năm 1704. Theo đó Giáo hoàng buộc các giám mục, linh mục của tất cả các dòng truyền giáo đều phải tuân theo Toà thánh trong việc bác bỏ thờ cúng tổ tiên. Không chấp nhận bất kể sự khiếu nại nào. Giáo hoàng Clemente XI còn ban hành Tông chiếu Exilladie đề ngày 19 tháng 3 năm 1715, nhắc lại hai Tông hiến 1704 và 1710 và Sắc lệnh Nam Kinh 1707 phạt vạ tuyệt thông những người không tuân phục Toà thánh La Mã về những lễ nghi đã bị bác bỏ, buộc các thừa sai ở Phương Đông (trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Philippine, Nhật Bản…) phải tuyên thệ trung thành với Toà thánh La Mã trong vấn đề này. Giáo hoàng Benedicto XIV (1740 – 1758) ban hành Bulle Ex Quo Singular đề ngày 11 tháng 7 năm 1742 cấm người Châu Á không được thờ cúng tổ tiên. Đạo luật này đã làm cho các tín đồ Công giáo Trung Hoa bất mãn tức giận nên họ đã bỏ đạo gần hết. Chỉ còn lại một số rất ít tiếp tục theo Công giáo La Mã mà thôi [10]… Đến lúc đó cuộc tranh luận thờ cúng tổ tiên tạm chấm dứt. Đây là thời gian dài thờ cúng tổ tiên bị Tòa thánh Vatican ngăn cấm triệt để ở các nước Đông Á như Việt Nam, Trung Quốc, Philippine, Nhật Bản…

 

Vấn đề thờ cúng tổ tiên được bàn trở lại nửa đầu thế kỷ XX với Huấn dụ Plane Compertn est của Thánh bộ Truyền giáo La Mã, được Giáo hoàng Piô XII chấp thuận ngày 7 tháng 12 năm 1939. Huấn dụ bác bỏ hai Tông chiếu Ex Quo (1742) và Exilladie (1715). Tiếp theo Giáo hoàng ra sắc lệnh Summi Portificantus công nhận những nghi lễ thờ cúng tổ tiên không phải là những nghi lễ đích danh tôn giáo, mà chỉ là những biểu thị lòng sùng bái chính đáng đối với những bậc tài đức trong nước cũng như lòng hiếu thảo đối với người quá cố.

 

Vấn đề thờ cúng tổ tiên được tái khẳng định trong Công đồng Vatican II (1962 – 1965), trong đó nhấn mạnh đến sự hiệp thông với người đã mất như sau: tất cả những ai thuộc về Chúa Kitô và nhận lãnh Thánh thần, đều họp thành một giáo hội duy nhất và liên kết với nhau trong Ngài. Bởi vậy, sự hiệp nhất giữa người còn sống dương thế với các anh em đã yên nghỉ trong bình an Chúa Kitô không hề bị gián đoạn. Trái lại, Giáo hội xưa nay luôn tin rằng sự hiệp nhất đó còn được vững mạnh hơn nhờ việc truyền thông cho nhau. Sau Cộng đồng Vatican II, thờ cúng tổ tiên được thực hiện trong cộng đồng Công giáo ở Đông Á, trước tiên là Trung Quốc, Phillipine, Việt Nam.

4.2. Thái độ ứng xử của các đoàn truyền giáo tại Việt Nam

Dòng Đa Minh là một trong những dòng truyền giáo có mặt đầu tiên tại Việt Nam. Năm 1679, Toà thánh La Mã chia địa phận Đàng Ngoài thành Tây và Đông. Địa phận Đông được giao cho dòng Đa Minh cai quản. Có thể nói, trong các dòng truyền giáo ở Việt Nam thì dòng Đa Minh có thái độ tiêu cực nhất đối với vấn đề thờ cúng tổ tiên.

Ngày 7 tháng 6 năm 1759, Pater lui Huy bề trên cả đại diện tông toà coi sóc địa phận Đông ra thư gửi cho các giáo sĩ và giáo dân địa phận nói về “36 sự rối nước An Nam, Đức Thánh Pha Pha đã đoán phi”, trong đó có nhiều “sự rối” về thờ cúng tổ tiên. Năm 1796, Đức thày Phê ra thư gửi bổn đạo địa phận Đông nhắc lại việc cấm làm nhà táng, khi đưa xác không được đi kiệu ông thánh nọ, bà thánh kia. Dòng Đa Minh có đưa ra một số lễ thức cho việc “đưa xác” người qua đời, chấp nhận một số phong tục như nhận câu đối phúng viếng của gia quyến trong tang ma. Tuy nhiên các câu đối đó phải đảm bảo nguyên tắc “không có điều gì phạm sự đạo”.

Hội truyền giáo Paris (MEP) về tổng thể thì nghiêm cấm giáo dân thực hành thờ cúng tổ tiên. Tại Huế, trong một thời gian dài, các thừa sai hội truyền giáo Paris và các thừa sai dòng Tên bất đồng với nhau về cách nhìn nhận và ứng xử với thờ cúng tổ tiên. Ở một số địa phận đặt dưới quyền cai quản của hội truyền giáo Paris, giáo dân được phép thực hiện hình thức cúng hậu. Hình thức cúng hậu vào nhà thờ Công giáo được duy trì đến giữa nửa thế kỷ XX. Thời điểm cuối thế kỷ XIX ngày càng nhiều người nộp tiền của, đất đai vào nhà thờ để xin lễ hậu. Người xin cúng hậu gồm cả người có con trai và người không có con trai nối dõi. Đôi khi con trai của người nào đó đem ruộng đất, hương hoả của cha mẹ để lại cúng hậu vào nhà thờ để hàng năm nhà thờ lo cầu nguyện linh hồn cho bố, mẹ (hoặc có khi cả ông bà) dịp ngày giỗ. Dần dần, cúng hậu đã trở thành một vấn đề mà không chỉ linh mục, giám mục mà cả Toà thánh La Mã quan tâm. Năm 1905, Toà thánh La Mã ban sắc truyền về cúng hậu.

Trong việc tưởng nhớ người qua đời, giáo hội Công giáo lấy ngày 2 tháng 11 hàng năm để cầu cho các tín hữu đã qua đời và cầu cho các đẳng hoặc cầu cho các linh hồn nơi luyện ngục. Đây là dịp để các tín hữu cầu cho các linh hồn của người thân đã quá cố được nhẹ tội và có thể lên Thiên Đàng.

 

  1. Các nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Việt Nam

    Người Công giáo Việt Nam thực hiện việc thờ cúng tổ tiên vào các dịp như Tết Nguyên đán, lễ các đẳng, đám tang, đám giỗ, cưới xin… với những hình thức đa dạng. Kết quả điều tra năm 2014 cho thấy, trong các dịp quan trọng này, người Công giáo thực hiện thờ cúng tổ tiên với tỷ lệ 100%. Ở Trung Quốc, Philippine, người Công giáo cũng thực hiện thờ cúng tổ tiên vào các dịp quan trọng trên [11].

 

Thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Việt Nam được thể hiện rõ ràng và đậm nhất qua các nghi thức tang ma và giỗ chạp.

Trong tang ma có các giai đoạn cụ thể như trước khi chết, khi qua đời.

Theo người Công giáo Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX khi qua đời là sinh thì, khi hấp hối gọi là rình sinh thì. Một số người giải thích rằng: người Công giáo quan niệm khi đó con người chết nơi trần thế, nhưng khởi đầu một đời sống mới nơi Thiên Đàng. Giờ phút chết cũng có nghĩa là thời (thì) điểm khai sinh một cuộc sống mới ở nơi khác. Chuông nhà thờ xứ dành cho người chết là chuông sinh thì hay còn gọi là chuông sầu, chuông tử.

Người Công giáo Việt Nam trước hết là người Việt Nam, vì vậy nhiều nội dung tang phục, tang chế,… đối với người Công giáo Việt Nam được thực hành tương tự như người Việt Nam không theo Công giáo. Song về mặt tang lễ thì có nhiều điều khác biệt, thể hiện rõ đặc thù do giáo hội quy định.

Khi tín đồ sắp qua đời, đang hấp hối các thừa tác viên (linh mục hay phó tế hoặc một trong số những người trong Ban hành giáo) được mời đến làm lễ xức dầu bệnh nhân với những nghi thức đã được quy định trong nghi lễ Công giáo. Thân nhân và các đồng đạo khi biết tin người hấp hối đều tập trung tại nhà người hấp hối; họ đọc kinh cầu nguyện cho người sắp qua đời được “ơn chết lành và được hưởng nhan Chúa”, đồng thời cũng là để nâng đỡ về mặt tinh thần cho thân nhân người sắp qua đời và giúp đỡ những công việc có thể. Kết quả điều tra tại Tử Nê, Nỗ Lực, Cái Mơn cho thấy 91% gia đình giáo dân có mời linh mục đến làm phép xức dầu, 92,5% tín đồ tập trung đọc kinh cầu nguyện tại gia đình người đang hấp hối. Theo kết quả điều tra xã hội học tôn giáo tại xứ đạo Tử Nê năm 2008, 2014; Nỗ Lực 2009, 2011; Cái Mơn 2009, 2014; tỷ lệ số gia đình mời riêng linh mục đến làm lễ xức dầu là 91%, tỷ lệ số các gia đình mời các thừa tác viên khác như phó tế hay trùm trưởng là 100%.

Khi qua đời, người chết được đặt trên giường, xung quanh có thể rắc hoa tươi hoặc vẩy nước thơm. Vào một thời điểm thích hợp người thân làm lễ tẩm liệm, nhập quan. Người Công giáo không có quan niệm chết vào giờ lành hay dữ, không chọn ngày, giờ tốt đưa tang; không thiết hồn bách, làm nhà táng, minh tinh, không có linh xa (kiệu hay xe) đưa rước linh hồn người qua đời. Tuy nhiên, luật buộc một số ngày như chủ nhật mùa vọng, mùa chay, phục sinh, các lễ trọng, thứ 4 lễ Tro và Tam nhật vượt qua không được làm lễ an táng người qua đời, mà phải đổi ngày khác [1, tr. 206]. Khi có người chết, ngoài việc báo với chính quyền thôn, người thân phải báo với linh mục chính xứ và Ban hành giáo biết tin. Nhà thờ rung chuông sầu báo hiệu có đồng đạo qua đời. Tuỳ theo số tiếng (7 hay 9 tiếng) mà có thể biết người qua đời là nam hay nữ, già hay trẻ. Nếu người mất là người cao tuổi thì tiếng chuông sầu cuối sẽ rung dài, còn nếu là người trẻ tuổi thì tiếng chuông sầu sẽ rung ngắn. Nếu người qua đời là linh mục thì chuông sầu rung lên cả ngày đêm cho tới khi việc an táng linh mục quá cố kết thúc. Khi nghe chuông sầu, tín đồ ngừng việc đang làm hướng về phía nhà thờ đọc Kinh lạy Cha, tỏ lòng tiếc thương người qua đời.

Ở các xứ đạo Công giáo, từ khi giáo dân qua đời cho tới khi tiến hành nghi thức an táng tại nhà thờ, họ hàng, bà con và các đồng đạo lần lượt thay nhau cầu nguyện canh thức bên thi hài người quá cố. Người ta đặt một bàn nhỏ, trên có nước thánh, hoa quả, một bát hương và hương để sẵn trước linh cữu người quá cố. Người Công giáo khi đến viếng xác người mới qua đời thường thắp hương, vái lạy người chết và đọc kinh cầu nguyện. Đến giờ an táng, Thừa tác viên đọc lời nguyện và rảy nước thánh lên thi hài người quá cố. Sau đó, họ đưa quan tài đến nhà thờ, thánh giá đi đầu và Thừa tác viên có chức thánh đi trước quan tài. Người quá cố được đưa vào nhà thờ ở tư thế (nếu là giáo dân) quay mặt về phía bàn thờ Chúa với ý nghĩa ngắm nhìn lên Thiên Chúa. Thánh lễ an táng được cử hành theo nghi thức phụng vụ mà Giáo hội quy định. Việc cử hành phụng vụ trong thánh lễ đều mang ý nghĩa cầu nguyện cho linh hồn người quá cố. Những người tham dự thánh lễ đều hướng đến việc xin ơn cầu nguyện cho người quá cố sớm được hưởng nhan Chúa.

Sau nghi thức tại nhà thờ, người qua đời được đưa đi an táng. Thứ tự thường là: cờ tang, thánh giá nến cao, trẻ nam, trung nam, bát âm, vòng hoa, quan tài, thân chủ người qua đời, bổn đạo đưa tiễn. Người Công giáo Việt Nam không có tục lệ con đưa tiễn bố qua đời phải đi phía sau, tiễn đưa mẹ qua đời phải đi giật lùi phía trước quan tài. Các hình thức khóc lóc, lăn đường, cắt tóc tang… đều bị giáo hội nghiêm cấm [1, tr. 212]. Tại Vườn Thánh linh mục hoặc Thừa tác viên tiến hành các nghi thức tiễn biệt cuối cùng với người quá cố theo như Giáo hội quy định như nghi thức làm phép ngôi mộ mới, nghi thức từ biệt trước khi hạ quan tài xuống huyệt. Tiễn đưa người quá cố có đông đủ họ hàng thân thích, thân bằng cố hữu và các đồng đạo trong xứ đạo. Ở Philippine, “người Công giáo cũng làm theo các phong tục truyền thống liên quan đến nghi lễ chôn cất, họ thường mời các linh mục làm các nghi thức cuối cùng khi chôn cất người quá cố” [11].

Sau khi an táng người qua đời, gia đình người Công giáo lập bàn thờ tôn kính. Bàn thờ tổ tiên người Công giáo được trang hoàng bày biện với bát hương, hương, nến, đèn, lọ hoa, di ảnh người quá cố, Kinh thánh và hoa quả. Tập tục này cũng thấy ở người Công giáo Trung Quốc, Philippine. Bàn thờ tổ tiên của người Công giáo được lập theo nguyên tắc nhất định, đó là: bàn thờ tổ tiên luôn luôn thấp hơn bàn thờ Chúa Giêsu.

Người Công giáo Việt Nam không có tục bốc mộ, thiêu xác hay cốt người qua đời. Người qua đời được “đào sâu chôn chặt”, còn gọi là kim tĩnh, mộ có thể được xây kiên cố. Kết quả điều tra xã hội học tại các điểm nghiên cứu cho thấy 100% giáo dân Công giáo thực hiện kim tĩnh người quá cố.

Qua thời gian dài, người Công giáo Việt Nam dần dần xuất hiện các loại kinh cầu nguyện liên quan đến người qua đời và tôn kính tổ tiên như: kinh cầu cho bệnh nhân; kinh cầu cho người hấp hối; kinh cầu cho người vừa tắt thở; kinh cầu nguyện lúc tẩm liệm; kinh cầu cho các linh hồn… Tuy không thực hành nghi lễ cúng như truyền thống của người Việt Nam, tín đồ Công giáo không vì vậy mà không có những hình thức tưởng niệm riêng. Những hình thức này dựa trên tập tục cổ truyền nhưng có nội dung Công giáo (như 3 ngày: đi thăm mộ, cầu kinh; 49 ngày: lễ và đọc kinh cầu nguyện; 100 ngày: lễ và đọc kinh cầu nguyện; giỗ đầu hay tiểu tường: đọc kinh cầu nguyện; giỗ hết hay đại tường: đọc kinh cầu nguyện). Kết quả điều tra xã hội học cho thấy tất cả các hình thức trên đều được thực hiện trong cộng đồng giáo dân Công giáo.

Hàng năm đến ngày giỗ, gia đình người Công giáo Việt Nam thường có hai hình thức tưởng niệm chính: xin lễ bàn thờ hoặc xin lễ mồ. Trong các ngày giỗ, người Công giáo xin lễ, đọc kinh, thăm mộ và tổ chức bữa cơm gia đình và cũng gọi là ăn cỗ. Thánh lễ tại nhà thờ vào dịp này thường có sự tham gia đầy đủ của các con cháu trong gia đình và của các đồng đạo khác. Các nghi thức cử hành lễ giỗ không khác nhiều so với các thánh lễ khác. Chỉ có điều, khi thánh lễ bắt đầu, một người trong gia đình người quá cố sẽ cầm một bó hương, đi từ dưới nhà thờ lên trên gian cung thánh, đứng trước linh hương và vái lạy trước sự chứng kiến của mọi đồng đạo. Linh mục làm lễ giỗ phải thông báo tên thánh của người xin lễ giỗ để cộng đoàn giáo dân hiệp thông cầu nguyện cho linh hồn đó. Ngoài ra, buổi tối gia đình người có giỗ thường tổ chức đọc kinh, cầu nguyện cho linh hồn người qua đời. Các đồng đạo trong họ, xứ cũng được mời đến đọc kinh chung. Kinh bắt buộc phải đọc là Kinh cầu cho các linh hồn. Ở các xứ đạo Công giáo Việt Nam, trước đây những người không có con trai để lo việc cúng giỗ cầu nguyện hàng năm, trước khi qua đời, thường “cúng hậu” vào nhà thờ Công giáo.

Ngoài những ngày giỗ, niên lịch Công giáo còn dành riêng ngày 2 tháng 11 hằng năm để cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, đó là ngày lễ các đẳng hay còn gọi là lễ cầu hồn. Tháng 11 dương lịch hằng năm được gọi là tháng Cầu hồn. Vào dịp này giáo dân thường lo tu sửa lại Vườn Thánh, tu sửa mộ chí thân nhân, linh mục, tu sĩ. Buổi chiều ngày 2 tháng 11, một thánh lễ được diễn ra trong nhà thờ để cầu nguyện cho các linh hồn. Sau đó linh mục cùng giáo dân đi từ nhà thờ xứ ra Vườn Thánh. Dọc đường giáo dân đọc kinh cầu nguyện. Sau đó, tín đồ thắp nến trên mộ của người quá cố là thân nhân, đồng hữu của mình. Ngoài ra, vào các dịp cuối năm, đầu xuân, người Công giáo thường ra Vườn Thánh tảo mộ, tưởng nhớ người qua đời. Việc thờ cúng tổ tiên được người Công giáo chú trọng, biểu hiện rõ nhất ở những nghi thức diễn ra trong hai ngày: ngày cuối năm và ngày mồng 2 Tết Nguyên đán. Từ rất lâu đời, ngày mồng 2 Tết Nguyên đán là ngày giáo hội Công giáo Việt Nam chọn là ngày kính nhớ ông bà tổ tiên với một thánh lễ. Tùy theo từng giáo xứ, họ đạo mà tổ chức thánh lễ cho ngày kính nhớ ông bà tổ tiên.

Tại các xứ đạo Công giáo, vào ngày 30 Tết, trong những gia đình tộc trưởng bàn thờ tổ tiên đã được lau chùi sạch sẽ, trang hoàng đẹp đẽ, bày biện thêm nhiều quả, hoa tươi. Vào tối ngày cuối cùng của năm, mọi người trong tộc đều tập trung về nhà ông tộc trưởng, trước khi đọc kinh cầu nguyện cho tiền nhân, người tộc trưởng tuyên bố lý do của việc tập trung cả chi tộc ngày hôm đó. Sau đó, người tộc trưởng đốt hương và vái lạy trước bàn thờ tổ tiên trong sự chứng kiến của toàn thể chi tộc. Sau khi thắp hương, nến, điện trên bàn thờ tổ tiên, buổi cầu nguyện cho tổ tiên bắt đầu diễn ra. Kinh cầu nguyện cho tổ tiên thường là những kinh trong sách bổn và 50 kinh kính mừng với ý chỉ cho tổ tiên. Sau khoảng 1 giờ, việc đọc kinh cầu nguyện kết thúc, mọi người tâm niệm trong mình những tâm tình về công ơn của tổ tiên, ông bà. Người ta nói chuyện và kể lại những câu chuyện về các bậc tiền nhân. Người lớn tuổi kể cho con cháu nghe về những bậc cố nhân, những kỉ niệm xưa. Tất cả tạo nên một không khí thiêng liêng, gần gũi và gợi nhớ về tổ tiên. Vào đầu năm mới, ngày mồng 2 Tết, con cháu lại tập trung ở nhà ông tộc trưởng lần nữa để chúc tết lẫn nhau và chủ yếu là để cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Hình thức cũng giống như buổi lễ cầu nguyện cho tổ tiên vào đêm 30 Tết. Sau đó các gia đình Công giáo trong làng thường “kết thành từng đoàn, toán đến các nhà có người chết trong năm để cầu nguyện cho người quá cố” hay đi đọc kinh chúc tết mọi gia đình đồng đạo khác. Đây là một tập tục tốt đẹp có ở nhiều xứ đạo Công giáo ở Việt Nam như Tử Nê (Bắc Ninh) là một ví dụ điển hình.

Người Công giáo khác với người không theo Công giáo về những nghi lễ liên quan đến họ tộc như không xây từ đường họ tộc và cũng không có ngày giỗ tổ (họ tộc). Thông thường, thánh quan thày của họ đạo được xem là tổ họ. Ngày kỷ niệm thánh quan thày được xem là ngày giỗ họ. Đó là một trong những lễ lớn của họ đạo. Tuy nhiên, người Công giáo ở nhiều nơi vẫn lập gia phả, vẫn ghi nhớ ngày giỗ để truyền cho con cháu các thế hệ kế tiếp. Thông thường trong mỗi gia đình tộc trưởng thường có một cuốn sổ ghi ngày mất, tên thánh của ông bà tổ tiên cho đến đời thứ 3, thứ 4. Còn các đời trước đó thì người ta chọn ngày mồng 2 Tết Nguyên đán làm ngày cầu nguyện chung cho tiền nhân. Thực tế hiện nay ở nhiều vùng Công giáo như Tử Nê (Bắc Ninh), Kim Sơn, Yên Mô (Ninh Bình), việc lập gia phả đã có nhiều. Có hai hình thức lập gia phả phổ biến: một là lập cây gia phả, hai là lập bảng gia phả và treo trên tường tại một nơi trang trọng trong gia đình. Việc lập gia phả trong gia đình giáo dân Công giáo cho thấy ý thức của người Công giáo về ông bà tổ tiên, về gia đình, dòng tộc, về họ hàng thân tộc ngày càng sâu đậm.

 

Ngoài ra, việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Việt Nam còn được thực hiện vào các dịp khác trong năm khi gia đình có việc trọng đại như khi cưới xin, đi làm ăn xa. Kết quả điều tra xã hội học tại 3 điểm nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ ngựời Công giáo thực hiện thờ cúng tổ tiên trong ngày lễ tết chiếm 98,6%, khi tổ chức đám tang và giỗ là 98%, khi tổ chức lễ cưới là 92,6%, lúc gia đình có việc vui, trọng đại (như con cái đỗ đạt, hay có người nhà đi làm ăn xa) là 76%, trong ngày lễ các đẳng là 95%, khi tôn kính tổ trong các giờ cầu nguyện chiếm 76% và trong các thánh lễ là 75%. Đối với việc tôn kính tổ tiên của người Công giáo trong các lễ cưới, kết quả điều tra cho thấy 100% giáo dân đồng tình với việc cô dâu, chú rể phải bái lạy tổ tiên hai bên gia đình. Điều này cho thấy ý thức sâu sắc của người Công giáo về ông bà tổ tiên. Chính ý thức về cội nguồn, về ơn nghĩa sinh thành là động lực và là lời răn dạy sâu sắc cho những thành viên mới bước vào đời sống hôn nhân.

  1. Một số nhận xét (thay lời kết luận)

    6.1.   Thờ củng tổ tiên với giáo lý của đạo Công giáo

    Có thể khẳng định rằng thờ cúng tổ tiên trong cộng đồng người Công giáo Việt Nam có cơ sở nền tảng trong chính giáo lý của họ. Vấn đề báo hiếu tổ tiên là điều mọi người phải quan tâm, giáo lý Công giáo đã đề ra những gì mà mọi tín đồ phải giữ, để chu toàn chữ hiếu đối với ông bà, cha mẹ khi còn sống cũng như khi đã qua đời.

Với người Công giáo, Kinh Thánh là cơ sở nền tảng cho giáo lý và giáo luật của đạo Công giáo. Kinh Thánh có ý nghĩa rất quan trọng đối với người Công giáo, trong đó họ tìm thấy cơ sở niềm tin của họ, tìm thấy lời chỉ dạy về cách sống, cách ứng xử với Thiên Chúa và với con người, trong đó bao gồm các quan hệ với cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, bạn hữu, và cả kẻ thù. Chính lòng hiếu thảo được Thiên Chúa chúc phúc và ban cho con cháu được sống lâu. Các tín đồ Công giáo luôn nhớ rằng, những người con không lo phụng dưỡng cha, và còn khinh thường mẹ thì phạm tội rất nặng: “Như người lộng ngôn, kẻ bỏ bê cha, kẻ khinh rẻ mẹ, là chọc giận Đấng tạo thành ra nó” [7]. Trong giáo lý Công giáo, chữ hiếu rất quan trọng, buộc mỗi người phải tuân thủ vì đó là luật của Chúa. Việc báo hiếu của con cái đối với cha mẹ là bổn phận bắt buộc, cha mẹ không phải mang ơn con cái về những điều đó. Đạo Công giáo rất đề cao công đức của cha mẹ trong việc sinh thành và giáo dưỡng con cái trưởng thành. Đây là chiều kích sâu xa của Công giáo, cho thấy việc báo hiếu của con cái đối với cha mẹ là một bổn phận, không được thoái thác bổn phận đó. Đức Giêsu cũng đã lấy tiêu chí thảo kính cha mẹ là tiêu chí đầu tiên mà tín đồ phải thực hiện để được nên trọn lành [8, tr.16 – 22]. Kinh Thánh công nhận niềm hạnh phúc trào tràn của một gia đình mà cha mẹ biết thương yêu con cái, và con cái biết kính trọng và thảo hiếu với cha mẹ.

6.2.    Những đặc trưng cơ bản của việc thờ củng tổ tiên ở người Công giáo

Người Công giáo tin rằng, con người có hồn và xác, cả hồn và xác đều do Thiên Chúa tạo dựng nên, được thể hiện qua ý nghĩa của trình thuật Thiên Chúa tạo dựng nên Ađam và Êva trong Kinh Thánh. Thuỷ tổ của loài người là Ađam và Êva.

Từ cơ sở niềm tin như vậy, những người Công giáo có những hình thức báo hiếu riêng với ông bà tổ tiên đã qua đời. Trong Công giáo, thánh lễ là công việc chuyển tải nhiều công phúc nhất. Việc thờ cúng tổ tiên ở người Công giáo có những đặc trưng cơ bản của nó như người chết được linh mục làm thánh lễ ở nhà thờ, được làm phép mồ trong Vườn Thánh. Trong ba ngày sau đó, họ hàng, làng xóm sẽ đến nhà hiếu để đọc kinh cầu nguyện cho người qua đời. Trong nhiều ngày đầu, thân nhân đều ra viếng mộ mỗi ngày, có gia đình thực hiện việc đó đến khi giỗ trăm ngày. Các chu kỳ giỗ thông thường là mỗi năm một lần vào ngày mà người đó mất, người ta xin lễ, đọc kinh, thăm mộ. Vào những dịp giỗ trọng (như 49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu…) tất cả con cháu xa gần đều phải về “ăn giỗ” để tưởng nhớ người đã qua đời và để thể hiện sự “hiếu”, sự “kính” của mình với tổ tiên.

 

Một đặc trưng nữa của việc tôn kính tổ tiên nơi người Công giáo là: ngoài những ngày giỗ, niên lịch của Giáo hội còn dành một ngày riêng để cộng đoàn và con cháu cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, đó là ngày mồng 2 Tết Nguyên đán và ngày 2 tháng 11. Vào ngày đó, ở các xứ đạo ngoài thánh lễ do linh mục tổ chức tại nhà thờ, người giáo dân còn xin lễ cầu cho ông bà, cha mẹ, các gia đình tổ chức đi thăm mộ, sửa sang mộ, dọn dẹp Vườn Thánh. Một số nơi linh mục còn tiến hành dâng lễ ngay tại Vườn Thánh. Trong những ngày này, người giáo dân nhắc nhở con cháu tham gia thánh lễ đầy đủ và làm việc lành với ý chỉ cầu nguyện cho ông bà cha mẹ và các linh hồn khác.

 

Việc tang ma giỗ chạp trong cộng đồng Công giáo có nhiều yếu tố hội nhập với văn hóa bản địa. Người ta cũng đặt một bàn nhỏ trưng hoa quả trước linh cữu người quá cố khi xác còn quàn tại nhà, có đặt lư hương để những người viếng xác thắp hương và xá người chết. Trong nhà người Công giáo cũng có bàn thờ ông bà cha mẹ, và nhiều người vẫn thường thắp hương ở đó, nhiều gia đình có đặt hoa quả nhất là trong dịp giỗ, dịp tết, hay khi cây nhà có trái đầu mùa… Nhưng, người Công giáo không tin người chết sẽ hưởng dùng những hoa trái ấy, họ làm thế là để biểu lộ lòng thành kính, hiếu thảo của con cháu mà thôi. Các dịp giỗ chính như giỗ bảy tuần, giỗ trăm ngày, giỗ giáp năm, giỗ mãn tang, là những yếu tố được nhập từ văn hóa bản địa. Những mốc thời gian ấy vốn là truyền thống lâu đời của người Việt, người Công giáo ở Việt Nam cũng vẫn giữ những truyền thống ấy. Nhìn chung, người giáo dân Công giáo rất quan tâm đến việc báo hiếu tổ tiên. Điểm giống nhau giữa người Việt Công giáo với người Việt không theo Công giáo là họ đều thừa nhận sự tồn tại bất tử của linh hồn, nhưng điểm khác biệt giữa họ là quan niệm về hình thức tồn tại của linh hồn và do đó dẫn đến sự khác biệt về hình thức biểu lộ việc thờ cúng tổ tiên [4, tr.31].

 

6.3.   Sự khác biệt giữa người Công giáo và người không Công giáo trong việc thờ cúng tổ tiên

Khác biệt cơ bản là khác biệt trong quan niệm về hồn và sự tồn tại của hồn sau khi chết: trong quan niệm của người Công giáo, khi con người đã chết thì họ được hưởng nhan Chúa hay đến nơi luyện ngục chờ phán xét. Linh hồn ở nơi luyện ngục sẽ được con cháu cầu nguyện để sớm lên Thiên Đàng. Còn người Việt không theo Công giáo quan niệm linh hồn sau khi rời khỏi thể xác sẽ về nơi suối vàng để gặp tổ tiên ở đó. Nơi đó, cũng giống như dương gian, tổ tiên cũng có những nhu cầu như ăn, mặc, ở hay các nhu cầu khác như khi còn sống. Tổ tiên ở đó khác người sống ở chỗ: tổ tiên không thể làm ra những thứ mà mình sử dụng, mà phải nhờ con cháu gửi xuống. Con cháu sẽ gửi xuống những của cải vật chất cho ông bà qua những dịp giỗ, lễ tết, khi gia đình có công việc gì đó, hay khi con cháu cần cầu xin một điều gì. Những sản phẩm gửi cho tổ tiên bằng cách thông thường nhất là đốt vàng mã và cúng tế. Do vậy, cúng giỗ là một hình thức báo hiếu tổ tiên, nếu không cúng giỗ chu toàn cho ông bà tổ tiên nơi suối vàng sẽ bị tổ tiên quở trách, thậm chí nổi giận mà có thể gây ra những điều không may cho con cháu còn đang sống. Kết quả điều tra xã hội học tôn giáo của Viện Nghiên cứu Tôn giáo tiến hành các năm 1995, 1998, 2003, 2005, 2007 cho thấy có khoảng 1/5 số người được hỏi cho rằng một trong những nguyên nhân họ thờ cúng tổ tiên là bởi sợ tổ tiên trừng phạt. (Kết quả điều tra có thể có sự khác nhau giữa các vùng, các năm). Với người Công giáo, điều duy nhất mà tổ tiên ông bà có thể làm là cầu Chúa giáng phúc cho người thân và con cháu hay cho những người đã giúp đỡ họ đang còn sống. Đây cũng là biểu hiện mối tương quan giữa người sống và người chết theo quan điểm của Công giáo. Cho nên tín đồ Công giáo thường không sợ ông bà tổ tiên, họ chu toàn việc cúng giỗ theo những cách thức riêng của Công giáo chỉ nhằm mục đích duy nhất là mong cho tổ tiên sớm được lên Thiên Đàng. Vì thế, những việc mà con cháu làm mang ý nghĩa báo hiếu, nhớ về nguồn cội.

Thờ cúng tổ tiên của người Công giáo và người không Công giáo có những khác biệt trong hình thức thể hiện. Với quan niệm tổ tiên chỉ hưởng dùng những công phúc, nên trong giỗ chạp người Công giáo thường chú trọng đến việc xin lễ, đọc kinh chung và làm những việc lành để hướng về ông bà tổ tiên; họ ít quan tâm đến việc sửa soạn đồ cúng, tuyệt đối không đốt vàng mã. Trên bàn thờ tổ tiên của người Công giáo chỉ có cắm hương trước di ảnh tưởng nhớ ông bà, cha mẹ, một đĩa trái cây, một bình hoa với mục đích tôn kính ông bà, cha mẹ, chứ không hàm ý mời ông bà, cha mẹ dùng. Giỗ chạp trong Công giáo là dịp những người sống lập công phúc thay cho người chết để họ mau đền hết tội lỗi của mình, sớm được lên Thiên Đàng.

 

Người Việt Nam không Công giáo do tin rằng tổ tiên còn hưởng dùng những của cúng nên coi trọng việc chuẩn bị giỗ và đồ lễ cúng. Khi mời ông bà về với con cháu, nếu không có điều kiện kinh tế sửa soạn “mâm cao cỗ đầy” thì ít ra họ cũng phải có bát cơm, quả trứng, bộ quần áo bằng mã để hoá cho ông bà khỏi đói rét. Nếu không làm được như vậy thì con cháu sẽ không an lòng, thậm chí sẽ mang tội bất kính, bất hiếu với tổ tiên và có thể bị tổ tiên giận dỗi hay trừng phạt.

6.4.  Những điểm tương đồng giữa người không theo Công giáo và người Công giáo trong việc thờ củng củng tổ tiên

Điểm tương đồng trước tiên là quan niệm về sự chết. Chết không phải là hết. Mặc dù cả hai nhóm xã hội – tôn giáo này có lối diễn tả khác nhau về sự tồn tại và nơi cư ngụ của linh hồn sau khi chết, nhưng họ đều diễn tả một điểm: chết không phải là hết. Vì tin rằng chết không phải là hết nên cả người Công giáo và không Công giáo cùng chung một điểm nữa là luôn tin rằng tổ tiên sẽ còn quan tâm đến con cháu, vẫn luôn bên cạnh con cháu trong cuộc sống hàng ngày với những vui buồn của con cháu. Cho dù quan niệm như thế nào, thì việc giỗ chạp trước hết là một cách thức để báo hiếu tổ tiên. Mỗi người đều có cha mẹ, đều phải mang ơn sinh thành của cha mẹ. Hay nói cách khác, mỗi người đều được cấu thành từ những tế bào gia đình, lớn hơn là dòng họ, tổ tiên. Vì thế, xã hội hay những nhóm xã hội đều có bổn phận ghi ơn tổ tiên, đồng thời khuyến khích mỗi thành viên trong gia đình và dòng họ, trong cộng đồng phải báo hiếu tổ tiên. Điều này rất được coi trọng trong xã hội Việt Nam và trở thành bản sắc trong văn hóa Việt Nam.

Một điểm tương đồng nữa trong vấn đề thờ cúng tổ tiên giữa người Công giáo ở Việt Nam và các quốc gia khác như Trung Quốc, Philippine, Nhật Bản với người không Công giáo là ý thức tìm về nguồn cội. Trong việc báo hiếu, thờ cúng tổ tiên cả hai nhóm xã hội – tôn giáo đều có ý nghĩa này. Tầm quan trọng của nguồn cội là một trong những yếu tố không thể thiếu để ổn định mọi mặt tâm lý, tình cảm, ý chí, lý trí của một con người.
Ghi chú

(*) Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. ĐT: 0983650450. Email: duchanh05@gmail.com. Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted) trong đề tài mã số I2.2-2012.24.
Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Hồng Dương (2001), Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hoá Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[2] Lê Đức Hạnh (2008), “Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người Công giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ – Việt Nam (Tiếp cận Nhân học Tôn giáo qua nghiên cứu trường hợp làng đạo Tử Nê – Bắc Ninh)”, Vietnam Intergration and Development, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[3] Lê Đức Hạnh, Kết quả điều tra xã hội học tôn giáo tại xứ đạo Tử Nê năm 2008, 2014; Nỗ Lực 2009, 2011; Cái Mơn 2009, 2014.

[4] Phạm Thị Bích Hằng (1998), Vấn đề thờ kính to tiên trong nền văn hoá đương đại Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp đại học, Hà Nội.

[5] Nguyễn Như Thể, Nguyễn Hữu Triết, Hồ Văn Xuân (1992), Thần học giáo dân, t.1, Ủy ban đoàn kết Công giáo, Tp. Hồ Chí Minh.

[6] Đoàn Văn Thông (1994), Những bí an sau cõi chết, chương III, V và VIII, Nxb Nguồn sống.

[7] Kinh Thánh, sách Huấn Ca, chương 3, 16.

[8] Kinh Thánh, sách Mác Thêu, chương 19.

[9] http://luanvan.co/luan-van/tin-nguong-tho- cung-to-tien-cua-nguoi-viet-va-mot-so- quoc-gia-dong-nam-a-54616/,.

[10]  http://sachhiem.net/charlie/cn – ttdtg/ Duongcut.php.

[11] Susan Russell (1999), Christianity in the Philippines, Department of Anthropology, University of Illinois, USA, available on http://www.seasite.niu.edu/crossroads/russ ell/christianity .htm.

Tác giả: Lê Đức Hạnh
Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1(98)

Việc hãm mình còn ích lợi hơn cả việc ăn chay, theo thánh Gioan Thánh Giá

Các tác giả tu đức luôn nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc ăn chay, nhưng với thánh Gioan Thánh Giá thì việc hãm mình sau đây sẽ mang lại nhiều ích lợi hơn.

Đây là việc hãm mình còn ích lợi hơn cả việc ăn chay, theo thánh Gioan Thánh Giá

Ngài đã viết trong cuốn “Ngọn lửa tình nồng” rằng: “Chiến thắng được cái lưỡi thì tốt hơn việc kiêng ăn nhịn uống.”

Điều thánh nhân đề cập đến ở đây, chính là khả năng sử dụng lời nói để nối kết tình thân với tha nhân, thay vì làm tổn thương họ.

Nếu hôm nay Thánh Gioan Thánh Giá còn tại thế, có lẽ ngài sẽ nói: “Chiến thắng được chính mình, quyết không đưa ra những bình luận xấu trong thời đại kỹ thuật số thì lợi ích hơn cả việc ăn chay”. Làm được điều đó đòi hỏi một sự hãm mình thật nghiêm khắc, vì khi sử dụng Internet, người ta rất dễ đưa ra những bình luận xấu để chế giễu, hoặc lén lút nói xấu một ai đó.

Chúng ta thường quên rằng phía sau hàng triệu tài khoản mạng xã hội là những con người thật, và có lẽ không ít lần chúng ta làm tổn thương họ vì những bình luận của chúng ta.

Hãy tập nên thánh trong cách dùng ngôn ngữ và phương thế tương tác trên mạng, điều này khó hơn nhiều so với việc ăn chay. Khi thấy xu hướng xấu và tính khí bốc đồng bản thân mình nổi lên, hãy tắt điện thoại, nếu bạn không muốn hối tiếc.

Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta rằng: “Tôi nói cho các người hay: đến Ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói. Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án; và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án.” (Mt 12, 36-37)

Hạt Nắng

Những lời chúc mừng Đức Thánh Cha nhân dịp 50 năm linh mục

cq5dam.thumbnail.cropped.750.422 (1)

Nhân kỷ niệm 50 năm thụ phong linh mục của Đức Thánh Cha Phanxicô, nhiều lời chúc mừng đã được gửi đến Đức Thánh Cha cùng với lời cầu nguyện đặc biệt cho ngài.

Đức Hồng y Angelo Sodano

Trong Thánh lễ được cử hành tại nhà nguyện thánh Marta sáng 13/12, Đức Hồng y Sodano đã đại diện cho các Hồng y ở Roma chúc mừng Đức Thánh Cha. Đức Hồng y nói: “Đức Giáo Hoàng Phanxicô đáng kính và quý mến, hôm nay, bài thánh thi cổ xưa “Te Deum” – Chúc tụng Chúa, bài ca vang lên trong Giáo hội từ nhiều thế kỷ để tạ ơn Chúa vì những ơn lành Người đã ban, bộc phát từ trái tim chúng con… Hôm nay, chúng con quy tụ quanh Cha, liên kết với Cha trong lời nguyện tạ ơn Chúa vì ngày ân sủng đó, ngày 13/12/1969…” Đức Hồng y bảo đảm tiếp tục cầu nguyện cho Đức Thánh Cha và hỗ trợ cho sứ vụ của Đức Thánh Cha bằng sự dấn thân hằng ngày.

Chủ tịch hội đồng Giám mục Ý

Đức Hồng y Gualtiero Bassetti, Chủ tịch hội đồng Giám mục Ý cũng gửi đến Đức Thánh Cha lời chúc mừng của Giáo hội Ý. Ngài nói: “Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thụ phong linh mục của Đức Thánh Cha, Giáo hội tại Ý hiệp thông với Cha bằng lời cầu nguyện ngợi khen và tạ ơn Chúa.” Đức Hồng y chủ tịch cám ơn Đức Thánh Cha về chứng tá, giáo huấn, lời nói và hành động của ngài; cám ơn Đức Thánh Cha về sự quan tâm và tình yêu của ngài mang lại cho Giáo hội niềm vui của Tin Mừng; cám ơn Đức Thánh Cha đã tái khẳng định vẻ đẹp và khó nhọc của lời thưa “vâng”; cám ơn Đức Thánh Cha cảnh giác về mối nguy của việc không có khả năng suy tư và tạ ơn; cám ơn Đức Thánh Cha về tình phụ tử thiêng liêng,… và cám ơn Đức Thánh Cha đã không đánh mất niềm vui được mời gọi mỗi ngày và sẵn sàng bước tới với sự khiêm nhường và can đảm.

Chủ tịch Hội đồng Giám mục châu Mỹ Latinh

Trong thư chúc mừng Đức Thánh Cha, Đức cha chủ tịch Hội đồng Giám mục châu Mỹ Latinh viết: “trong dịp kỷ niệm thụ phong linh mục này, chúng con muốn tái bày tỏ tình cảm hiếu thảo của mình với Cha, sự trung thành với giáo huấn của vị kế vị thánh Phêrô và chúng con muốn đảm bảo cầu nguyện cho Cha, xin Chúa Hài Nhi, ánh sáng chiếu tỏa trong bóng tối, sẽ luôn đồng hành với Cha với ánh sáng và Thần Khí của Người.

Giáo phận Roma

Và chắc chắn là không thể thiếu lời chúc mừng từ giáo phận Roma gửi đến vị Giám mục của mình. Chiều ngày 12/12, Đức Hồng y Angelo De Donatis, Giám quản Roma, đã nhân danh toàn thể giáo phận gửi thông điệp chúc mừng đến Đức Thánh Cha.

Đức Hồng y viết: “Thưa Đức Thánh Cha, Giáo phận Roma không quên cầu nguyện cho ngài.. Tất cả lời cầu nguyện của chúng con, cho ngài, cho Giáo hội và cho thế giới, cũng như lời cám ơn vì ngài đang nắm tay dẫn chúng con trên các nẻo đường của con người, “với lòng thương xót”, với cái nhìn yêu thương dịu dàng. Từ thành phố này, một lời cầu nguyện hàng ngày cho ngài, đấng kế vị thánh Phêrô. Đặc biệt hôm nay, chúng con tạ ơn Chúa về hồng ân đôi tay ngài đã được thánh hiến cách đây 50 năm, đôi tay giơ lên cao để khẩn cầu cho chúng con và hướng về tất cả để trao ban tình yêu. Xin hãy biết rằng đôi tay nâng cao của ngài được chúng con nâng đỡ mỗi ngày, mỗi phút giây.” Trước đó, hôm Chúa nhật 08/12, lễ Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội, toàn thể giáo phận Roma đã cử hành Thánh lễ với ý cầu nguyện đặc biệt cho Đức Thánh Cha. (REI 12/12/2019)

 

 

Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội

hinh-loi-chua-co-khung-12-08

Đức Maria được tiền định: Khi “Thiên Chúa sai Con mình tới” (Gl 4,4) nhưng để tạo một thân xác cho người, Thiên Chúa đã muốn có sự tự do cộng tác của một thụ tạo. Với mục đích ấy, từ muôn đời Thiên Chúa đã chọn Đức Maria làm Mẹ của Con mình, một người con gái Israel, một thiếu nữ Do Thái ở Nazareth miền Galilêa, “một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavid, trinh nữ ấy tên là Maria” (Lc 1,26-27). Để làm Mẹ Đấng Cứu độ, Đức Maria “đã được Chúa ban cho các hồng ân xứng với nhiệm vụ cao cả ấy[1]. “Lúc Truyền tin, thiên thần Gabriel đã chào Mẹ là “người đầy ân phúc[2].

Qua các thế kỷ, Hội thánh đã ý thức rằng Đức Maria, vì được Thiên Chúa ban cho “đầy ơn phúc”, nên được cứu chuộc ngay từ lúc tượng thai. Tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội do Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố năm 1854: “Rất Thánh Trinh Nữ Maria ngay từ lúc đầu tiên tượng thai, bởi ân sủng và đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, trông vào công nghiệp của Đức Kitô Giêsu Đấng Cứu độ loài người, đã gìn giữ tinh tuyền khỏi mọi vết nhơ của nguyên tội[3].

Năm 1858, khi hiện ra với cô Bernadette Soubirous ở Lộ Đức, Đức Maria giới thiệu mình là “Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Câu này đã có hậu quả quan trọng trong lịch sử. – Reinold Schneider (1903–1958), văn sĩ Đức.

“Vô Nhiễm Nguyên Tội” nghĩa là gì ? “Từ muôn thuở và một cách hoàn toàn nhưng không, Thiên Chúa đã chọn Đức Maria làm Mẹ của Con mình. Để chu toàn sứ mạng này, Mẹ đã được ơn Vô Nhiễm ngay từ lúc được thụ thai. Điều này có nghĩa là, nhờ ân sủng của Thiên Chúa và đón nhận trước công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đức Maria đã được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ ngay từ lúc được thụ thai”[4].

“Gọi Đức Maria Vô nhiễm Nguyên tội nghĩa là gì? Hội thánh công giáo tin rằng “Thánh Nữ Đồng trinh Maria, từ lúc bắt đầu đậu thai, bởi ơn huệ và lòng quý mến đặc biệt của Thiên Chúa toàn năng, và bởi công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc, được gìn giữ khỏi lây nhiễm mọi vết nhơ của tội Tổ Tông, vì thế ta xưng tụng Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên Tội (Tín điều 1854). Trong lịch sử Hội Thánh, Kitô hữu đã sớm tuyên xưng Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Kiểu nói này ngày nay bị hiểu lầm. Nó có nghĩa là ngay từ lúc đầu, Thiên Chúa đã gìn giữ Đức trinh nữ Maria khỏi mắc tội tổ tông truyền. Kiểu nói đó không áp dụng cho việc thụ thai Chúa Giêsu trong lòng Đức Maria. Kiểu nói đó không phải là làm mất giá trị của tính dục Kitô giáo, coi như một người nam và một người nữ phạm tội với nhau để sinh con”[5].

“Đức Maria vô nhiễm nguyên tội là một tín điều dạy rằng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa không hề bị nhiễm tội nguyên tổ (thuộc Tín điều). Người ta cũng tin rằng Mẹ không nhiễm tội cá nhân, và không vướng một ước muốn bất chính hay dục vọng nào (thuộc truyền thống và tính hợp lý). Tự bản tính, bà đã được giữ sạch khỏi tội nguyên tổ nhưng không có nghĩa là không phải chịu những khiếm khuyết do tội ấy gây ra. Cũng như Đức Giêsu, Đức Maria vẫn có những giới hạn của mình, nhưng những giới hạn này không hẳn là sự bất toàn về mặt luân lý”[6].

Các giáo phụ thuộc truyền thống Đông Phương gọi Mẹ Thiên Chúa là Đấng Toàn Thánh (Panaghia) và tôn vinh Mẹ là “Đấng không hề vương nhiễm một vết nhơ tội nào, như thể một tạo vật mới được Chúa Thánh Thần nắn đúc và tạo dựng[7]. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Đức Maria suốt đời tinh tuyền không hề phạm tội riêng nào. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Mẹ phục vụ mầu nhiệm Cứu chuộc. Thánh Irênê nói: “Nhờ vâng phục, Đức Mẹ đã trở nên nguyên nhân ơn cứu độ cho chính mình và toàn thể nhân loại”.

“Đàng khác, nơi Người Nữ được tiên báo trong Tiền Tin mừng, nhiều giáo phụ và tiến sĩ Hội thánh nhận ra Đức Maria, Mẹ Đức Kitô, như là một “Evà mới”. Đức Maria là người đầu tiên và theo một cách thế độc nhất vô nhị, được thừa hưởng chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi: Bà được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội tổ tông và trong suốt cuộc đời trần thế của mình, nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Bà không hề phạm một tội nào”[8]. “Sự chết qua bà Evà, sự sống qua Đức Maria[9].

[1] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 56: AAS 57 (1965) 60.

[2] X. Lc 1,28.

[3] ĐGH Piô IX, Tông sắc Ineffabilis Deus: DS 2803.

[4] Bản toát yếu – Sách giáo lý của hội thánh công giáo, Hội đồng giám mục Việt nam – Ủy ban giáo lý đức tin, NXB Tôn giáo, Tp. HCM 2013, tr. 65.

[5] Youcate, Giáo lý hội thánh công giáo cho người trẻ, NXB Văn Hóa – Văn Nghệ Tp.HCM, Tp. HCM 2016,  tr. 85-86.

[6] Lm. Đặng Xuân Thành (Dịch Nhóm Chánh Hưng) (2008), Từ điển Công giáo phổ thông, NXB Phương Đông tr. 194-195.

[7] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 56: AAS 57 (1965) 60.

[8] Sách giáo lý của hội thánh công giáo, Hội đồng giám mục Việt nam – Ủy ban giáo lý đức tin, NXB Tôn giáo, Hà Nội 2010, tr. 131.

[9] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 56: AAS 57 (1965) 60-61.

Tác giả bài viết: Agape