Archive | Uncategorized RSS for this section

6 vật mà một người Công Giáo nên có trong nhà

Thật ra thì không có một giới hạn nào về những đồ vật tôn giáo đẹp đẽ mà một người Công Giáo có thể có trong nhà. Tuy nhiên, có thể đây là 6 món đồ mà người Công Giáo nên có trong nhà nhất, với một giải thích ngắn.

1. Cây Thánh giá

Biểu tượng nổi bật và đặc trưng nhất của đức tin Kitô Giáo chính là cây Thánh giá, ngay từ thời kỳ đầu tiên của đức tin. Quả vậy, cây Thánh giá của Chúa Giêsu Kitô chính là khí cụ cứu độ chúng ta. Những tín hữu thời đầu vẽ Thánh giá lên cả cơ thể họ. Ngày nay, chúng ta lưu lại truyền thống này bằng dấu Thánh giá mà ta kêu cầu lên Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Trong nhà chúng ta, cây Thánh giá đóng vai trò là vật nhắc nhở về ân huệ Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta trên Thánh giá. Đó là một á bí tích của Giáo Hội mà nhờ chiêm ngắm nó bằng con mắt thể xác, con mắt linh hồn chúng ta cũng mở ra với thác nguồn ân sủng của Thiên Chúa.

2. Ảnh tượng đức tin

Một vật nhắc nhở đức tin tuyệt vời là các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo. Tượng, tranh vẽ, ảnh icon có ý nghĩa sâu sắc hơn là các vật lưu niệm hay trang trí đơn thuần.

Một điều chắc chắn là chúng ta không bao giờ “thờ” các ảnh tượng này; sự thờ phượng chỉ hướng về một Thiên Chúa Ba Ngôi mà thôi. Nhưng các ảnh tượng giúp ta tưởng nhớ và bắt chước các Đấng mà ảnh tượng ấy mô tả. Điều đó có nghĩa là, nếu trong nhà chúng ta có một bức ảnh Thánh Giuse, việc treo ảnh làm chứng rằng chúng ta tin vị Thánh vĩ đại này đang ở trên Thiên đàng với Thiên Chúa, Thánh Giuse đang sống động thực sự trong Chúa Kitô. Do vậy, chúng ta có thể thưa chuyện với ngài, và học theo các nhân đức mà ta biết từ ngài. Đây không phải là đi đường vòng, không đến trực tiếp Thiên Chúa, nhưng thật ra là chính trong ân sủng của Thiên Chúa mà một người ở dưới đất và một người ở Thiên đàng có thể kết nối với nhau. Ảnh thánh đại diện cho sự hiện diện của vị Thánh, người đang ở trên Thiên đàng, và giúp cảm quan thể xác chúng ta tôn kính mà hướng đến vị Thánh để cầu nguyện.

3. Móc treo tường

Mỗi người Công Giáo cũng nên có móc treo tường trong không gian sống. Trong vấn đề đạo, móc treo tường phục vụ như nơi treo xâu chuỗi Mân Côi. Với người Công Giáo thuộc truyền thống Byzantine thì có thể treo chuỗi chotkis hoặc dây cầu nguyện. Treo xâu chuỗi ở một không gian chung, dễ thấy có thể là cách hiệu quả để nhắc nhở mọi người trong gia đình cầu nguyện, đôi khi là cầu nguyện cùng nhau.

4. Bình đựng nước thánh

Nước thánh là một á bí tích nhắc nhở về phép Rửa tội. Nhờ nước của phép Rửa, chúng ta được tẩy sạch vết nhơ tội lỗi, và được tháp nhập vào thân mình Chúa Giêsu Kitô, được đóng ấn tín Thánh Thần, và được nhận ơn thánh hoá linh hồn từ Thiên Chúa toàn năng.

Khi chúng ta chấm nước thánh và làm dấu Thánh giá, chúng ta cho phép ân sủng Chúa chỉnh đốn con người chúng ta, củng cố mối liên kết sự sống của chúng ta với sự sống của Thiên Chúa, và tuyên xưng lại trong lòng về bí tích Rửa tội mình đã lãnh nhận. Hội Thánh cũng ban ơn tiểu xá cho việc này.
5. Tượng đài Đức Mẹ Maria

Một khung cảnh đẹp đẽ khác mà gia đình chúng ta nên có, nếu có điều kiện, là đặt tượng Đức Trinh Nữ Maria trong vườn nhà và trồng cây xanh quanh tượng đài ấy. Đó cũng là một cách truyền giáo tốt nếu tượng được đặt ở sân trước nhà, nơi dễ nhìn thấy từ ngoài đường.

Nhiều người, với tư tưởng rất con người, sợ rằng mình đã tôn kính Đức Mẹ nhiều quá mức. Thực chất, chúng ta không bao giờ có thể tôn kính và yêu mến Mẹ Maria nhiều hơn Con Một Mẹ là Chúa Giêsu Kitô, Đấng không ngừng muốn chúng ta yêu mến Mẹ ngày một hơn. Thật vậy, càng tôn kính Đức Trinh Nữ là càng tôn vinh và chúc tụng Chúa Giêsu. Đức Mẹ dẫn ta đến Chúa. Đức Mẹ trông nom và bảo vệ ta. Đức Mẹ kéo mọi ơn Chúa Thánh Thần cho con cái trên thế gian. Trong mầu nhiệm Hội Thánh là Thân Mình Chúa Kitô, Đức Mẹ chính là cái cổ để thông chuyển mọi sự tốt lành của Đầu xuống thân mình.

Một khi đã “xin vâng”, Đức Mẹ không ngừng trở thành người mang Chúa cho thế giới. Nhìn ngắm Mẹ chính là nhìn ngắm sự kiện Thiên Chúa Ngôi Lời làm người và giáng sinh. Ở với Chúa là ở Thiên đàng, vì thế, Mẹ chính là người mang Thiên đàng đến cho tất cả chúng ta.

6. Lịch Công Giáo

Ở nhiều nơi, các nhà thờ phát lịch Công Giáo đến các tín hữu mỗi tuần hoặc mỗi tháng. Lịch Công Giáo là quyển lịch ghi thông tin các ngày lễ Công Giáo trong suốt năm. Quyển lịch này nên được để ở giữa nhà, chỗ dễ thấy, để mọi người đều có thể xem.

Là một điều tốt lành khi các tín hữu biết điều gì đang diễn ra trong niên lịch Giáo Hội để có thể giữ đức tin luôn sống động. Chẳng hạn, gia đình có thể đặt một cái bánh kem để ăn mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội hoặc Hồn Xác Lên Trời. Đến lễ Thánh bổn mạng hoặc một vị Thánh mình yêu thích, gia đình có thể trang trí những biểu tượng của vị Thánh đó hoặc cầu nguyện đặc biệt với ngài.

Theo Catholic-link.org
Gioakim Nguyễn biên dịch

 

Thứ tư Tuần 6 Phục sinh

Lời Chúa: Ga 16,12-15

12 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. 13 Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. 14 Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. 15 Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói : Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em.”

Suy Niệm

Làm người ở đời, một trong những điều rất khó
là sống bình an hạnh phúc với người khác.
Trong gia đình, nơi Giáo hội, ngoài xã hội, trên thế giới,
đâu đâu cũng thấy những xung đột và khổ đau do con người gây cho nhau.
Từ cái chết của Aben đến cái chết của một thai nhi bị người mẹ chối từ.
Một triết gia người Pháp viết: “Hỏa ngục chính là những người khác.”
Mục tiêu của giáo dục không phải chỉ là đào tạo những người giỏi giang,
mà còn là huấn luyện nên những người biết sống với và sống cho người khác.
Để được vậy, cần giúp người ta ra khỏi sự ích kỷ, khép kín của lòng mình.
Đời sống của Ba Ngôi giúp chúng ta biết cách sống với người khác.

Ba Ngôi sống tùy thuộc lẫn nhau.
Cha đã sai Đức Giêsu đến với thế gian (Ga 3, 17).
Khi rời bỏ thế gian, Đức Giêsu đã sai Thánh Thần đến (Ga 15, 26; 16, 7).
Chấp nhận được sai phái là chấp nhận tùy thuộc.
Nếu Đức Giêsu đã không tự mình nói điều gì,
và chỉ nói đúng những điều mà Ngài đã nghe được từ Cha (Ga 8, 26; 12, 50),
thì Thánh Thần cũng không tự mình nói điều gì (c. 13).
Thánh Thần chỉ loan báo điều mình đã nghe từ Đức Giêsu (c. 14),
và làm các môn đệ nhớ lại những gì Thầy Giêsu đã nói (Ga 14, 26).
Không tự mình nói, không tự mình làm: đó là dấu hiệu của sự tùy thuộc.

Ba Ngôi sống cho nhau.
Nếu Đức Giêsu đã tôn vinh Cha bằng cách vuông tròn việc Cha giao (Ga 17, 4),
thì Thánh Thần cũng tôn vinh Đức Giêsu
bằng việc loan báo, soi sáng, nhắc nhớ những lời Ngài dạy (c. 14).
Chính Chúa Cha cũng tôn vinh Đức Giêsu qua phục sinh vinh hiển (Ga 17,1).
Ba Ngôi không tìm vinh quang cho mình, nhưng mở ra để chia sẻ.
“Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy” (c. 15).
“Tất cả những gì của Cha đều là của Con…” (Ga 17, 10).
Cha là nguồn mạch trao cho Con tình yêu, sự sống, quyền năng, vinh quang.
Và Con cũng chẳng giữ gì cho mình, Con chia sẻ cho cả các môn đệ.

Đến giờ phút chia tay, nhưng Thầy Giêsu phải khiêm tốn nhìn nhận rằng
mình còn nhiều điều chưa nói hết (c. 12).
Khiêm tốn là chấp nhận ra đi khi phần việc của mình đã xong,
tuy công việc vẫn còn dang dở.
Khiêm tốn là chấp nhận giới hạn của các môn đệ, họ cần thời gian để chín.
Khiêm tốn là chấp nhận mình cần được bổ sung bởi người khác,
mình không làm được hết mọi sự.
Đức Giêsu là Sự Thật đã được chính Ngài vén mở cho ta,
nhưng Thánh Thần mới là Đấng đưa chúng ta vào mầu nhiệm Giêsu,
vào Sự Thật trọn vẹn (c. 13).

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Thánh Thần,
xin ban sức sống cho chúng con.
Xin cho cuộc đời Kitô hữu của chúng con
đừng rơi vào sự đơn điệu nghèo nàn,
vào những lối mòn quen thuộc,
nhưng xin canh tân
và tái tạo chúng con mỗi ngày.

Xin nuôi chúng con bằng những thức ăn mới,
cho chúng con khám phá ra
những chiều sâu khôn dò của Đức Kitô
và ý nghĩa thâm thúy của Tin Mừng.

Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống,
thế giới hôm nay luôn bị đe dọa
bởi bạo lực, khủng bố, chiến tranh ;
mạng sống con người bị coi rẻ.

Xin cho chúng con biết say mê sự sống,
và gieo vãi sự sống khắp nơi.

Ước gì Chúa ban cho nhân loại
một lễ Hiện Xuống mới
để con người có thể hiểu nhau hơn
và đón nhận nhau trong yêu thương.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

Chúa lên Trời, ta hãy mến yêu những sự trên Trời

Hôm nay, Chúa lên Trời, chúng ta hướng tâm hồn lên với Chúa, và trông đợi Người lại đến như lời đã hứa trước khi về Trời, để Người ở đâu chúng ta cũng ở đó. Vì thế, chúng ta hãy nuôi dưỡng lòng ái mộ những sự trên Trời, để cũng được cả xác lẫn hồn về trời với Chúa. Đây là niềm vui lớn lao và tràn đầy hy vọng khi chúng ta hướng về tương lai trên hành trình dương thế. Toàn bộ ý nghĩa Chúa về Trời được các bài đọc Thánh Kinh diễn tả. Nội dung chứa đựng trong những lời sau : “Chúa Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, Người căn dặn các Tông đồ xong… “. Và sau đó ” Người lên Trời ” (x. Cvtđ 1, 1- 11).

“Đã đến giờ Chúa Giêsu rời bỏ thế gian mà về cùng Đức Chúa Cha”. Lời này được lặp đi lặp lại mỗi đoạn Tin Mừng trước lễ Chúa về Trời. Chúa giã từ Đức Maria Mẹ Người và nhất là tâm sự với các môn đệ nhiều điều. Hôm nay Người bảo các ông : ” Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất “(Cvtđ 1, 8 ). Nhiệm vụ của các Tông Đồ từ đây được ủy thác, đến lượt mình các ông phải thi hành.

Để khỏi lạc lõng bơ vơ không người hướng dẫn, Chúa Giêsu đã xin Chúa Cha ban xuống Chúa Thánh Thần xuống trên các Tông Đồ để hướng dẫn Giáo hội đi trên đường chân lý. Tin Mừng phải được rao truyền bởi quyền năng của Thiên Chúa chứ không phải do sức mạnh, khôn ngoan của người đời. Trước khi về Trời, Chúa Giêsu ” đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa ” (Cvtđ 1, 4 ). Người nói với các ông : “các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con” (Mt 28, 19 ). Căn cứ vào lời của Chúa Giêsu, các Tông Đồ có trách nhiệm phải loan báo Tin Mừng cho thế giới, làm phép cho muôn dân, nói cho thế gian biết về Nước Thiên Chúa và ơn cứu độ, nhất là phải làm chứng về Chúa Kitô ” cho đến tận cùng trái đất “(Cvtđ 1, 8). Giáo Hội sơ khai thấu hiểu huấn lệnh Chúa truyền, nên đã khai mở thời kỳ truyền giáo dù biết rằng thời kỳ này chỉ kết thúc vào ngày Chúa Giêsu lên trời, và trở lại.

Những lời Chúa Giêsu để lại cho Giáo hội là kho tàng vô giá. Giáo hội không những phải gìn giữ, loan báo, suy niệm mà còn sống nữa. Chúa Thánh Thần sẽ làm bén rễ sâu trong lòng Giáo hội ơn đặc sủng được sai đi. Chúa Giêsu đã và sẽ luôn sống trong Giáo hội như lời Người đã hứa : ” Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế ” (Mt 28, 20 ). Vì thế, Giáo hội nhận ra sự cần thiết phải trung thành với kho tàng đức tin và lời dạy của Chúa, đồng thời thông truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Lời Chúa và chỉ có Lời Chúa là nền tảng cho mọi sứ vụ, cũng như tất cả các hoạt động mục vụ của Giáo hội. Thẩm quyền của Lời Chúa là nền tảng mà Công Đồng Vatican II và Thánh Gioan XXIII đã nhấn mạnh trong bài phát biểu khai mạc : ” Mối quan tâm chính của Công đồng Đại kết, là kho tàng thiêng liêng Kitô giáo phải luôn được giữ gìn và giảng dạy ” ( Bài phát biểu của ngày 11 tháng 10 1962 ).

Suy tư thứ hai về ý nghĩa Chúa Giêsu lên trời dựa trên cụm từ : ” Chúa Giêsu lên Trời ngự bên hữu… “. Theo lời thánh Lêo Cả, khi Vị Thủ Lãnh của chúng ta bước vào thiên đàng và ở trên đó, ” vinh quang của Đầu ” đã trở thành “niềm hy vọng cho thân xác ” (x. Sermo Ascensione Domini). Chúa Giêsu đã vĩnh viễn bước vào thiên đàng, ” Người là Đầu và là Trưởng Tử giữa đàn em đông đúc” (Rm 8, 29). Vì bản tính của chúng ta là ở trong Thiên Chúa và ở trong Đức Giêsu Kitô. Nên vì loài người chúng ta (thân xác), Chúa Giêsu là (Đầu) hằng sống đến muôn thủa muôn đời hằng cầu thay nguyện giúp cho chúng ta trước mặt Chúa Cha (x. Dt 7 , 25). Từ tao cao vinh hiển, Người gửi cho Giáo hội một sứ điệp hy vọng và mời gọi hướng đến sự thánh thiện trên Trời nơi Người đang ngự bên hữu Thiên Chúa.

Nhờ công nghiệp và lời cầu bầu của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha cho chúng ta, chúng ta có hy vọng đạt tới sự công chính và sống thánh thiện nơi Người. Giáo hội có thể gặp phải những khó khăn, việc loan báo Tin Mừng có thể bị thất bại, nhưng vì Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha, Giáo hội sẽ không bao giờ bị đánh bại. Sức mạnh của Chúa Kitô vinh hiển, Con yêu dấu của Chúa Cha hằng gìn giữ chúng ta, giúp chúng ta tận tụy và trung thành với Nước Thiên Chúa một cách quảng đại. Sự kiện lên Trời của Chúa Kitô ảnh hưởng cụ thể đến đời sống hàng ngày của chúng ta. Vì mầu nhiệm này, toàn thể Giáo hội có ơn gọi đợi chờ trong niềm hân hoan hy vọng ngày Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta ngự đến.

Chúa Giêsu vị Thủ Lãnh của chúng ta đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, hiển vinh về Trời, đó là niềm hy vọng của chúng ta. Người sẽ trở lại đón chúng ta đi với Người. Để được về Trời với Chúa, chúng ta hãy gia tăng lòng mộ mến những sự trên trời và tích cực làm việc vì Nước Trời.

Lạy Nữ Vương Thiên Ðàng, xin gìn giữ chúng ta là con cái Mẹ, biết sống và thực hành lời Chúa dạy, để một ngày kia chúng con cũng được về Trời với Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các thánh vui hưởng tôn nhan Chúa Ba Ngôi đến muôn thủa muôn đời. Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

8 điều mỗi người Công Giáo nên làm hàng ngày

Dưới đây là một bài nói chuyện đầy ấn tượng của Cha Fr. Larry Richards chia sẻ về sự sống đời đời. Hãy dành vài phút mỗi ngày ngay từ bây giờ để thôi thúc bạn sống với mục tiêu nhằm tiến tới sống trường tồn mai sau.

Sau khi nghe bài chia sẻ, tôi thậm chí cảm thấy được thôi thúc mạnh mẽ hơn để sắp xếp lại một ngày của tôi trên trái đất này làm sao giống như những gì tôi hình dung ra trong cuộc sống vĩnh hằng mai sau. Hãy để cách sống của bạn thể hiện được sự đợi trông của bạn cho cuộc sống trên Thiên Quốc với Chúa Cha.

8 điều mỗi người Công giáo nên làm hàng ngày:

1. Bắt đầu một ngày bằng lời cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, và tâm tình với Mẹ Maria

Nghe thì quá đơn giản, tuy nhiên tôi vẫn không hiểu tại sao có nhiều ngày tôi vẫn không thể “cầm trí” khi cầu nguyện. Mỗi ngày của chúng ta cần phải tập trung vào thói quen này. Hãy lập thời khóa biểu cho việc này. Đặt báo thức trên điện thoại vào một thời điểm nào đó trong ngày bạn có thể dễ dàng cầu nguyện và đừng để Chúa bị cô đơn. Buổi sáng là tốt nhất, nhưng nếu không phù hợp, bạn có thể tìm một thời gian khác tốt hơn. Hãy cầm quyển Kinh Thánh lên và đọc một vài dòng. Các bài đọc trong sách lễ hàng ngày là điểm khởi đầu tốt nhất. Mục tiêu của mỗi người Công giáo là đọc kinh Mân côi mỗi ngày, nhưng một số trong chúng ta ở trong môi trường khó có thể làm được việc này. Nếu bạn không thể lần chuỗi Mân côi, ít nhất hãy đọc một chục kinh Kính Mừng.

“Lời cầu nguyện không gì hơn là kết hiệp với Thiên Chúa. Khi tâm hồn thanh sạch và được kết hiệp với Thiên Chúa thì bạn sẽ được an ủi và tràn đầy hạnh phúc; tâm hồn sẽ tràn ngập ánh sáng huyền diệu.” – Thánh Gioan Vianney

2. Mỉm cười, Thể hiện phong thái hòa nhã, tử tế, bắt tay thân thiện.

Bạn có bao giờ nghe câu Thánh ca xưa, “Người ta sẽ nhận ra chúng ta là Ki-tô hữu vì tình yêu chúng ta trao nhau, vì tình yêu chúng ta trao nhau …”? Ngày nay điều này không còn đúng nữa. Người Ki-tô hữu cũng đã trở nên mất lịch sự và vô cảm như bao người khác, đôi khi có vẻ còn tệ hơn! Chúng ta hãy làm mới lại tình yêu của người Ki-tô hữu bằng nụ cười cho mọi người chung quanh, nhường chỗ cho người khác khi xếp hàng hay giúp những cụ già băng ngang qua đường.

“Chúng ta hãy luôn gặp và chào nhau bằng nụ cười, vì nụ cười là dấu hiệu ban đầu của tình yêu.” – Mẹ Teresa

3. Hãy lên mạng xã hội (giao tiếp thôi mà!), gọi thăm một người bạn, đến thăm một người bạn

Đúng, Tôi biết là chúng ta có hàng lô những bài post về mạng xã hội bị lạm dụng như thế nào, nhưng bạn cứ mạnh dạn lên, hãy sử dụng nó! Tuy nhiên, dùng nó để làm vinh danh Thiên Chúa. Hãy chia xẻ một đoạn Thánh Kinh với bạn bè. Vào tìm lại những người bạn học cũ. Liên lạc hàng ngày với mọi người để xây dựng mối quan hệ. (Nhưng không dừng ở đó, hãy lên kế hoạch mỗi tuần để gặp gỡ bạn bè thân quen hay bà con họ hàng.)

“Tình bạn là cội nguồn của niềm vui bất tận, không có bạn bè thì ngay cả một sự nghiệp hợp ý nhất cũng trở nên chán ngắt.” – Thánh Thomas Aquinas

4. Hãy nói với ai đó rằng bạn yêu họ và tại sao bạn yêu

Tôi chưa bao giờ thấy một ai đó cảm thấy chán khi nghe người khác nói họ được mọi người yêu mến. Điều đó thậm chí còn tốt đẹp hơn nhiều nếu họ biết lý do tại sao họ được yêu mến! Bất kể người đó là cha mẹ bạn, là anh chị em ruột của bạn, hay là con cái của bạn. Mỗi ngày bạn hãy nói với ít nhất 1 người là bạn yêu họ, và hãy biến việc đó thành một thói quen hàng ngày.

“Bạn học nói bằng cách tập nói, học tập bằng việc học hỏi, học chạy bằng cách tập chạy, học việc bằng chính việc làm, và như vậy bạn hãy học yêu bằng chính tình yêu. Những ai cho rằng họ có một cách học khác là họ đang lừa dối chỉnh bản thân họ.” – Thánh Francis de Sales

5. Hãy nói về Thiên Chúa

Hãy kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày dài của bạn, chứ không chỉ riêng trong giờ cầu nguyện. Hãy đưa Ngài vào trong những cuộc chuyện trò với bạn bè, gia đình, đồng nghiệp khi bạn có thể. Chúng ta rất hào hứng nói về những thứ chúng ta thích – phim ảnh, nhà hàng, con người … nhưng chúng ta lại chẳng mấy khi, hay không bao giờ nói về Thiên Chúa theo cách như vậy.

“Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta phải dừng sứ mạng loan báo tin mừng; hơn thế nữa, mỗi chúng ta hãy tìm ra những cách phù hợp để nói về Chúa Giê-su ở bất cứ đâu thuận tiện. Tất cả chúng ta đều được mời gọi để làm chứng nhân sống cho những người chung quanh về tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Người không nhìn đến những thiếu sót của chúng ta mà còn tạo cho chúng ta cơ hội để đến bên Người, lắng nghe Lời Người và nhận lấy sức mạnh nơi Người, và làm cho cuộc sống chúng ta trở nên đầy ý nghĩa.” – Đức Giáo Hoàng Phanxico

6. Hy sinh một điều gì đó

Điều rất quan trọng đối với chúng ta là chúng ta phải học cách hy sinh mỗi ngày và dâng những hy sinh đó lên cho Chúa. Những hy sinh này chẳng phải là gì to tát ghê gớm. Ăn bánh mì không bơ. Tắt radio và lái xe trong thinh lặng. Đó là những điều nhỏ nhặt đang vun đắp cho sự thánh thiện của chúng ta và giúp chúng ta vượt qua được những ràng buộc với vật chất thuộc thế gian này.

“Không có chỗ cho tính ích kỷ — và không có chỗ cho sự sợ hãi! Đừng e ngại khi tình yêu cần có những thể hiện. Đừng sợ hãi khi tình yêu đòi những hy sinh.” – Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II

7. Phục vụ trong phạm vi có thể

Tìm cách để phục vụ một ai đó mỗi ngày. Lại phải nói lại rằng, việc này không phải là điều gì hệ trọng như đi sang Châu Phi để phục vụ. Những việc rất đơn giản như là rửa chén cho mẹ, trả tiền cà-phê cho một người lạ mặt, hay cúi xuống nhặt rác khi bạn đang đi trên đường. Đừng để một ngày trôi qua mà bạn chẳng làm được điều gì nhỏ nhặt cho những người chung quanh.

“Bạn biết không Thiên Chúa không nhìn đến tính vĩ đại hay sự khó khăn trong mỗi công việc của chúng ta, nhưng Người chỉ xem tình yêu chúng ta dành cho mỗi việc như thế nào. Vậy thì, có gì mà bạn phải e ngại?” – Thánh Theresa Hài Đồng Giê-su

8. Kiểm điểm lại mỗi ngày

Cuối mỗi ngày, bạn nên dành ít phút để suy nghĩ kiểm điểm lại một ngày đã qua. Cách tốt nhất là làm bài kiểm tra lương tâm. Có ai cần sự tha thứ của bạn không? Có ai mà bạn cần phải đến để xin họ tha thứ không? Hãy suy tư về những điều mà Thiên Chúa đã ban tặng cho bạn và tạ ơn Người vì những ơn lành đó. Cảm tạ Người! Hãy tự hỏi mình “Tôi đã đến gần Chúa hơn hay xa Chúa hơn qua những việc làm của tôi hôm nay? Ngày mai tôi phải sao để tốt hơn?

“Bạn phải nỗ lực bằng tất cả mọi khả năng có thể của mình để làm hài lòng Chúa bằng cách là đừng bao giờ làm hay chôn giấu việc gì mà không hỏi ý Người, và trong mọi sự hãy tìm đến Người và vinh quanh cho Người.” – Thánh Alphonsus Rodriguez

Becky Roach
[Nguồn: catholic-link.org]
[Chuyển ngữ: TRI KHOAN]

Cuộc hoán cải nội tâm của thánh nữ Teresa de Jesús thành Avila

Thánh nữ Têrêsa Chúa Giêsu (Teresa Jesús) thành Avila ( tục danh là Teresa de Ahumada y Cepeda), (1515-1582) là một trong những vị thánh người Tây Ban Nha nổi tiếng thời phục hưng.

Cuộc hoán cải nội tâm của thánh nữ Teresa de Jesús thành Avila

Ngài là nhà cải tổ dòng kín Cát Minh (Carmel) cùng với thánh Gioan Thánh Giá (Joao de la Cruz) và là một trong những nhà cải cách của Giáo Hội trong thế kỉ XVI như thánh Inhaxiô (Inhã/ Ignatius Loyola), thánh Cagiêtanô (Cajetan de Roma), thánh Philipphê Nêri (Philip de Néri) Vinhsơn Phaolô (Vincent de Paul), thánh Phanxicô đệ Salê (Francis de Sales), thánh Giáo Hoàng Piô V với công đồng Trente…

Người ta vẫn thường hay bàn về những đặc ân cao siêu Chúa ban cho thánh nữ. Đó là những cảm nghiệm thiêng liêng thần bí trong những cuộc xuất thần (ectasy), những sách thiêng liêng có tính mô phạm của thánh nữ trong đời sống tâm linh. Những tác phẩm của ngài trở thành những kiệt tác về đường thiêng liêng cho những ai khao khát sống đời chiêm niệm… Người ta vẫn thường hay nói ngài là vị thánh của những cơn xuất thần liên tục, vì tình yêu mến Chúa Giêsu của ngài mãnh liệt… Người ta vẫn còn kể những lần ngài xuất thần trong khi… chiên cá, tay cầm chảo cá và từ từ bay bổng, hay những cuộc đàm đạo về Chúa Ba Ngôi với thánh Gioan Thánh Giá mà kết quả là hai vị đều bay bổng trên không trung… Người ta cũng khâm phục thánh nữ vì đã thành lập 17 tu viện nữ Cát Minh và đứng đầu công cuộc cải tổ đầy khó khăn cho dòng này.

Nhưng thật ra, đọc lại tiểu sử của ngài, có lẽ chúng ta sẽ không chỉ thấy những điểm sáng này ngay lập tức trong đời sống của vị thánh. Nói cách khác, Têrêsa không phải là một người đã “thánh thiện từ trong nôi”! Dù trải qua một tuổi thơ đạo đức với những tâm tình đơn sơ thánh thiện nhưng cũng buồn cười của một trẻ nhỏ (vì muốn nên thánh nên ngài rủ anh mình bỏ nhà đi tìm người Hồi Giáo để chịu tử đạo nhưng bị ông cậu phát hiện và tóm cổ về nhà), tuy nhiên, từ lúc là một thiếu nữ 14 tuổi cho tới tuổi 40, đường thiêng liêng của ngài không phải là một đường thẳng tắp. Ở tuổi thiếu niên, chịu ảnh hưởng của bạn bè và chị em họ hàng, vốn là một người ăn nói có duyên, có sắc đẹp và quyến rũ, Têrêsa bắt đầu chưng diện và làm dáng theo kiểu cách của tầng lớp quý tộc. Tuy nhiên, những cơn bệnh khủng khiếp là một cách Thiên Chúa tách Têrêsa ra khỏi hư ảo của thế gian phù phiếm mau qua. Vào nhà dòng lúc tròm trèm 20 tuổi, những ngày đầu sống đời dâng hiến với những an ủi khi cầu nguyện làm cho người nữ tu của chúng ta ngây ngất mê say. Tuy nhiên thời gian trôi qua, khi những hương sắc của tình yêu thuở ban đầu đã qua đi, người nữ tu này đã bị cám dỗ an phận và bằng lòng với mức “đại khái” trong đời tu, để rồi sống hời hợt như một tu sĩ không nghiêm chỉnh gì cho mấy(!). Như bao nữ tu khác, Têrêsa đã sống theo kỉ luật lỏng lẻo của các đan viện bấy giờ, vốn lìa xa tinh thần nguyên thủy của dòng là sống đời chiêm niệm. Trong thời gian đó, Chúa vẫn nhiều lần mời gọi Têrêsa, nhưng người nữ tu này vẫn không quyết định dứt khoát hẳn với thái độ nửa vời.

Đời sống thiêng liêng của Têrêsa, trong khoảng hai mươi năm, cũng chỉ tỏ ra bình thường không có sự sốt sắng đặc biệt nào, cho tới mùa chay 1554, khi đọc quyển Tự Thú (Confessions) của thánh Augustinô và suy ngắm trước hình Chúa chịu đánh đòn, ngài đã hoán cải để bước vào một đời sống sốt mến nồng cháy. Từ đó, tình yêu Thiên Chúa của Têrêsa sẽ trở thành một “ngọn lửa thiêu đốt”. Sáu năm sau, “thị kiến” hoả ngục làm Têrêsa hiểu được giá trị của các linh hồn và mối nguy mất linh hồn. Lúc ấy người nữ tu này quyết định làm mọi sự để cứu rỗi các linh hồn. Thế là bắt đầu thời kỳ thứ hai của cuộc đời Têrêsa Chúa Giêsu. Lúc ấy ngài 40 tuổi.[1] Chúng ta hãy nghe ngài nói: “Tôi lênh đênh gần hai mươi năm trên biển cả giống tố này. Sa ngã luôn luôn và rồi chỗi dậy, nhưng chẳng hy vọng gì là tôi sẽ không ngã lại. Tôi yếu đuối đến nỗi tôi khó có thể giữ mình khỏi phạm tội nhẹ, còn tội trọng, dù có sợ, tôi cũng không sợ cho đủ như tôi phải sợ. Vì tôi đã không tránh được những dịp đưa đến nguy hiểm sa ngã. Tôi có thể quả quyết đây là một trong những nếp sống khốn khổ nhất mà tôi có thể tưởng tượng ra được. Khi ở với Chúa, thì tôi bồi hồi xao xuyến vì những mối tình luyến ái ở thế gian. Đây là một cuộc xung đột gay go tôi không biết làm sao có thể chịu được lấy một tháng thôi, nói chi tới là trong ngần ấy năm trời.”[2]

Ở một đoạn khác, ngài nói nỗi khốn khổ khi nghiêng ngửa trong lối sống này: “Đời tôi chất đầy những não nề, nhưng nhờ cầu nguyện mỗi ngày tôi biết rõ hơn về những lỗi lầm của tôi. Một bên Chúa kêu gọi tôi, còn một bên tôi cứ theo thế gian. Dường như tôi muốn dung hòa hai thái cực hoàn toàn mâu thuẫn này lại với nhau, đó là sự sống tinh thần và niềm hoan lạc với những vui thú và những lối tiêu khiển cho giác quan… Nhiều năm trôi qua đi như thế và bây giờ tôi ngạc nhiên làm sao con người có thể cứ ở trong tình trạng lưỡng vọng lâu như thế: không bỏ hẳn bên nào cả. Tôi biết rõ là vào thời gian ấy tôi không thể bỏ cầu nguyện được nữa, vì để cho tôi thấy những hồng ân cao trọng hơn, thì chính Đấng đã dành lấy tôi cho một mình Người đã nâng đỡ tôi trong tay của Người.”[3]

Như vậy, chỉ tới khi cột mốc tuổi 40, Têrêsa mới thực sự quay lưng lại với thái độ chân trong chân ngoài, nghiêng ngửa trong đời tu của mình. Và đây mới chính là cuộc hoán cải thiêng liêng sâu đậm và quyết định cho cuộc đời của Têrêsa. Chính ngài viết: “Chúc tụng Thiên Chúa đời đời, Đấng trong giây lát đã ban sự tự do mà tôi đã cố gắng hết sức trong nhiều năm và đôi khi đã ức chế chính mình đến phương hại cho sức khỏe mà vẫn không bao giờ có thể đạt được. Còn đây là công cuộc của Đấng toàn năng và là Chúa chân thật của mọi sự nên nó chẳng gây cho tôi đau khổ nào.”[4] Một khi đã quay lưng với thế gian cách triệt để, Têrêsa mải miết bước những bước dài trong hành trình thiêng liêng. Và ơn thánh Chúa biến đổi ngài cách lạ lùng, đến nỗi làm cho Têrêsa Chúa Giêsu thành một nhà cải cách mạnh mẽ về đời sống tận hiến ở thế kỉ XVI. Têrêsa khao khát tinh thần về nguồn của dòng Kín Carmel không chỉ được tái lập ở tu viện nơi ngài sống, nhưng còn ở những nơi khác nữa. Cùng với thánh Gioan Thánh Giá, và dĩ nhiên, với bao nỗi đắng cay và thử thách, ngài đã làm cho các đan sĩ Cát Minh trở về truyền thống linh đạo khởi thủy của mình.

Trong vườn hoa của Thiên Chúa, có muôn vàn bông hoa khác nhau. Có những vị  thánh đã thánh thiện từ nhỏ tới lớn như Aloysius (Louis) Gonzaga, Đaminh Saviô, Anê (Agnes) Montepulciano, có những vị chỉ được hoán cải nội tâm sau một cuộc đấu tranh dai dẳng. Thánh Phanxicô thành Assisi, thánh Augustinô và nhiều vị thánh khác cũng có một quãng thời gian để hoán cải dài dẵng như thế đó. Cái hay mà chúng ta thấy ở đây là ở chỗ này: Nếu Têrêsa đã là một vị thánh từ thuở ấu thơ như một số vị khác, có lẽ chúng ta khó bắt chước. Nhưng chính ngài cũng đã biết bao lần thờ ơ trước lời mời gọi tiến sâu vào tình yêu Chúa Giêsu trong đời sống tận hiến. Chính Têrêsa cũng bao lần giả điếc làm ngơ trước tiếng lương tâm của mình để sống trọn vẹn cho Chúa. Chính thời gian dài thờ ơ nguội lạnh trong tâm hồn mà sau này ngài có vô vàn những kinh nghiệm để truyền lại cho những người đi sau ngài, để đừng rơi vào thái độ đó như ngài.

Chúng ta chẳng cảm nghiệm những điều tương tự như vậy sao? Thánh Têrêsa Avila đã đến với Chúa bằng tất cả con người mình, không bỏ mất chút gì trong những đức tính bẩm sinh: trí thông minh, lòng cương nghị, sự tế nhị và can đảm. Dù đạt tới độ kết hợp với Chúa một cách phi thường, thánh nữ vẫn luôn luôn là một người phụ nữ dễ thương, duyên dáng, dung dị. Ngài đã thuyết phục được phe chống đối đường lối cải cách của mình nhờ ơn Chúa và sự thánh thiện đã đành, nhưng cũng nhờ tính tình tự nhiên, tế nhị, dễ thương, khéo léo, kể cả óc hài hước, dí dỏm. Điều đó chứng tỏ ân sủng không huỷ diệt, nhưng hoá giải và nâng cao bản tính tự nhiên của con người. Nói cách khác, sự hoạt động của Thần Khí Chúa trong thánh nữ là rất mãnh liệt, nhưng không hề làm phai nhạt bản tính tự nhiên của ngài, mà là thúc đẩy cho sự tăng trưởng như những cành nho tươi tốt trổ sinh hoa trái màu mỡ nhờ dòng nhựa chan hoà sự sống từ thân cây nho.[5]

Thánh Têrêsa Chúa Giêsu dường như đoan chắc với chúng ta bất cứ ai cũng có thể trở nên “tuyệt vời”, nếu thực sự dâng trọn trái tim cho Chúa Giêsu để Ngài toàn quyền hoạt động. Không phải ai cũng là người vĩ đại như ngài, nhưng ai cũng có thể trở nên tuyệt vời như ngài. Không phải ai cũng được những ơn cao siêu trọng đại như ngài vì Thánh Ý Chúa định cho mỗi người mỗi khác, nhưng ai cũng có thể phó thác và suy phục (surrender) hoàn toàn để Thánh Ý Chúa thể hiện trong đời mình. Không phải ai cũng có thể có khả năng miêu tả những đặc ân và trạng thái trong đời sống thiêng liêng sâu sắc như ngài, nhưng ai cũng có thể có khả năng vươn tới tầm mức viên mãn thánh thiện nhất mà Chúa mong ước, một khi để cho Chúa hành động.  Bởi vì, “mỗi vị thánh đều có một quá khứ, mỗi tội nhân đều có một tương lai.” (Oscar Wilde)

Con chiên nhỏ

5 lời khuyên trong Kinh Thánh để được hạnh phúc

Dưới đây là 15 lời khuyên trong Kinh Thánh có thể giúp bạn được hạnh phúc hơn.

caunguyen 1 - 15 lời khuyên trong Kinh Thánh để được hạnh phúc

  1. “Những người giàu ở trần gian này, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng.” (Tm 6,17).
  2. “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu.” (Tx 5: 16-18)
  3. “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện.” (Rm 12,12)
  4. “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.” (Lc 6, 37)
  5. “Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.” (Lc 6,35)
  6. “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em.” (Mt 6-14)
  7. “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5,9)
  8. “Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô.” (Êp 4,32)
  9. “Ngày gặp may mắn, hãy cứ vui hưởng. Ngày bị rủi ro, hãy gẫm mà xem: Ngày nào cũng do Thiên Chúa làm nên, vì thế con người không thể khám phá những gì sẽ xảy ra sau khi mình nhắm mắt xuôi tay.” (Gv 7,14)
  10. “Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.” (Tv 144,17)
  11. “Đừng sợ hãi: có Ta ở với ngươi. Đừng nhớn nhác: Ta là Thiên Chúa của ngươi. Ta cho ngươi vững mạnh, Ta lại còn trợ giúp với tay hữu toàn thắng của Ta.” (Is 41,10)
  12. “Vì trong đất của anh em sẽ không thiếu người nghèo, nên tôi truyền cho anh em: hãy mở rộng tay giúp người anh em khốn khổ, nghèo khó của anh em, trong miền đất của anh em.” Đnl (15,11)
  13. “Thân phụ người công chính sẽ mừng vui, đấng sinh thành người khôn sẽ hoan hỷ. (Cn 23,24)
  14. “Hãy gìn giữ tim con cho thật kỹ, vì từ đó mà sự sống phát sinh.” (Cn 4,23)
  15. “Vì những ai sống theo sự thật thì sẽ thành công trong sự nghiệp của mình. Con hãy dùng của cải bố thí cho tất cả những ai thực thi công chính, và khi bố thí, mắt con đừng có so đo. Đối với ai nghèo khổ, con đừng ngoảnh mặt làm ngơ, để rồi đối với con, Thiên Chúa cũng sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ.” (Tb 4: 6-7).

“Đây thì còn hơn” Covid-19

Bây giờ, bạn đang cảm thấy thế nào trước dịch Covid-19?

nam-ly-do-de-lan-chuoi-moi-ngay-trong-nam-2017
Sợ hãi, lo lắng, hoảng loạn, đau buồn, thương xót, ghê sợ, bất an, chán nản, tuyệt vọng…
Sợ hãi vì hàng ngàn người bị nhiễm, không ít trong số đó đã vĩnh viễn trở về với lòng đất mẹ, lo lắng vì vi-rút chẳng hề nể một ai, bất an trong sự gian nan của kiếp người, bồn chồn không biết hồi nào cuộc sống, công việc, học tập trở lại bình thường, ghê sợ trong những chống đỡ bất lực của Hàn Quốc, Ý, Iran hay một số nước… Người ta đang sống trong những tâm trạng, cảm xúc khác nhau. Nỗi sợ hãi của quá khứ, của những trận đại dịch xưa kia, của cúm Tây Ban Nha (1918), của SARs (2002 – 2003), của Ebola (2009)…đẩy người ta tới tận cùng của nỗi thất vọng, của niềm tin. Người ta cố gắng vận dụng mọi khả năng của mình để tìm ra những tia sáng mới về nó. Dường như mọi bộ óc y học lành nghề đều bắt tay từ cái ngày dịch bùng phát trên đất Trung Hoa, và giờ là hơn 70 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Người ta đã gắng nhận diện nó như thế nào, cấu tạo ra sao, phân tích căn nguyên, cách thức lây lan, truyền bệnh là gì… Mọi nỗ lực cực nhọc ấy đều muốn cứu lấy sự sống của con người bằng những phương thức, cách thế khác nhau. Thế mà, ta vẫn đang phải gồng mình chống trả, ta vẫn đang phải cứu vớt sự sống cách yếu ớt. Ta vẫn đang nín thở chờ đợi trong hy vọng cho sự sống của nhân loại, cho con người.
Trận dịch khủng khiếp này gợi nhớ cho ta về những ký ức tang thương một thời, gợi nhắc người những đại dịch kinh hoàng đã qua. Đến đây, trong những ngày đầu của mùa Chay thánh này, nó cũng gợi mở cho ta về một đại dịch kinh hoàng, khủng khiếp đã uy hiếp xuyên suốt dòng lịch sử nhân loại từ cái ngày đen tối của con người.
Cám dỗ là một đại dịch, hay chỉ là dịch bệnh thông thường, hay chẳng là gì đối với tôi ?
Cái tên ấy thật quá quen thuộc nhưng trong chốc lát, thật quá khó định hình, thật không dễ gì hình dung. Kể từ ngày sa ngã của loài người, cám dỗ vẫn tiếp tục hoành hành, hạ gục biết bao tâm hồn trên con đường tìm đến sự sống. Đứng trước Covid-19, người ta đang gắng sức tìm kiếm sự sống theo những dạng thức khác nhau. Còn đứng trước cám dỗ, người ta đang tìm kiếm điều gì? Sự sống hay cái chết. Dịch cám dỗ không tha một ai, chẳng nể người nào, ngay cả đến Con Thiên Chúa, nó cũng chẳng hề cả nể. Nó chắc cũng chẳng chịu tha bạn đâu! Đại dịch ấy vẫn đang khủng bố thế giới một cách kinh hoàng, tàn phá Giáo Hội không chút nương tay. Nó gieo vãi mọi thứ xấu xa bên trong tư tưởng, đẩy đưa vài lời nói câu thưa à ơi, cho người ta vơi nỗi buồn quên niềm đau, hay lôi kéo họ chạy theo những hưởng thụ, lạc thú trần gian, hân hoan trên đường quân tội lỗi, đẩy cái tôi người ta lên, thêm “chút mắm chút muối” cho ý riêng, xui khiến người ta chiều lòng mình, gạt tình Chúa… Thế mà đâu mấy người sợ, đâu mấy kẻ kinh. Họ vẫn tìm dịp phạm tội cho “sướng” cái thân, để mặc tha nhân, cứ kệ gian trần, đâu cần tình Chúa, tình Người xót thương. Cám dỗ thật khéo léo, luồn lách tìm cách thức ứng trực để thực hiện ý đồ xấu xa: kẻ thô lỗ, người nhẹ nhàng, người ủi an, kẻ tan hoang, kẻ mau mắn, người chậm sa, kẻ sa trước, người ngã sau…
Cám dỗ đã và đang dành cho bạn những điều gì? Chút nhẹ nhàng thư thái, chút sướng vui sớm tàn lụi, chút gánh nặng tội nhân, chút lận đận trên đường trọn hảo… Trước cám dỗ, bạn đã hành xử ra sao? Dễ dàng gục ngã, sa đà, hay đánh chúng tả tơi, hạ gục chúng tan tành, hay để chúng hành hạ chẳng chút xót thương, hay nương tựa nơi ai, cậy dựa điều gì…
Như cách người ta luôn cập nhật hàng ngày về tình hình dịch bệnh, với cám dỗ, bạn có cần điểm lại về những cám dỗ nơi mình? Bao lần cám dỗ, mấy lần vượt qua, số lần vấp ngã. Không như cách người ta đang nỗ lực hết sức để hiểu để biết về dịch Covid-19, với cám dỗ, Thiên Chúa đã chỉ cho ta quá nhiều điều nhiều thứ về nó, trong Thánh Kinh, nơi chính Con của Người, nơi người ta, hay trong sách dạy… Có lẽ sẽ có những điều bạn vẫn chưa biết chưa hiểu về cám dỗ! Nơi mỗi tội nhân, chúng tiếp cận theo những cách thức khác nhau: “Cám dỗ hay lôi kéo bạn điều gì? Chúng thường tìm gặp bạn khi nào? Lúc sớm mai thức dậy, khi chiều tà ập đến, hay bến đỗ khi tối trời… Ở đâu? Trong phòng ngủ, ngoài công ty, nơi phố xá, chốn vắng tanh, hiu quạnh, nơi thân quen, hay chốn xa lạ… chỉ một mình bạn, hay chúng bạn thân quen, với người thân, hay ai xa lạ – Cơn cám dỗ diễn ra nơi bạn như thế nào? Ồn ào náo động, hay êm ái, nhẹ nhàng, chốn người ta day dứt, bứt rứt tâm can, cả chút an hòa, xoa dịu, thậm chí là nũng nịu, dễ thương…”
Tạ ơn Chúa vì Người đã ban cho chúng ta những vị thánh nhân, các chuyên gia hàng đầu về đời sống thiêng liêng. Các ngài đã giãi bày kinh nghiệm về những cơn cám dỗ cho chúng ta một cách phong phú, sinh động. Bạn biết ai trong số các ngài? Các vị ấy đã chiến đấu với những cơn cám dỗ ra sao? Còn bạn đã chiến đấu với nó như thế nào? Ổ dịch của bạn là gì? tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng… Có lẽ đó là căn nguyên xâu xa đang băng hoại con người bạn hằng ngày. Vắc-xin phòng dịch của bạn là gì? Nếu bạn muốn, Chúa sẽ giúp bạn tìm cách thế chống lại đại dịch cám dỗ nơi mình! Với chút ít kinh nghiệm ít ỏi của kẻ không thấy mình lẻ loi bao giờ, xin góp sức trong trận đại dịch này với loại Vắc-xin mang tên 5C:
Cầu nguyện liên lỉ
Cảnh tỉnh trong mọi hoàn cảnh
Chấp nhận thân phận tội nhân
Cậy dựa, nương tựa nơi Chúa
Cám ơn những cơn cám dỗ
Thầy Giê-su đã đi trước để ta tiếp bước theo Người.

Lyeur Nguyễn

Chúng ta hãy cùng cầu nguyện cho những nạn nhân đang bị đồng tiền cám dỗ. Nhiều người trong số họ bây giờ đang thu mua tất cả những khẩu trang và những chai nước rửa tay khô, đầu cơ tích trữ; chờ ngày đại dịch bùng phát mang ra bán với giá cắt cổ với hy vọng sẽ giàu lên nhanh chóng. Cầu mong không có ai trong số họ là người Công Giáo.

Vì Sao Kính Thánh Giuse Vào Tháng 3?

thanh-giuse-tho2020

 

Tháng ba được dành kính thánh Giuse, có lý do gì gắn liền tháng ba với thánh Giuse? Trong một năm, lòng đạo đức bình dân thường dành ra vài tháng để kính nhớ một nhân vật nào đó, cụ thể là: tháng 5 kính Đức Mẹ, tháng 6 kính Thánh tâm Chúa, tháng 10 kính Đức Mẹ Mân côi, tháng 11 nhớ các ℓιин нồи đã qυα đờι. Nói chung, nguồn gốc của các tháng dâng kính như vậy không có gì khó hiểu. Lúc đầu, người ta mừng lễ kính một vị thánh. Nhằm để chuẩn bị mừng lễ, người ta tổ chức ba ngày hay chín ngày dọn mình; và rồi tính cách long trọng của lễ còn kéo dài ra suốt tuần bát nhật. Vị chi là non 20 ngày rồi, cho nên kéo dài ra thêm một tháng cũng chẳng vất vả gì. Điều này rõ rệt với phụng vụ Đông phương: ngày 15 tháng 8 là lễ Đức Mẹ lên trời; các đan sĩ dành 15 ngày trước đó để chuẩn bị và kéo dài thêm 15 ngày sau đó. Trong bối cảnh đó, chúng ta có thể hiểu được vì sao tháng 3 được dành cho thánh Giuse, bởi vì lễ thánh Giuse được mừng trong tháng 3, ngày 19. Việc dâng kính tháng 3 cho thánh Giuse được đức giáo hoàng Piô IX chuẩn nhận ngày 27/4/1865. 5 lý do mọi gia trưởng nên yêu mến Thánh Giuse Tại sao lễ thánh Giuse được mừng vào ngày 19 tháng 3? Thường lễ các thánh được mừng vào ngày qυα đờι, được coi như ngày sinh (dies natalis) vào cõi sống trường cửu. Thế nhưng, đối với thánh Giuse cũng như nhiều thánh thời cổ, thì chúng ta không biết ngày qυα đờι của họ. Vì thế các ngày lễ thường được ấn định dựa theo một truyền thống địa phương nào đó, chẳng hạn như lễ cung hiến một thánh đường nào đó. Riêng đối với thánh Giuse, chúng ta nên ghi nhận một điểm quan trọng. Trong khi mà lễ kính các thánh тử đạo đã xuất hiện тử những thế kỷ đầu tiên, tiếp đến là các lễ kính Đức Mẹ từ thế kỷ IV và các thánh tu hành, nhưng nói được là trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất, không nơi nào mừng lễ kính thánh Giuse hết.   Quả thật thánh Giuse là một con người thầm lặng, lúc còn sống cũng như sau khi đã qυα đờι . Đừng kể vài chứng tích lẻ tẻ, phải chờ đến thế kỷ XIV, mới thấy lễ kính thánh Giuse được cử hành trong các dòng hành khất, chẳng hạn Dòng Tôi tớ Đức Mẹ (năm 1324), Dòng Phan sinh (năm 1339). Sang thế kỷ XV, lễ mới được bành trướng. Năm 1467, giáo phận Milano (Italia) ấn định lễ thánh Giuse vào ngày 20 tháng 3, và chuyển sang ngày 19 tháng 3 từ năm 1509. Phải chờ tới cuộc cải tổ phụng vụ sau công đồng Trentô, do đức Piô V thì lễ thánh Giuse mới được ghi vào lịch phổ quát của Giáo hội (1568-1570). Lễ được mừng vào ngày 19 tháng 3, và trở thành lễ buộc từ năm 1621, dưới thời đức Grêgôriô XV. Xin trở lại với câu hỏi, có gì liên hệ giữa ngày 19 tháng 3 với thánh Giuse? Các sử gia vẫn chưa tìm ra mối liên hệ. Tại vài Giáo hội Hy-lạp, thánh Giuse được mừng sau lễ Giáng sinh (ngày 26 tháng chạp), nhưng ngài cùng đứng chung với các tổ phụ từ ông Abraham cho đến thánh Giuse. Bên Ai cập, người ta mừng ngày qυα đờι của thánh Giuse vào ngày 20 tháng 7, không hiểu dựa trên cơ sở nào. Bên Tây phương, lần đầu tiên tên thánh Giuse được xướng ngày 19 tháng 3 là một cuốn тử đạo thư của một đan viện Biển đức ở Reichenau (trước đây thuộc tổng Zurigô Thụy sĩ) vào thế kỷ IX, có lẽ dựa theo một Phúc âm ngụy thư thế kỷ IV. Thánh cả Giuse là vị thánh rất đặc biệt Bên cạnh lễ mừng vào ngày 19 tháng 3, phụng vụ còn dành một lễ nhớ nữa, đó là lễ thánh Giuse lao động, được đức Piô XII thiết lập ngày 1/5/1955, nghĩa là vào lễ lao động. Điều này không có gì khó hiểu. Trước đó, phụng vụ còn mừng lễ thánh Giuse bổn mạng Hội thánh, được Đức Piô IX ấn định (10/9/1847), vào chúa nhật thứ ba sau lễ Phục sinh, nhưng sau đó được Đức Piô X (24/7/1913) dời vào ngày thứ tư trong tuần thứ hai sau lễ Phục sinh. Lễ này bị bãi bỏ năm 1956, khi được thay thế bằng lễ thánh Giuse lao động. Cũng nên biết là vài nơi, người ta còn mừng lễ đính нôи của Đức Mẹ và thánh Giuse, vào ngày 23 tháng giêng. Nguồn gốc lễ này bắt nguồn từ linh mục Jean Gerson vào thế kỷ XV. Còn lễ Thánh gia (Chúa Giêsu, Mẹ Maria, thánh Giuse) thì mang tính cách phổ quát, được mừng vào Chúa nhật sau lễ Giáng sinh, cũng có thể kể như một lễ kính thánh Giuse, mặc dù không phải 100%. Lễ này được Đức Lêô XIII du nhập vào lịch chung của Giáo hội năm 1893 (hồi đó, mừng vào Chúa nhật thứ ba sau lễ Hiển ℓιин).

fXvKyAz

 

Tháng Ba được dành để kính thánh Giuse, nhưng có những việc gì làm để tôn kính Người? Có lẽ việc tôn kính mà thánh Giuse thích hơn cả là sống theo Phúc âm, cũng như Người đã cố gắng thi hành, đặc biệt trong việc tuân hành ý Chúa, và trung thành với việc bổn phận. Điều này được nhắc tới nhiều lần trong các văn kiện Toà thánh, gần hơn cả là tông huấn “Redemptoris Custos” (người gìn giữ Chúa Cứu thế) của Đức đương kim giáo hoàng, ban hành ngày 15 tháng 8 năm 1989. Khi bàn về các việc đạo đức, thì có nhiều hình thức, chẳng hạn như: Kinh cầu thánh Giuse, ngắm 7 sự vui buồn thánh Giuse, kinh cầu cho Hội thánh. Có lẽ trong số này, kinh cầu thánh Giuse được nhiều người biết đến hơn cả. Kinh cầu này dựa theo sườn của kinh cầu Đức Bà, và được sử dụng trong vài hiệp hội tại Rôma từ thế kỷ XVI (khoảng năm 1597). Bố cục như sau: Mở đầu là những lời кнẩи cầu dâng lên Ba Ngôi Thiên Chúa, và Đức Mẹ Maria; tiếp theo là những lời cầu cùng thánh Giuse dưới 25 tước hiệu. Các tước hiệu này có thể phân thành 5 nhóm. Nhóm đầu tiên nói sự thánh thiện cũng như nguồn gốc của thánh Giuse (dòng dõi vua Đavít, thuộc hàng các tổ phụ). Nhóm thứ hai nói đến các chức vụ được ủy thác (bạn Đức Maria, dưỡng phụ Đức Giêsu, Đấng che chở cho đức Kitô và thánh gia). Nhóm thứ ba ca ngợi 6 nhân đức của thánh nhân (công chính, khiết tịnh, khôn ngoan, mạnh bạo, vâng lời, trung thành). Nhóm thứ tư đề cao thánh Giuse như khuôn mẫu cho các nhân đức xã hội (nhẫn nại, thanh bần, cần cù lao động, mẫu gương cho các gia trưởng, các người khiết tịnh cũng như người có đôi bạn, an ủi kẻ âu sầu). Nhóm cuối cùng nhắc đến những tước hiệu bổn mạng (của những người lâm тử và của toàn thể Hội thánh). Bổn mạng thánh giuse Bổn mạng thánh giuse Còn suy gẫm 7 sự vui buồn thánh Giuse là suy gẫm cái gì? Kinh này dựa theo việc suy gẫm bảy sự đau đớn Đức Mẹ do các tu sĩ dòng Tôi tớ Đức Mẹ phổ biến. Việc suy gẫm bảy sự vui buồn thánh Giuse được in thành sách từ thế kỷ XVI, suy gẫm các biến cố vui buồn của thánh Giuse, dựa theo những trình thuật Tin Mừng thơ ấu của thánh Mathêu và thánh Luca. Nên lưu ý là đối với Đức Mẹ thì chỉ nói tới bảy sự đαυ đớи, còn đối với thánh Giuse, chúng ta vừa suy gẫm bảy sự buồn cùng với bảy sự vui. Nói cách khác, mỗi biến cố đều có mặt buồn của nó và liền đó là mặt vui. Bảy ᗷIếᑎ ᑕố là: thứ nhất, việc Đức Mẹ mang thai Chúa Giêsu, gây ra nhiều băn khoăn cho thánh Giuse, nhưng sau đó được thiên thần giải thích. Thứ hai, khi chứng kiến cảnh khó nghèo của Chúa Giêsu khi sinh ra tại Belem. Thứ ba, khi làm phép cắt bì cho Chúa Giêsu. Thứ tư, khi cụ Simêon tiên báo những đαυ кнổ của Chúa Giêsu. Thứ năm, khi тяốи qua Ai cập. Thứ sáu, khi trở về Nadarét. Thứ bảy khi lạc мấт và tìm lại Đức Giêsu trong đền тнờ. Sau mỗi cảnh suy niệm, đọc một kinh Lạy Cha và Kính mừng, có thể thêm kinh Sáng danh.   Giáo Hội chỉ mừng thánh Giuse vào ngày lễ ở tháng ba thôi hay sao? Như đã nói ở đầu, trong năm phụng vụ có hai ngày kính thánh Giuse: ngày 19 tháng 3 và ngày 1 tháng 5. Còn những cơ hội khác thì để tùy theo lòng đạo đức và tập tục địa phương. Chẳng hạn như nhiều nơi mỗi tuần dành một ngày kính thánh Giuse (ngày thứ tư) cũng như ngày thứ sáu dành kính Thánh tâm Chúa (hoặc cuộc тử nạn), thứ bảy kính Đức Mẹ. Có nơi chuẩn bị lễ thánh Giuse không phải với tuần bảy ngày mà là 7 Chúa nhật, nhớ đến 7 sự vui buồn của thánh Giuse. Thế rồi trong tháng 10, tháng Mân côi, đức Lêô XIII đã muốn thêm vào kinh thánh Giuse (Lạy ơn ông tháng Giuse, chúng tôi chạy đến cùng người), kinh do người soạn ra và đăng ở cuối thông điệp Quamquam pluries (15/8/1889). Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Maria.

Tại sao ngày thứ tư mỗi tuần được dành để kính thánh Giuse? Dưới khía cạnh lịch sử, các học giả không thấy có một mối liên hệ nào hết. Vào những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, các tín hữu ăn chay mỗi tuần hai ngày, (thứ tư và thứ sáu), khác với người Do thái cũng ăn chay mỗi tuần hai ngày, nhưng là vào thứ hai và thứ năm. Theo sự giải thích của vài giáo phụ, ngày thứ sáu tưởng niệm Chúa Giêsu chịu ᑕᕼếT trên thập giá, còn ngày thứ tư tưởng nhớ ngày Chúa bị Giuđa phản bội. Không rõ từ hồi nào người ta dành thứ tư để kính thánh Giuse, và vì lý do gì. Tuy vậy, cũng có người bóp trán để giải thích thế này. Ngày thứ tư là ngày ở giữa tuần lễ, với nhịp độ làm việc cao, khác với nhịp độ uể ỏai hay cầm chừng của đầu tuần hay cuối tuần. Như vậy đáng để dành cho thánh Giuse, gương mẫu của sự cần cù làm việc.   Dù sao, cũng nên biết là đối với người kính mến thánh Giuse, thì họ vẫn nhớ đến tên của ngài mỗi ngày, cùng với việc kêu cầu Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria. Ngoài ra, tại vài nơi, người ta còn đọc một kinh riêng kính thánh Giuse dưới hình thức bổn mạng của người ᑕᕼếT lành. Truyền thống cho rằng thánh Giuse là người có phúc nhất trên đời, bởi vì lúc lâm chung, người có Chúa Giêsu và Đức Mẹ đứng bên cạnh. Từ đó một hiệp hội được thành lập với trụ sử đặt tại Rôma, cầu xin thánh Giuse giúp cho mọi người được ᑕᕼếT lành. Tại Việt Nam, ở nhiều nhà thờ và gia đình, người ta đọc mỗi ngày hai lần кιин nguyện vắn tắt như sau: “Lạy ông thánh Giuse, là cha nuôi Đức Chúa Giêsu cùng là bạn thanh sạch rất thánh đồиg тяιин Đức Bà Maria, xin Người cầu nguyện cho chúng tôi và cho các kẻ mong sinh thì trong ngày (đêm) hôm nay”.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP. daminhvn.net