Archive | Uncategorized RSS for this section

Lễ Của Mẹ, Tưởng Nhớ Mẹ Bằng Đọc Lại Ca Dao

Trong các hình ảnh về gia đình mà mỗi người chúng ta còn giữ lại, có lẽ hình ảnh về mẹ là sâu dậm và rõ rệt hơn cả. Nó rõ rệt đến nỗi không chỉ được gợi lại qua các kỷ niệm của cuộc sống thường ngày, mà còn được viết ra cả trong thơ văn. Không cần nhìn đâu xa, chỉ cần mở bất cứ một cuốn tục ngữ ca dao nào ra, thì ta cũng đọc được nhan nhản những câu ca phác họa hình ảnh mẹ.

1. Bức tranh thứ nhất mà ca dao Việt Nam vẽ về mẹ là bức tranh bà mẹ nghĩa đức dầy công lao sinh đẻ, nuôi nấng và vun trồng gầy dựng cho con cái. Công lao này có thể được tóm gồm qua chữ ‘nghĩa‘ :

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Có khi công lao ấy lại được tổng hợp trong chữ ‘đức‘ :
Công cha Đức Mẹ cao dầy,

Cưu mang trứng nước những ngày thơ ngây.

Có một điều đặc biệt là hình ảnh về mẹ thường gắn liền với hình ảnh cha. Hầu như không bao giờ ca dao nói về mẹ mà không nói về cha. Ngay cả khi dùng những hình ảnh đối chọi nhau, như núi với nước, ca dao luôn luôn nghĩ rằng cha mẹ là hai người, dẫu khác nhau, nhưng luôn bổ túc cho nhau và không thể chia lià nhau được. Gia đình ấm cúng yên vui, bởi vậy, luôn luôn là cái viễn ảnh, là cái khung trời trong đó mẹ được vẽ.

Vợ chồng là nghĩa tào khang,
Chồng hoà vợ thuận nhà trường yên vui;
Sinh con mới ra thân người,
Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.

Là vợ hiền, là mẹ tốt, tất nhiên bà là yếu tố căn bản gây nên cái đức của gia đình, làm cho cuộc sống được vuông tròn, trong đó, chồng vinh hiển, con sang giầu. Và hình ảnh ấy không người chồng nào, không người con nào quên được.

Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Mừng cây rồi lại mừng cành,
Cây đức lắm chồi, người đức lắm con.
Ba vuông sánh với bảy tròn,
Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu.

Đó là lý do khiến bất cứ một ai thành thân thành người, cũng đều nghĩ rằng công ơn đầu tiên là của cha mẹ. Nét vẽ thứ ba trong bức tranh về bà mẹ nghĩa đức dầy công lao nuôi nấng và gầy dựng cho con cái là công ơn chăm sóc vun trồng của bà.

Trứng rồng lại nở ra rồng,
Hạt thông lại nở cây thông rườm rà.
Có cha sinh mới ra ta,
Làm nên thời bởi mẹ cha vun trồng.

Nét vẽ vun trồng khó nhọc cho con cái thường được vẽ đậm và biểu tượng bằng hình ảnh sương tuyết.

Cây khô chưa dễ mọc chồi,
Bởi mẹ chưa dễ ở đời với ta,
Non xanh bao tuổi mà già,
Bởi vì sương tuyết hoá ra bạc đàu.
2. Bức tranh mẹ nghĩa đức dầy công lao sinh đẻ, nuôi nấng và vun trồng gầy dựng cho con cái là bức tranh tổng quát thường được xếp hàng đầu và thường dễ thấy nhất trong ca dao. Nhưng không chỉ có bức tranh ấy. Bên cạnh bức tranh nghĩa và đức của mẹ, người ta còn thấy bức tranh thứ hai, có lẽ chi tiết hơn, nhưng không kém vẻ kiều diễm. Đó là bức tranh người mẹ, bà giáo hiền dậy con. Trong cái khung cảnh thái bình và hạnh phúc của nền kinh tế và văn hoá nông nghiệp, lý tưởng giáo dục của các bà mẹ không vượt ngoài khuôn khổ lý tưởng giáo dục chung của xã hội, trong đó, trai thì phải xuất xử, gái thì phải cửi canh :

Trên trời có cái cầu vồng,
Kẻ chợ cầu Muống, cửa đông cầu Rền
Vua trên đền, cầu vàng cầu bạc,
Các lái buôn cầu nước cầu non
Đôi ta cầu của cầu con,
Con đẹp giống mẹ, con dòn giống cha.
Con gái dệt cửi trong nhà,
Con trai đi học đỗ ba khoa liền.
Con lớn thì đỗ trạng nguyên,
Hai con tiến sĩ đỗ liền cả ba.
Vinh qui bái tổ về nhà,
Bõ công đèn sách mẹ cha nuôi thầy.

Có một ước vọng rõ rệt như vậy về cuộc đời cho con cái, bà không ngần ngại đem ra áp dụng bằng cách khuyên dậy, răn bảo con cái :

Con ơi, muốn nên thân người,
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.
Gái thì giữ việc trong nhà,
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa.
Trai thì đọc sách ngâm thơ,
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt, sau là ấm thân.

Trong việc dậy bảo, bên cạnh việc giáo dục gia đình, việc giáo dục quốc gia, xưa là khoa bảng nho học, nay là thạc sĩ và tiến sĩ đại học giữ một vai trò rất quan trọng.

Mừng nay nho sĩ có tài,
Bút nghiên dóng dả giùi mài nghiệp Nho.
Rõ ràng nên đấng học trò,
Công danh hai chữ trời cho dần dần.
Tình cờ chiếm được bảng xuân,
Ấy là phú quí đầy xuân quế hoè.
Một mai chân bước Cống, Nghè,
Vinh qui bái tổ, ngựa xe đưa mình.
Bốn phương nức tiếng vang lừng,
Ngao du Bể Thánh, vẫy vùng Rừng Nho.
Quyền cao chức trọng Trời cho,
Bõ công học tập, bốn mùa chúc minh.
Vui đâu bằng Hội đề danh,
Nghề đâu bằng nghiệp học hành là hơn.
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy xuôi.
Phu nhân thời có công nuôi,
Toàn gia hưởng phúc lộc trời ban cho.

Vì vậy, bà cố sức :

Dậy con từ thủa tiểu sinh,
Gần thầy, gần bạn tập tành lễ nghi.
Học cho cách vật trí tri,
Văn chương chữ nghĩa, nghề gì cũng thông.

Và không quên nhắc nhở con cái về cái gia nghiệp, về đức cần kiệm, về cách làm ăn:

Trăm năm như cõi trời chung,
Trăm nghề cũng phải có công mới thành.
Cứ trong gia nghiệp nhà mình,
Ngày đêm xem sóc giữ gìn làm ăn.
Chữ rằng ‘Tiểu phú do cấn’,
Còn như ‘Đại phú‘ là phần ‘do thiên’.
Đừng trễ nải, chớ ghét ghen,
Còn như lộc nước, có phen dồi dào.

Bà cũng không quên rằng xã hội không chỉ có ‘sĩ‘, mà còn có ‘nông’, ‘công’ và ‘thương’. Và chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Khổng nho, bà vẫn tâm niệm rằng :

Trời thu vừa gặp tiết lành,
Muôn dân yên khỏe thái bình âu ca.
Muốn cho yên nước, yên nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Trong bốn nghiệp ra công gắng sức,
Đường nghĩa phương ta phải khuyên con.
3. Cạnh kề hai bức tranh trên, còn một bức tranh thứ ba rất linh hoạt về mẹ. Đó là bức tranh người mẹ đảm đang. Dĩ nhiên cũng như hai bức tranh trước, trong bức tranh này, người mẹ tốt và người vợ hiền như chồng lên nhau thành một.
Sự đảm đang của bà trước nhất là ở sự quán xuyến công việc cửa nhà.

Canh một dọn cửa dọn nhà,
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Lo cho chồng học hành
Canh tư bước sang canh năm,
Trình anh dậy học, chớ nằm làm chi.
Nữa mai Chúa mở khoa thi,
Bảng vàng choi chói kìa đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.
Lo lắng săn sóc nuôi nấng con cái
Miệng ru mắt nhỏ đôi hàng
Thương con càng lớn mẹ càng thêm lo

Nết đảm đang thứ hai của bà là ở sự thông thạo công việc đồng áng.

Khó thay công việc nhà quê,
Cùng năm khó nhọc dám hề khoan thai.
Tháng chạp thời mắc trồng khoai,
Tháng giêng trồng đău, tháng hai trồng cà.
Tháng ba cầy vỡ ruộng ra,
Tháng tư bắt mạ thuận hòa mọi nơi.
Tháng năm gặt hái vừa rồi,
Bước sanh tháng sáu nước trôi đầy đồng.
Nhà nhà, vợ vợ, chồng chồng,
Đi làm ngoài đồng, sá kể sớm trưa.
Tháng sáu, tháng bảy khi vừa,
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ tranh.
Tháng tám lúa giỗ đã đành,
Tháng mười cắt hái cho nhanh kịp người.
Khó khăn làm mấy tháng trời,
Lại còn mưa nắng bất thời khổ trông.
Cắt rồi nộp thuế nhà công,
Từ rầy mới được yên lòng ấm no.

Và nét đảm đang thứ ba của bà được thấy rõ ở việc thành thạo công thương.

Một năm chia mười hai kỳ,
Thiếp ngồi thiếp tính khó gì chẳng ra.
Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm.
Tháng ba đi bán vải thâm,
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về,
Tháng sáu em đi buôn bè,
Tháng bảy, tháng tám trở về đong ngô…
4. Trong ba bức tranh trên, hình ảnh đảm đang của bà mẹ đã được họa trong khung cảnh của một gia đình đầy đủ. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng hoàn hảo như thế. Có những lúc người cha đi vắng. Sự can đảm của người mẹ thực là cao cả. Bức tranh thành ra chứa chất những nét đớn đau, vừa hào hùng, vừa bi thảm. Bức tranh thứ tư về mẹ phải là bức tranh ‘Mẹ can đảm sầu bi ‘

Anh đi, em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi, anh liệu chen đua với đới.

Hoặc thì nét nhớ nhung, nét cô đơn phảng phất khắp bức tranh.

Bác mẹ già lơ phơ đầu bạc,
Con chàng còn trứng nước thơ ngây.
Có hay chàng ở đâu đây,
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.

Bức tranh này thành ra thống thiết, nếu sự vắng bóng của người cha là vĩnh viễn. Hình ảnh mẹ góa nuôi con côi thực là chơi vơi.

Thiệt hại thay cho thằng bé nên ba,
Nó lăn, nó khóc giữa nhà năm gian,
Khóc than giữa chốn linh sàng,
Ba vuông nhiễu tím đôi hàng chữ vôi.
Chớ thiệt hại thay, người khác thì đã yên rồi,
Để cho người sống ở đời trơ vơ.
Ba bốn năm nhang khói thiếp tôi phụng thờ,
Đầu đội chữ hiếu, tay xe chữ tình.
Chữ Hiếu Trung, tôi gánh vác một mình,
Chẳng hay chàng có thấu tình thiếp hăng ?
Đường đi Khuất nẻo khói chùng.

Dĩ nhiên về người mẹ, ca dao Việt Nam không chỉ họa có bốn bức tranh trên, mà còn họa biết bao bức tranh khác nữa, trong đó nhiều hình ảnh khác được ghi nhận, nhiều nét vẽ khác được phác họa, nhiều sắc mầu khác được tô điểm. Nhưng đó là bốn bức độc đáo hơn cả.

Trong những bức khác, nét vẽ có vẻ tượng trưng, trừu tượng hơn, mà thoạt nhìn chẳng thấy nét nào về mẹ, như những bức tranh sơn thủy, tứ thời, đồng áng. Nhưng nếu biết mẹ là biểu tượng của sự khôn ngoan, được diễn tả bằng hình ảnh nước, mẹ là nguồn gốc và là kết quả của việc đồng áng,…thì những bức tranh về mẹ đếm sao cho hết.

Có những bức khác, hình ảnh mẹ lại ẩn hiện trong những cảnh khác của cuộc sống : cảnh cưới hỏi, cảnh đình đám, cảnh chợ búa,… Đâu đâu, nếu biết nhìn, và muốn nhìn, thì người ta cũng thấy những hình ảnh mẹ.

Vì hình ảnh mẹ được vẽ nhiều và khắp nơi như vậy, thành ra nhiều lúc và nhiều người không thấy mẹ, nhất là những lúc còn mẹ, có mẹ. Nhưng khi nào mẹ mất, lúc đó người ta mới thấy mẹ ; đúng hơn là thấy thiếu mẹ./.

Paris, ngày 01.05.2019
Trần Văn Cảnh

Linh mục dòng Đa Minh: Luật mới của California về ấn tín tòa giải tội chỉ nhằm bách hại các linh mục

Nếu California áp dụng dự luật đang được đề nghị nhằm ép buộc các linh mục phải vi phạm ấn tín tòa giải tội, thì không chỉ có Giáo Hội Công Giáo mà tất cả mọi tôn giáo sẽ phải đau khổ, một linh mục dòng Đa Minh đã đưa ra nhận xét trên trong một bài viết gần đây trên tờ USA Today.

Hôm Chúa Nhật 28 tháng Tư, Cha Pius Pietrzyk, trợ lý giáo sư giáo luật tại Chủng viện St. Patrick ở Menlo Park, California, cảnh báo rằng nếu dự luật này được thông qua, không có tôn giáo nào được an toàn.

Nếu một nguyên tắc cốt lõi ăn sâu vào truyền thống và giáo lý Công Giáo có thể bị nhà nước xóa bỏ dễ dàng như thế, thì không còn quyền tín ngưỡng hay lương tâm cơ bản nào là an toàn.

Dự luật Thượng viện California 360, tìm cách buộc các linh mục phải vi phạm ấn tín tòa giải tội trong các trường hợp nghi ngờ lạm dụng hoặc bỏ bê trẻ em.

Hơn 40 ngành nghề, bao gồm cả giáo sĩ, đã bị chi phối bởi luật pháp tiểu bang yêu cầu họ phải thông báo cho chính quyền dân sự trong các trường hợp nghi ngờ lạm dụng hoặc bỏ bê trẻ em. Tuy nhiên, luật hiện hành miễn trừ đối với “các trao đổi sám hối” giữa một cá nhân và thừa tác viên của họ nếu yêu cầu bảo mật bắt nguồn từ tín lý của giáo hội liên hệ. Lời thú tội trong tòa giải tội là một trường hợp điển hình.

Thượng nghị sĩ Jerry Hill đã giới thiệu dự luật California 360 vào tháng Hai, nói rằng: “Luật pháp nên được áp dụng như nhau cho tất cả các nhà chuyên môn bị chi phối bởi luật bắt buộc phải báo cáo những tội ác này – không có ngoại lệ, chấm hết.” Ông ta cho rằng việc miễn trừ cho các giáo sĩ chỉ là nhằm bảo vệ những kẻ lạm dụng và khiến trẻ em có nguy cơ cao hơn.

Đáp lại, Cha Pius Pietrzyk khẳng định rằng dự luật này không có gì khác hơn là “một nỗ lực nhằm tống giam các linh mục vô tội”.

Mặc dù mục đích của đạo luật báo cáo bắt buộc là tốt, “không có bằng chứng nào cho thấy việc buộc các linh mục tiết lộ các trường hợp lạm dụng biết được trong tòa giải tội sẽ ngăn chặn được một trường hợp lạm dụng trẻ em nào”.

Thay vào đó, ngài nói, “Có tất cả mọi lý do để tin rằng việc loại bỏ miễn trừ này sẽ có nghĩa là thủ phạm đơn giản sẽ không đưa vụ việc đó ra tòa giải tội. ”

Dự luật sẽ buộc một linh mục nghe được tội lạm dụng tình dục trong tòa giải tội “phải chọn hoặc là đối diện với án tù hoặc là phản bội bí mật đó và vi phạm lương tâm sâu sắc nhất của ngài và luật pháp của Thiên Chúa và của Giáo Hội Công Giáo.”

Cha Pius Pietrzyk nhận xét rằng: “Tôi biết rõ là tất cả các linh mục thuộc mọi quang phổ thần học và ý thức hệ, không ai trong số họ từng xem xét việc vi phạm ấn tín tòa giải tội.”

“Giáo Hội Công Giáo cho rằng bí tích hòa giải là một bí tích quan trọng, cho phép các hối nhân nhận được ân sủng của Chúa Kitô và tha thứ tội lỗi cho họ,” vị linh mục giải thích.

“Mặc dù vị linh mục hoạt động như một công cụ, nhưng việc xưng tội về cơ bản là một cuộc gặp gỡ giữa hối nhân Kitô hữu với Thiên Chúa; người ấy thừa nhận tội lỗi của mình với Chúa và thông qua vị linh mục nhận được ơn xá giải của Chúa. Đó là một khoảnh khắc linh thánh trong đó một người tiết lộ phần sâu thẳm nhất trong lương tâm của mình trước Thiên Chúa.”

Giáo hội dạy rằng “ấn tín bí tích hòa giải” là bất khả xâm phạm và không thể thay đổi bởi các thẩm quyền con người, bởi vì nguồn gốc của bí tích này nằm trong mặc khải của Thiên Chúa,” Cha Pius Pietrzyk nói. Một linh mục cố ý vi phạm ấn tín này phạm vào một trọng tội và lập tức bị tuyệt thông.

Giáo Hội Công Giáo cho rằng thông tin mà linh mục nhận được trong tòa giải tội không thuộc về ngài. Nó chỉ thuộc về Chúa. Vì lý do đó, một linh mục dứt khoát bị cấm tiết lộ tội lỗi của một hối nhân, không có bất kỳ ngoại lệ nào.

Niềm tin này là nền tảng cho giáo lý Công Giáo, tồn tại trong nhiều thế kỷ trước khi Hoa Kỳ được thành lập, vị linh mục lưu ý. Và từ lâu điều này đã được các tòa án và chính quyền dân sự tán thành.

Cha Pius Pietrzyk nhắc nhớ rằng vào năm 1813, Tòa Đại Hình New York tuyên bố: “Buộc một thừa tác viên nói ra những gì nhận được trong tòa giải tội, là tuyên bố rằng sẽ không còn có sự thú tội nữa; và đặc tính quan trọng này đạo Công Giáo sẽ bị tiêu diệt.”

Năm 1980, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thừa nhận: “Quan hệ giữa linh mục và hối nhân thừa nhận nhu cầu của con người phải tiết lộ cho một cố vấn tâm linh, là người mình hoàn toàn tin tưởng một cách tuyệt đối, những gì được cho là khiếm khuyết trong hành động hoặc suy nghĩ ngõ hầu có thể nhận được sự an ủi và hướng dẫn.”

Với bối cảnh tôn giáo và lịch sử của ấn tín bí tích hòa giải, tất cả người dân Hoa Kỳ cần phải cảnh giác trước dự luật của California.

“Buộc các cá nhân lựa chọn giữa phần bất khả xâm phạm nhất trong niềm tin tôn giáo và tù tội chính là điều mà Dự luật Nhân quyền [10 tu chính án đầu tiên của Hoa Kỳ được thông qua năm 1791- chú thích của người dịch] muốn tránh đi.”

Source:Catholic News Agency

 

 

Cảnh sát Paris nghi ngờ công nhân xây dựng hút thuốc làm cháy nhà thờ Đức Bà

nhatho

 

Trong bản tin hôm thứ Sáu 26 tháng Tư, thông tấn xã Công Giáo Catholic News Agency tường thuật rằng một cuộc tranh luận sôi nổi đã diễn ra trên các phương tiện truyền thông tại Pháp sau khi tờ Le Canard Enchaine của Paris đưa tin rằng cảnh sát đã tìm thấy 7 mẩu thuốc lá trong ngôi nhà thờ bị cháy, và các nguồn tin thân cận với cuộc điều tra đã xác nhận báo cáo này.

Phát hiện này đã gây ra các phản ứng mạnh mẽ trong dư luận tại Pháp và đã khiến cho công ty giàn giáo đang làm việc tại nhà thờ chính tòa Đức Bà Paris khi xảy ra vụ hỏa hoạn phải lên tiếng.

Ông Marc Eskenazi, phát ngôn viên của công ty giàn giáo Le Bras nói với các phóng viên rằng các công nhân của công ty có thể đã từng hút thuốc lá trong khi làm việc trên mái nhà của nhà thờ, nhưng thuốc lá không phải là nguyên nhân của vụ cháy.

“Chắc chắn, hút thuốc gây ung thư phổi, bệnh tim, sinh suất thấp, đột quỵ và viêm khớp. Nhưng hút thuốc không thể nào gây ra vụ cháy ngày 15 tháng 4 tại Nhà thờ Đức Bà ở Paris. Chúng tôi lên án nó. Nhưng ngọn lửa bắt đầu bên trong tòa nhà. .. vì vậy đối với công ty Le Bras, đây không phải là một giả thuyết, không phải là một điếu thuốc đã làm cho nhà thờ Đức Bà Paris bốc cháy,” ông Marc Eskenazi nói với Reuters hôm 24 tháng Tư.

Ông cũng bác bỏ 7 mẩu thuốc lá cảnh sát tìm được là của công nhân công ty Le Bras.

“Tôi không biết những mẩu thuốc lá đó ở đâu ra nhưng các mẩu thuốc lá mà sống sót nổi sau trận hỏa hoạn kinh hoàng như thế thì tôi không biết chúng được làm từ chất liệu gì?” ông Marc Eskenazi vặn hỏi ngược lại, và khẳng định không thể tàn thuốc lá có thể đốt được một thanh gỗ.

Công ty Le Bras cũng nói rằng đám cháy không thể xuất phát từ các thang máy đưa lên giàn giáo của mình, và lưu ý rằng hệ thống điện của họ được bảo trì tốt, và thang máy của họ đã được cúp điện vào thời điểm đám cháy bắt đầu vì đã hết ngày làm việc.

Tuy nhiên, các công tố viên Pháp nói rằng họ không loại trừ bất kỳ khả năng nào liên quan đến việc bắt đầu vụ cháy, và họ tiếp tục điều tra tất cả các nguyên nhân có thể.

 

chay_nha_tho_duc_ba_paris_

Vụ hỏa hoạn bắt đầu vào lúc 6g50 chiều ngày thứ Hai Tuần Thánh 15 tháng 4 đã phá hủy mái nhà thờ và ngọn tháp cao đến 91.44m. Những hình ảnh bên ngoài nhà thờ cho thấy một sự tàn phá gần như hoàn toàn sau vụ hỏa hoạn, nhưng thật sự trần nhà thờ bằng đá vòm đã không hề hấn gì và nhiều di tích lịch sử, tôn giáo và nghệ thuật của nhà thờ đã được cứu khỏi ngọn lửa. Các cửa sổ hoa hồng nổi tiếng, các tháp chuông và các quả chuông lớn, cùng với cây đàn đại phong cầm đều còn nguyên vẹn sau vụ cháy. Các vật phẩm tôn giáo quan trọng nhất của nhà thờ như vương miện gai Chúa Kitô, áo choàng vua Louis và Mặt Nhật có Mình Thánh Chúa đã được cứu trong trận hỏa hoạn.

 

ttxvn_chaynhathoducba

Không có ước tính chính thức nào là việc trùng tu nhà thờ sẽ mất bao lâu. Nhưng, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron nói rằng ông muốn thấy việc phục hồi hoàn toàntrong vòng năm năm, các chuyên gia nói rằng khả năng đó có lẽ khó xảy ra.

Gần một tỷ euro đã được cam kết cho nỗ lực phục hồi.

Vietcatholic News

12 TÔNG ĐỒ CÁC NGÀI SỐNG Ở ĐÂU VÀ CHẾT NHƯ THẾ NÀO SAU NGÀY CHÚA VỀ TRỜI

42680_Jes_s_Rey_de_los_Ap_stoles-1024x704-628x431.jpg

 

Những ngày xa xưa, buổi đầu của biến cố Tin Mừng được rao giảng. Chúa Giêsu đã đích thân tuyển chọn 12 người để cộng tác với Người trong việc rao truyền Tin Mừng cứu độ. Tin Mừng ghi:

“Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, và suốt đêm, Người cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Sáng ngày, Người gọi các môn đệ và chọn mười hai vị mà Người gọi là Tông đồ: Ðó là Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, và em ông là Anrê, Giacôbê và Gioan, Philipphê và Bartôlômêô, Matthêu và Tôma, Giacôbê con ông Alphê và Simon cũng gọi là Nhiệt Thành, Giuđa con ông Giacôbê và Giuđa Iscariốt là kẻ phản bội.” (Luca 6:12-16)

Ngoại trừ một vài Tông Đồ được nhắc đến về số phận và cái chết của họ trong Tin Mừng như Phêrô, Gioan, ngay cả Giuđa, số còn lại ít ai được biết tới. Chúng ta muốn biết là sau khi Chúa Giêsu về trời thì số phận của họ như thế nào?!! Theo Thánh Kinh thì sau khi Chúa chịu chết, sống lại và về trời, đặc biệt, sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống thì đời sống của các Tông Đồ đã thay đổi hoàn toàn. Các ông không còn rụt rè, nhút nhát, sợ sệt, nhưng đã mạnh dạn, can đảm ra đi để làm chứng nhân cho Tin Mừng. Vậy họ đã làm gì? Sống và chết ra sao?

Sau khi Chúa Giêsu về trời, các tông đồ trở lại Giêrusalem và cầu nguyện 10 ngày như Chúa Giêsu đã căn dặn (Acts 1:4). Các ông nhận lãnh Thánh Thần trong lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (Acts 2). Lịch sử của Giáo Hội đã khai mở, nhưng ngoài những gì được ghi trong các Phúc Âm, trong Tông Đồ Công Vụ, trong các Thánh Thư, đặc biệt là những thư của Phaolô, chúng ta biết rất ít về số phận các tông đồ, mặc dù chúng ta vẫn tin tưởng rằng các ông đã đi rất xa tận cùng trái đất để rao giảng về Chúa Giêsu. Các ông đã đau khổ vì đức tin, và đã bị chết một cách đau đớn để trở thành những chứng nhân sống động cho Tin Mừng mà các ông rao giảng.

13 Tông Đồ gồm Matthias thay thế Giuđa, Phaolô, Tông đồ dân ngoại do Chúa Giêsu chọn trên đường đi Damas, đều được cho là đã hy sinh mạng sống mình vì danh Chúa Giêsu trong khi rao truyền danh thánh ấy cho muôn dân. Phaolô bị chặt đầu bằng gươm, vì ông có quốc tịch Rôma. Ông bị hành hình dưới thời hoàng đế Neron năm 33 AD. Cuộc đời của Phaolô, ơn gọi đặc biệt của ông, cuộc trở lại diệu kỳ của ông, hành trình truyền giáo của ông, cũng như những tư tưởng phi thường của ông đã được ghi rõ trong Tông Đồ Công Vụ và các thư do ông viết. Số còn lại:

1.Andrê –

Ông giảng đạo cho người Scythians và Thracians. Bị đóng đinh và an táng tại Patrae (Hy Lạp). Theo Hippolytus, Andrê giảng đạo tại Georgia/Bulgaria ngày nay, phần đất nối liền với Hắc Hải gần Thổ Nhĩ Kỳ. Ông bị đóng đinh tại Achaia, treo trên một cây Olive tại Patrae, thành Achaia, Hy Lạp và được an táng tại đây.  Eusebius trong lịch sử của Giáo Hội đã dùng tài liệu của Origen để xác định rằng Andrê giảng đạo tại Scythia. Trong Chronicle of Nestor thêm rằng, ông giảng đạo dọc theo Hắc Hải (Black Sea) và sông Dnieper tới mãi tận Kiev, và từ đó di chuyển đến Novgorod. Do đó, ông trở thành Bổn Mạng của nước Ukraine, Romania và Nga. Theo tương truyền, ông lập tòa ở Byzantium (Constantinople và Istanbul sau này) năm 38 AD, mà sau này biến thành tòa thượng phụ Constantinople, và đã đặt Stachys là Giám Mục. Cả Andrê và thánh Stachys đều được coi là quan thầy của Tòa Thượng Phụ.

Andrê được miêu tả là bị đóng đinh ở Patras (Patrae) thuộc Achaea. Những tài liệu trước đó trong Công Vụ của Andrê (Acts of Andrew) như Gregory of Tours đã cho rằng ông bị trói chứ không phải bị đóng bằng đinh vào một loại thập giá gọi là thập giá Latin có hình chữ X. Cái chết của ông, theo nhà sử học thuộc thế kỷ 15, là Dorman Newman, khi ở Patras thuộc đông Hy Lạp năm 69 AD, vị Tổng Đốc Rôma là Aegeates ở đây đã tranh luận với ông về tôn giáo. Aegeates đã cố gắng thuyết phục Andrê từ bỏ Kitô giáo để tránh bị tra tấn và xử hình. Cuối cùng ông bị đánh đòn và sau đó bị đóng đinh. Ông đã sống thoi thóp trên thập giá 2 ngày, và không ngừng rao giảng Tin Mừng cho những người qua lại. Tại Hy Lạp gần Ethiopia vẫn còn dấu tích mộ của ông.

Ngoài ra, Scots cũng cho rằng Andrê cũng đã đến giảng đạo tại Picts (vì vậy họ dùng cây thập giá của Thánh Andrê trên quốc kỳ của họ).

Ngư phủ từ Galilee, em của Phêrô. Nguyên thủy ông là môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Mark 1:16-18). Sau khi cùng anh là Phêrô bỏ nghề chài lưới theo Chúa, ông thuộc số những tông đồ đầu tiên của Người.

2.Bathôlômêô  –

Theo truyền tụng đại chúng của người Armenians, Tông Đồ Jude (Thaddaeus) là người đầu tiên đến truyền giảng Tin Mừng trong vùng này từ năm 43-66 AD. Năm 60 AD, Barthôlômêô đã đến cùng truyền đạo với ông. Khi đến nơi, ông đã mang theo Phúc Âm của Mátthêu, và đã dịch Phúc Âm này sang tiếng địa phương. Barthôlômêô tử đạo tại Albanopolis, Armenia năm 68 AD.

Nhiều tài liệu khác nhau về cái chết của ông, một số cho rằng ông bị chém đầu. Một số khác thì ông bị lột da sống và chịu đóng đinh ngược đầu do lệnh truyền của Astyages. Lý do vì ông đã cải đạo Polymius em của Astyages, vua xứ Armenia.

Ông là người từ Cana, Galilee với tên gọi Nathanael. Trong Lịch Sử Hội Thánh của Eusebius, sau khi Chúa về trời, Barthôlômêô sang truyền giáo tại Ấn Độ. Cũng có một truyền thuyết khác nói rằng ông đã truyền rao Tin Mừng tại Ethiopia, Mesopotania, Parthia, và Lycaonia. Nhưng phần đông vẫn cho rằng ông giảng đạo tại Ấn Độ, và sau này đến Greater Armenia.

3.Giacôbê –

Cũng vì cha ông là Alphaeus, nên ông thường bị cho là anh em với Matthêu.

Sau khi Chúa về trời, ông truyền rao Tin Mừng trong phạm vy Giêrusalem. Ông là một trong những vị Tông Đồ sống lâu nhất, có lẽ còn hơn cả Gioan. Ông qua đời năm 94 tuổi. Trước hết bị đánh đòn, và bị ném đá. Sau đó bị đánh vào đầu bằng một cây gậy. Tuy nhiên, theo Hippolytus, thì ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem. Và ông được mai táng bên cạnh đền thờ năm 62 AD.

Con của Alphaeus chứ không phải là con của Zebedee, và do đó, ông cũng không phải là anh em với Gioan. Tên của ông được xuất hiện trong Mt 10:1-3, Mark 3:14-19, Luca 6:13-16, và Acts 1:13. Mẹ của ông là Maria, một trong những phụ nữ ra viếng mộ Chúa Giêsu và thấy mộ trống trong buổi sáng Phục Sinh. Ông được gọi là Giacôbê Trẻ hay Giacôbê Hậu để phân biệt với Giacôbê Tiền hay Giacôbê Cả là anh của Gioan.

4.Giacôbê –

Là ngư phủ sinh sống quanh Bethsaida, Capernaum và Giêrusalem. Ông cùng em đã bỏ chài lưới đi theo Chúa Giêsu khi Người gọi hai ông, lúc hai ông đang vá lưới dưới thuyền với cha mình. Ông và em ông được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh là con sấm sét.

Rao giảng tại Giuđêa và bị quận vương Herod Agrippa chém đầu và được an táng ở Giuđêa (Tông Đồ Công Vụ 12:2). Hippolytus xác nhận cái chết của Ông. Eusebius đã diễn tả chi tiết hơn. Đầu tiên là Stêphanô bị ném đá, rồi tiếp đến là Giacôbê bị chém đầu.

Lý do ông bị chết vì Herod Agrippa, quận vương mới của Judea muốn chứng tỏ mình trung thành với người Rôma bằng cách bắt bớ những thủ lãnh các tôn giáo. Sau khi Giacôbê bị bắt và bị dẫn đi hành hình, người tố cáo ẩn danh ông đã xúc động do lòng can đảm của ông, nên không những đã xin theo đạo, mà còn xin được chết chung cùng với Giacôbê. Đề nghị đã được chấp thuận và cả hai đã bị chém đầu.

Con của Zebedee người làng Bethsaida, và là anh của Gioan. Ông và em ông là anh em họ với Chúa Giêsu. Để phân biệt với Giacôbê con ông Alphaeus, ông được gọi là Giacôbê Cả. Tên của Ông không rời xa tên em Ông là Gioan trong Mark 1:19-20; Mt 4:21), và Luca 5:1-11). Ông là Tông Đồ đầu tiên bị tử đạo năm 44 AD.

5.Gioan –

Theo Hippolytus, trong cuộc bách hại của Domitian và giữa năm 90, ông bị lưu đày qua đảo Patmos. Bị lưu đày tại đảo Patmos, nhưng ông qua đời ở tuổi già tại Ephesus khoảng 100 AD. Ông viết Phúc Âm và viết 3 lá thơ. Cũng trong thời gian lưu đày ở đảo Patmos, ông đã viết sách Khải Huyền là cuốn sau cùng chấm dứt bộ Tân Ước.

Ông là đầu của giáo hội tại Ephesus, và được diễm phúc phụng dưỡng Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu. Theo truyền thống Latin trước đó, ông được cho là đã thoát khỏi vạc dầu sôi sau khi bị vứt vào đó tại Rôma.

Em của Giacôbê con ông Zebedee. Ông và anh mình được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh “Boanerges”, có nghĩa là con Sấm Sét, khi hai ông xin Chúa cho lửa bởi trời xuống thiêu hủy dân làng Samaritan vì đã không đón tiếp Ngài (Luca 9:51-54) và tham vọng do người mẹ của hai ông muốn sắp xếp chỗ ngồi bên phải, bên trái Chúa (Mark 10:35-37). Nhưng ông cũng là người được Chúa Giêsu yêu cho dựa đầu vào ngực Chúa trong bữa tiệc ly, và trối Đức Mẹ lại trước khi Ngài tắt thở trên thập giá: “Này là mẹ con” (Gioan 19:24-27).

6.Matthêu –

Cũng theo một truyền thuyết, ông giảng đạo và bị tử đạo tại Persia và Ethiopia. Ông bị đâm sau lưng bằng lưỡi đòng do một tên hành quyết được vua Hertacus cử tới bởi vì ông đã phê bình đời sống luân lý của vua.

Matthêu hay cũng còn gọi là Levi, con của Alphaeus, vì thế ông bị cho là anh em với Giacôbê Trẻ. Trước khi được Chúa gọi, ông là người thu thuế ở Capernaum. Ông viết Phúc Âm cho người Do Thái. Với mục đích viết Phúc Âm cho người Do Thái, nên Phúc Âm của ông được viết bằng tiếng Do Thái. Ông chết tại Hierees, một thành của Parthia (Iran). Eusebius coi ông là giám mục Papias của Hierapolis, trước năm 110 A.D.

7.Simon/Phêrô –

Sau 3 năm theo Thầy, và sau khi Chúa về trời, ông khởi đầu sứ vụ bằng bài giảng ngay trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (Tông Đồ Công Vụ, Chương 2). Một bài giảng gây tiếng vang, và đã thu hút 3000 người xin chịu phép Rửa ngay ngày hồm đó. Ông chuyên chú vào người Do Thái, khác với Phaolô nhắm tới dân ngoại. Sau nhiều lần bị giam giữ tại Giêrusalem, ông đã tới Rôma, ở đó cùng với Maccô thư ký của ông đã biên Phúc Âm thứ nhất theo lời giảng của ông. Phần cá nhân, ông cũng viết 2 thư xuất hiện trong Tân Ước.

Ông được Chúa Giêsu đổi tên là Cephas (Phêrô) do lòng nhiệt thành của ông. Đó cũng là tên mà Chúa Giêsu nhắm tới việc xây dựng Giáo Hội của Ngài trên ông. “Con là Cephas nghĩa là đá, trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội Thầy” (Mt 16:18). Irenaeus (c.180A.D) dựa theo truyền thống, cho rằng Phêrô và Phaolô đã xây dựng Giáo Hội ở Rôma. Ông là vị Giáo Hoàng tiên khởi của Hội Thánh Công Giáo.

Phêrô, theo Phaolô ghi lại trong thư gửi giáo đoàn Galatians, thì cũng đã một lần viếng thăm Antioch (Galatians 2:11) và có thể ở Corinth (1 Corinthians1:12).  Cũng trong Tông Đồ Công Vụ, ông đã giảng đạo cho Cornelius ở Caesarea. Người đầu tiên được ông hướng dẫn mà không phải Do Thái (Acts 10).

Theo truyền thuyết, hoàng đế Rôma là Nero đã ra lệnh giết Phêrô năm 66 AD, sau 33 năm Chúa về trời. Ông bị đóng đinh ngược và được an táng dưới hầm vương cung thánh đường Thánh Phêrô hiện nay ở Rôma.

Simon sinh tại Betsaida thuộc Galilee. Xuất thân ông là một ngư phủ chuyên nghiệp. Cha của ông cũng là ngư phủ chuyên nghiệp tên là Jona. Ông có người em là Andrê cũng là Tông Đồ trong nhóm 12 được Chúa Giêsu tuyển chọn. Căn nhà ông ở tại Capernaum vào thế kỷ thứ 5 người ta xây một thánh đường bao trên đó.

8.Philip  –

Philip là người thứ sáu trong số 12 tông đồ được Chúa Giêsu tuyển chọn (Gioan 1:43). Liền sau khi trở thành môn đệ Chúa, ông đã đi giới thiệu Chúa Giêsu cho Nathanael (Bartholomew). Khi khi thấy Nathanael ngần ngại, nghi ngờ, ông đã bảo bạn mình: “Hãy tới mà xem” (Gioan 1:46).  Và Nathanael cũng được Chúa tuyển chọn làm Tông Đồ. Nhưng ông được Phúc Âm nhắc đến nhiều ở biến cố Chúa làm phép lạ bánh hóa nhiều, khi Người muốn thử xem ông phải làm gì (Gioan 6:5-6). Phúc Âm cũng nói đến việc những người Hy Lạp Do Thái trong dịp lễ Vượt Qua (Passover) tại Giêrusalem nhờ ông giới thiệu họ với Chúa Giêsu (Gioan 12:20-22). Nhưng xúc động nhất là câu hỏi của ông trong Bữa Tiệc Ly, khi đó ông xin Chúa Giêsu cho được thấy Chúa Cha (Gioan 14:8-11).

Sau khi Chúa về trời Tông Đồ Công Vụ ghi, ông đã tới Samaria ở đó rao giảng Tin Mừng và thực hiện những phép là (Acts 8:4-6). Ông đã cải đạo được cho Simon phù thủy (Acts 8:9-13). Trong khi nhận được lời truyền từ thiên thần, ông đã gặp một người Ethiopia tại Gaza, một vị hoạn quan quyền thế dưới quyền hoàng hậu Candace, và đã rửa tội cho ông này (Acts 8:26-39). Sau cùng ông sống tại Caesarea (Acts 21:8), cũng theo Tông Đồ Công Vụ thì Philip có 4 người con gái sống đời đồng trinh và đã được ơn nói tiên tri (Acts 21:9).

Philip người Bethsaida là một trong số những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Rao giảng ở Phrygia, Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Ông bị đánh đòn, bỏ vào ngục và bị ném đá năm 80 AD tại Hierapolis, Thổ Nhĩ Kỳ.

  1. Simon Nhiệt Thành –

Ông qua đời hưởng thọ 120 tuổi. Ông được an táng tại Giêrusalem. Theo tài liệu thì ông đã bị đóng đinh như vị Giám Mục của Giêrusalem sau khi giảng Phúc Âm tại Samaria. Một tài liệu khác lại cho rằng khi truyền giáo tại Persia ông đã từ chối không dâng lễ vật cho thần mặt trời và đã bị giết. Cũng có tài liệu cho rằng ông bị cưa đôi khi ở Persia.

Nhưng các tài liệu không đồng nhất về những nơi nào ông đã rao giảng Tin Mừng. Có tài liệu nói là ông đã giảng đạo tại Anh. Cũng có tài liệu bằng tiếng Hy Lạp thì ông giảng đạo tại Hắc Hải (Black Sea), Ai Cập, và Bắc Phi. Nhưng tài liệu Latin “Passio Simonis et Judae”, ông làm việc tại Persia, và tử đạo tại Suanir, nhưng nơi an táng của ông không ai biết.

Truyền thống sau này cho rằng sau khi giảng đạo tại Ai Cập, ông và Juđa cùng nhau giảng đạo tại Persia và Armenia, hoặc Beirut, Lebanon. Cả hai cùng tử đạo năm 65 AD.

Giáo Hội Tây Phương kính ông cùng với Jude (Thaddaeus). Ngược lại, ở Đông Phương hai ngài được kính riêng. Ông làm quan thầy những người thuộc da.

Giám mục Giêrusalem sau Giacôbê. Ông đến từ Cana và vì thế cũng được gọi là Simon người Canaanite, hoặc Simon Nhiệt Thành (nhưng không thuộc những người Do Thái nhiệt thành chống lại người Rôma). Ông là con của Clopas. Theo Hippolytus, ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem kế vị Giacôbê. Thánh Demetrius thành Rostov đã xác nhận ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem.

10.Thaddaeus/Judas –

Thánh Giêrônimô gọi Judas là “Trinomious” có nghĩa là người có 3 tên. Trong Mark 3:18 ông được gọi là Thaddeus. Trong Matthêu 10:3, ông được gọi là Lebbeus. Và tên Thaddeus (Trái tim được sưởi ấm). Trong Luca 6:16 và Tông Đồ Công Vụ 1:13, ông được xem như Juda anh em của Giacôbê.

Theo Hippolytus, sau khi Chúa về trời, ông ra đi rao giảng Tin Mừng cho người ở Edessa (bên trên Mesopotamica) và cả vùng Mesopotania. Qua đời tại Berytus (Lebanon, gần Syria và Thổ Nhĩ Kỳ), và được an táng tại đó.

Trong Tân Ước (John 14:22 NIV). Ông đã hỏi Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly, “Tại sao Chúa chỉ tỏ mình cho chúng con mà không cho thế giới”. Qua câu hỏi này ông muốn cho mọi người được biết Chúa Kitô.

Con của Giacôbê. Rao giảng Tin Mừng tới Edessa gần sông Euphrates và chung quanh khu vực Mesopotamian (Iraq, Syria, Turkey, Iran). Qua đời năm 72 AD. Ông bị bắn bằng tên tại Ararat.

11.Thomas –

Thomas cũng gọi là Didymus. Có thể là một ngư phủ, thường được nhớ như Thomas đa nghi. Trong lúc Chúa Giêsu nói với các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly, ông đã thẳng thắn hỏi Chúa: “Lạy Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu, thì làm sao biết được đường” (Gioan 14:5).  Cũng trong Tin Mừng Gioan (20:25), khi nghe các Tông Đồ nói đã nhìn thấy Chúa sống lại, ông đã thẳng thừng từ chối, và cho rằng chỉ khi nào ông nhìn những vết đinh nơi tay Chúa, và thọc tay vào cạnh sườn Ngài, ông mới tin. Nhưng Chúa đã thỏa mãn sự nghi ngờ của ông và qua đó, chúc lành cho mọi người sau này không được diễm phúc nhìn thấy Chúa như ông nhưng vẫn tin: “Tôma vì con đã thấy thầy và đã tin. Nhưng phúc cho những ai không thấy mà tin” (Gioan 20:29). Cũng do thái độ hoài nghi của ông mà sau này mới được biết về cái chết và việc Đức Mẹ về trời cả hồn lẫn xác.

Theo Hippolytus, Thomas là một nhà rao giảng nhiệt thành. Ông được biết là đã rao giảng Phúc Âm cho người Parthians (Iran), Medes (Iran), Persians (Iran), Hyrcanians (Iran), Bactrians (Afghanistan), và Margians. Ông có lẽ năng động nhất ở đông Syria. Truyền thống cho là ông đã giảng dạy mãi xa tận Ấn Độ, mà những Kitô hữu Marthoma xa xưa đón nhận ông như đấng sáng lập, Theo sử sách ghi lại, Thôma tử đạo tại Ấn Độ để lại một cộng đoàn ở đó cho đến khi người Bồ Đào Nha tới.

Rao giảng Tin Mừng cho người Parthians/Medes/Hyrcanians (Iran), Bactrians (Afghanistan). Tử đạo bằng 4 mũi đòng đâm vào người. Ông đã bị 4 người lính dùng giáo đâm chết tại Mylapore, Ấn Độ ngày 21 tháng 12 năm 72 AD.

12.Matthias –

Sau khi Chúa về trời, Phêrô đã triệu tập 11 Tông Đồ trên căn thượng lầu và đã bỏ phiếu giữa Matthias và Giuse còn gọi là Barsabus, người có tên họ là Justus. Matthias được chọn thay thế cho Giuđa Iscariot để nâng con số các Tông Đồ thành 12, nhưng ông là Tông Đồ không do chính Chúa Giêsu tuyển chọn.

Ông được coi là đã tới Syria cùng với Andrê. Theo Nicephorus (Historia eccl., 2, 40), Matthias đầu tiên giảng Tin Mừng ở Judaea, rồi sau đó ở Aethiopia (miền Colchis, thuộc Georgia ngày nay), và bị ném đá chết.

Một truyền thống khác cho rằng ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem, sau đó bị chém đầu. (cf. TillemontMémoires pour servir à l’histoire ecclesiastique des six premiers siècles, I, 406-7). Cũng theo Hippolytus, Matthias chết ở Giêrusalem năm 80 AD. Ông là Giám Mục Giêrusalem. Và một truyền thống khác cho rằng ông đã rao truyền Phúc Âm trên bờ biển Caspian và Cappadocia.

Những tin tức liên qua đến cuộc sống và cái chết của ông không rõ ràng. Theo Nicephorus (Lịch Sử Giáo Hội II.40), đầu tiên ông rao giảng Phúc Âm ở Judea, rồi tới Ethiopia, và ông bị đóng đinh. Theo Dorotheus thì Matthias rao giảng Tin Mừng cho những người man khai, mọi rợ ở trong Ethiopia, và hải cảng biển Hyssus, tại cửa sông Phasis. Ông qua đời tại Sebastopolis, và được an táng gần Đền Thờ Mặt Trời. Thánh Helena đã đem hài cốt của ông về Rôma.

Tài liệu tham khảo

———–

-Ken Curtis, Ph.D.

Church History Timeline

6000-1 BCAD 1-300301-600601-900901-12001201-15001501-16001601-17001701-18001801-19001901-20002001-Now

– Hippolytus of Rome – Birth unknown, died around 236 AD.

– Eusebius – Was the Bishop of Caesarea in Palestine, known as the “Father of Church History” because he wrote about the church history. Lived around 260-341 AD.

Theo tiếng Hy Lạp, Matthias có nghĩa “Ân huệ của Giavê”. Ông là một trong 70 môn đệ theo Chúa Giêsu từ đầu, lúc Người chịu phép rửa bởi Gioan Tiền Hô trên sông Jordan cho đến khi Người về trời (Acts 1:21-22).

  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt

Cách Ăn Chay – Kiêng Thịt

Mỗi năm, người Công Giáo chúng ta ăn chay và kiêng thịt vào mùa chay. Mùa Chay là thời gian bốn mươi (40) ngày trước Lễ Phục Sinh kéo dài từ Thứ Tư Lễ Tro đến Thứ Bảy Tuần Thánh.

Ý nghĩa của việc ăn chay là nhầm nhắc nhở chúng ta phải biết tự chế ngự, làm chủ các ham muốn, sám hối, cầu nguyện và gia tăng tinh thần bác ái giúp đỡ những người khốn khó.

Những ngày ăn chay – kiêng thịt:

Thứ Tư Lễ Tro: Ăn chay và kiêng thịt
Những ngày Thứ Sáu kế tiếp (6 lần) sau Lễ Tro: Kiêng thịt
Thứ Sáu Tuần Thánh, trước ngày Đại Lễ Phục Sinh: Ăn chay và kiêng thịt

 

Luật ăn chay và kiêng thịt:

Trẻ em từ 14 đến 17 tuổi : Kiêng thịt
Các vị từ 60 tuổi trở lên: Kiêng thịt (được miễn khỏi ăn chay)

Không ăn thịt (được ăn trứng, cá, các thứ chế biến từ sữa)
Từ 18 đến 59 tuổi: Ăn chay và kiêng thịt

Không ăn thịt (được ăn trứng, cá, các thứ chế biến từ sữa)
Chỉ ăn một bữa no
Một bữa đói (có thể chia làm hai bữa nhưng cả hai bữa ít hơn một bữa no)
Không ăn vặt
Có thể uống giải khát bất cứ lúc nào (không uống rượu bia)
Ai vì lý do sức khoẻ không thể giữ được phải làm một hy sinh, hãm mình khác bù lại.
Kiêng thịt:

Kiêng các thứ thịt loài vật máu nóng như heo, bò, gà, vịt…
Được ăn các loài vật có máu lạnh như cá, tôm…
Các thứ thịt loài vật máu nóng có nhiều chất kích thích tình dục hơn cá, tôm.

Ăn chay, kiêng thịt, không ăn vặt, thắng cái thèm, cái đói, nhờ việc ăn khắc khổ để thăng tiến trên con đường thánh thiện.

Những người được miễn giữ chay:
Phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ
Những người bịnh, sức khỏe yếu
Những người phải làm việc nặng nhọc
Những người nghèo khổ sở vì đói
Những người được giám mục chuẩn miễn

Làm cớ cho anh sa ngã

 

Mc9,_1-50

 

41 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các moan đệ rằng : “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

42 “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn. 43 Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi ; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. 44 – 45 Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi ; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. 46 – 47 Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi ; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, 48 nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt. 49 Quả thật, ai nấy sẽ được luyện bằng lửa như thể ướp bằng muối. 50 Muối là cái gì tốt. Nhưng muối mà hết mặn, thì anh em sẽ lấy gì ướp cho mặn lại ? Anh em hãy giữ muối trong lòng anh em, và sống hoà thuận với nhau.”

 

Suy Niệm

 

Khi nghe một người chịu tháo khớp vì mắc bệnh tiểu đường,

chúng ta chẳng ngạc nhiên mấy.

Mất đi bàn chân mà kéo dài được sự sống

thì còn hơn là giữ lại mà phải chết.

Có bao nhiêu người chịu giải phẫu mỗi ngày.

Họ chấp nhận cắt bỏ một phần thân thể bị hư hoại,

để mong giữ lại được cả mạng sống.

Tuy việc cắt bỏ luôn đi kèm với đau đớn và mất mát suốt đời,

nhưng người ta vẫn vui vì thấy mình còn sống.

 

Bài Tin Mừng hôm nay có thể làm ta ngạc nhiên và không vui.

Bài này có nhiều câu được lặp lại như một điệp khúc.

“Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì anh hãy chặt nó đi…

Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì anh hãy chặt nó đi…

nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã thì anh hãy móc nó đi…”

Có cần phải chặt tay, chặt chân hay móc mắt không ?

Có cần phải hiểu các câu này của Chúa theo nghĩa đen không?

Nếu hiểu theo nghĩa đen, chắc khó mà có một kitô hữu lành lặn.

 

Bởi vậy chúng ta thường dễ bỏ qua hay hiểu theo nghĩa bóng,

và có nguy cơ làm yếu đi sứ điệp mà Đức Giêsu muốn chuyển tải.

Giá Trị tối hậu mà Đức Giêsu muốn chúng ta coi trọng

đó là Sự Sống vĩnh hằng, là Nước Thiên Chúa (cc. 43-47).

Để có được Giá Trị này, ta phải chấp nhận hy sinh nhiều giá trị khác.

Hơn nữa, chúng ta lại càng phải từ bỏ hy sinh

những gì cản trở khiến ta không thể đạt tới mục đích mình theo đuổi.

Tay, chân, mắt là những bộ phận rất quan trọng trong cơ thể.

Chúng là những chi thể không thể thiếu để có một đời sống bình thường.

Tuy nhiên, chúng có thể trở thành duyên cớ khiến ta vấp phạm, sa ngã.

Sa ngã ở đây là thứ sa ngã đưa chúng ta vào cõi chết đời đời,

nơi toàn bộ cuộc đời chúng ta bị đổ vỡ nát tan không sao hàn gắn.

Vì cuộc đời của chúng ta là vô giá,

một cuộc đời đã được chuộc bằng chính Máu Con Thiên Chúa,

một cuộc đời mà chính chúng ta đã dày công xây đắp,

nên việc cắt bỏ những điều phá hoại cuộc đời ấy là chuyện tự nhiên.

 

Chặt tay, chặt chân hay móc mắt là những điều kinh khủng, gây đau đớn.

Bị què tay, què chân hay chột mắt ở đời này là điều chẳng ai mong.

Nhưng Đức Giêsu mời chúng ta nghĩ đến giá trị của đời sống vĩnh cửu,

để có can đảm cắt đứt với những thụ tạo đang làm hư hỏng đời ta.

Cắt đứt với một thói quen xấu lâu năm,

hay cắt đứt tương quan tội lỗi với một người,

những điều ấy nhiều khi còn khó hơn việc móc mắt hay chặt tay.

Chúng ta chỉ có thể sống Lời Chúa hôm nay

nếu chúng ta không bị hút bởi khoái lạc trần gian ngay trước mắt.

Xin Chúa giúp ta thực hiện những cuộc giải phẫu mỗi ngày,

để đau đớn của đoạn tuyệt hôm nay đem lại hạnh phúc trọn vẹn mãi mãi.

 

Cầu Nguyện

 

Lạy Chúa Giêsu,

giàu sang, danh vọng, khoái lạc

là những điều hấp dẫn chúng con.

Chúng trói buộc chúng con

và không cho chúng con tự do ngước lên cao

để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

 

Xin giải phóng chúng con

khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất,

nhờ cảm nghiệm được phần nào

sự phong phú của kho tàng trên trời.

 

Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi

bán tất cả những gì chúng con có,

để mua được viên ngọc quý là Nước Trời.

 

Và ước gì chúng con không bao giờ quay lưng

trước những lời mời gọi của Chúa,

không bao giờ ngoảnh mặt

để tránh cái nhìn yêu thương

Chúa dành cho từng người trong chúng con. Amen.

 

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

HĐGM Hoa Kỳ kinh hoàng trước quyết định chận đứng dự luật bảo vệ thai nhi đã chào đời của Thượng Viện

npfobril

 

Tối thứ Hai, các thượng nghị sĩ phò sinh tại Thượng Viện Hoa Kỳ đã thất bại trong việc thuyết phục các đồng viện thông qua Born-Alive Abortion Survivors Protection Act (dự luật bảo vệ thai nhi sống sót sau các phẫu thuật phá thai).

Thượng nghị sĩ Ben Sasse, đại biểu Cộng Hòa ở tiểu bang Nebraska là tác giả của dự luật này. Ông đề nghị việc cấm các bác sĩ giết chết các thai nhi sống sót sau các phẫu thuật phá thai, và phải bảo đảm rằng những hài nhi này phải được chăm sóc như các hài nhi được sinh ra bình thường khác có cùng tuổi thai. 53 thượng nghị sĩ bỏ phiếu thuận, 44 bỏ phiếu chống, và 3 người không bỏ phiếu. Tại Thượng viện, một dự luật cần phải đạt được túc số 60 phiếu để được thông qua. Hiện nay, Thượng viện Hoa Kỳ gồm 100 nghị sĩ, 53 thuộc đảng Cộng Hoà, 45 thuộc đảng Dân Chủ và 2 thượng nghị sĩ độc lập.

Đức Tổng Giám Mục Joseph F. Naumann, chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB) về các hoạt động vì sự sống, đã đưa ra tuyên bố sau đây:

“Không có dự luật nào dễ cho Thượng viện thông qua hơn cho bằng một điều rõ ràng rằng việc giết trẻ sơ sinh là sai và không nên được dung thứ. Một thượng nghị sĩ thôi, chứ đừng nói chi đến 44 thượng nghị sĩ đã bỏ phiếu chống lại dự luật bảo vệ thai nhi sống sót sau các phẫu thuật phá thai, là một sự bất công gây kinh hoàng và tức giận cho người dân Mỹ và buộc chúng ta phải có những hành động chính trị quyết liệt. Một cuộc bỏ phiếu chống lại dự luật này là một cuộc bỏ phiếu để nới rộng giấy phép giết người Roe chống Wade, từ chỗ giết chết những đứa trẻ chưa sinh giờ đây lấn sang cả giết chết những đứa trẻ sơ sinh. Người dân Mỹ, đại đa số ủng hộ dự luật này, phải đòi hỏi công lý cho những đứa trẻ vô tội.”

Tóm tắt những điều người Công Giáo cần biết về bản án chống lại Đức Hồng Y George Pell

 

1. Người ta tố cáo Đức Hồng Y chuyện gì?

Thưa: Một người, toà án giấu tên, chỉ gọi bằng bí danh là AA, cáo buộc rằng sau thánh lễ ngày Chúa Nhật 15 tháng 12, hoặc là 22 tháng 12, 1996, anh ta và một ca viên khác trong dàn hợp xướng trốn khỏi đám rước và lao vào phòng thánh của nhà thờ để uống rượu lễ, thì lúc đó Tổng Giám Mục Pell bước vào, cởi một phần áo lễ ra và buộc họ thực hiện khẩu dâm.

2. Chuyện đó có thể xảy ra được không?

Thưa: Không. Không thể nào xảy ra. Vì những lý do sau:

2.1 Đức Tổng Giám Mục Pell, cũng như hầu hết các linh mục tại Úc, luôn đứng bên ngoài thánh đường sau Thánh lễ để chào hỏi anh chị em giáo dân.

2.2 Lúc nào bên cạnh ngài cũng có vị trưởng ban nghi lễ Phụng Vụ đi kèm. Đức Ông Charles Portelli, vị phụ trách các nghi lễ Phụng Vụ của ngài, đã làm chứng rằng những cuộc tấn công không thể xảy ra bởi vì “Tôi đã ở bên ngài suốt thời gian ngài mặc áo lễ trong những ngày đó.”

2.3 Phòng thánh của nhà thờ chính tòa St. Patrick lúc nào cũng nhộn nhịp sau thánh lễ với ít nhất hàng chục người ra vào, dọn dẹp và thay áo. Ai đã từng đến nhà thờ này đều nhận ra phòng thánh này lúc nào cũng mở toang sau thánh lễ và có thể quan sát từ nhiều phía.

2.4 Tất cả các ca viên khác (bây giờ, tất nhiên, đã trưởng thành), cũng như giám đốc dàn hợp xướng và trợ lý của ông, các cựu thành viên đã trưởng thành khác của dàn hợp xướng, Đức Ông phụ trách các nghi lễ Phụng Vụ, và ông từ đều làm chứng, và từ lời chứng của họ, chúng ta biết được những điều này:

2.5 Ít nhất 40 người đã không hề thấy hai đứa trẻ trong dàn hợp xướng đột nhiên tách khỏi đám rước sau Thánh lễ.

2.6 Hai đứa trẻ trong dàn hợp xướng nói là bị lạm dụng sau đó không thể vào phòng tập hát, qua hai cánh cửa bị khóa, vì chúng không có thẻ an ninh.

2.7 Không có tin đồn cũng như không có bất kỳ bàn tán nào liên quan đến một biến cố tệ hại như vậy xảy ra từ đó và trong suốt mấy chục năm trời qua.

2.8 Trước phiên tòa, mẹ của người được cho là nạn nhân thứ hai, nay đã chết, cho biết con bà đã nói với bà trước khi qua đời rằng anh ta chưa bao giờ bị lạm dụng tính dục.

2.9 Trên hết là điều này: Là thành viên của Hồng Y đoàn của Hội Thánh Rôma và là một quan chức của Vatican, Đức Hồng Y có hộ chiếu ngoại giao của Vatican và quyền công dân của Quốc gia Thành Vatican. Nếu thực sự ngài đã phạm tội, ngài lẽ ra có thể ở lại trong vùng an toàn đặc miễn ngoại giao của Vatican, chính quyền Úc không thể chạm tới. Nhưng vì Đức Hồng Y Pell biết mình vô tội, nên ngài quyết tâm về quê nhà để bảo vệ danh dự của mình, của Giáo Hội và theo nghĩa rộng hơn, để bảo vệ hàng thập kỷ làm việc của ngài để tái xây dựng Giáo Hội Công Giáo ở Úc, nơi nhiều phần sống động vẫn còn nợ rất nhiều sự lãnh đạo và lòng can đảm của ngài.

3. Tiến trình xét xử ngài đã diễn ra như thế nào?

Thưa: 3.1 Cảnh sát Victoria đã bắt đầu một cuộc điều tra một năm trước khi có bất kỳ khiếu nại nào được đệ trình. Trong quá trình điều tra, cảnh sát đã lấy ra các quảng cáo trên báo để tìm kiếm thông tin về bất kỳ hành vi không đáng có nào với trẻ vị thành niên tại nhà thờ chính tòa St. Patrick ở Melbourne, dù chính quyền không có bất kỳ gợi ý nào về các hành vi sai trái tại đây.

3.2 Khi các cáo buộc đã được đặt ra và Đức Hồng Y Pell đã tạm thời rời bỏ chức vụ của mình ở Vatican để trở về Úc, một phiên điều trần để xác định liệu các cáo buộc có đáng được đưa ra xét xử hay không đã được tổ chức. Chánh án trong phiên điều trần đã loại bỏ nhiều cáo buộc vô lý nhưng cho phép điều tra tiếp một số khác – mặc dù bà nhận thấy rằng mình sẽ không bỏ phiếu kết án đối với các các cáo buộc đó, nhưng dù sao bà nghĩ những cáo buộc ấy cũng nên được xét xử cho sáng tỏ giữa bầu không khí công cộng sôi sục có thể so sánh với Salem, và Massachusetts, trong cơn cuồng loạn săn lùng phù thủy vào thế kỷ XVII

3.3 Một phiên tòa hình sự đã được tổ chức. Trong phiên tòa đó, và sau khi các luật sư bào chữa cho Đức Hồng Y Pell chứng minh rằng những tội ác mà ngài bị cáo buộc không thể nào xảy ra nổi, một bồi thẩm đoàn đã bỏ phiếu 10-2 để tha bổng ngài; nhưng điều đó có nghĩa là một bồi thẩm đoàn bế tắc đã xảy ra (một số thành viên đã khóc khi phán quyết của họ được đọc [vì họ không thuyết phục được 2 người kia đồng thuận với họ]) và như thế tòa đã quyết định xét xử lại. Cần nhớ rằng bồi thẩm đoàn được chọn từ các công dân bình thường của Úc.

3.4 Tại phiên tòa xét xử lại, các luật sư bào chữa cho Đức Hồng Y Pell đã chứng minh rằng có mười điều không thể tin được và không thể xảy ra đồng thời trùng hợp như thế trong cáo buộc chống lại ngài.

Tuy không có thêm bất kỳ tố cáo nào mới từ nguyên cáo hay từ bất cứ người nào khác về bất cứ hành vi sai trái nào của ngài từ lần xử trước đến lần xử này; và đồng thời cảnh sát cũng bị chỉ ra là đã sơ suất trong việc điều tra hiện trường vụ án được cho là nơi xảy ra lạm dụng; thế mà bồi thẩm đoàn thứ hai đã bỏ phiếu 12-0 để kết tội ngài!

Thẩm phán phiên tòa cũng có vẻ ngạc nhiên khi nghe phán quyết. Có thể vì thế mà phán quyết đã được đưa ra từ tháng 12, nhưng đến bây giờ mới công bố.

Sự khác biệt một trời một vực giữa phán quyết của bồi thẩm đoàn đầu tiên, và của bồi thẩm đoàn thứ hai, cho thấy giữa cơn xiếc truyền thông xung quanh Đức Hồng Y Pell, một phiên tòa xét xử công bằng không có các yếu tố ý thức hệ, không có lòng căm thù Công Giáo, là hầu như không thể.

3.5 Các luật sư của Hồng Y Pell, tất nhiên, sẽ kháng cáo. Kháng cáo sẽ được xét xử bởi một hội đồng xét xử gồm các thẩm phán cao cấp, là những người có thể quyết định rằng bản án vừa qua “unsafe verdict”, tức là một “phán quyết không an toàn” mà bồi thẩm đoàn không thể đạt được một cách hợp lý trên cơ sở các bằng chứng đáng tin cậy – và nếu như thế phản quyết vừa qua chống lại Đức Hồng Y Pell là vô hiệu và bị hủy bỏ.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho ngài và cho công lý. Ngày nay người ta nói nhiều về công lý dành cho các nạn nhân bị hàng giáo sĩ lạm dụng tính dục. Nói đúng lắm. Nhưng, còn công lý dành cho các linh mục thì sao? Bao nhiêu các linh mục bị bề trên ép phải “cúi đầu nhận tội” để bề trên lo liệu giải quyết “êm đẹp” các tố cáo sai trái nhằm mục đích duy nhất là moi tiền thì sao? Còn những linh mục không làm gì cả đi khơi khơi ngoài đường bị nhổ vào mặt, bị chửi thề, bị buông lời xúc xiểm thì sao?

Hôn nhân Công Giáo: Nét văn hóa tốt đẹp của nhân loại

Chiều hôm nào tiếng hát bay cao, quỳ bên nhau trước Đấng Tối Cao, hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời… (Diễm tình ca)

Đi giữa muôn hoa, dưới ngàn ánh điện lung linh, trong vòng tay yêu thương của cộng đoàn, cùng sự hiện diện của gia đình và bạn bè. Hôm nay, hai bạn trẻ tay trong tay tiến lên bàn thờ dưới sự chủ tế của linh mục chính xứ anh chị đã đón nhận bí tích hôn phối trở thành vợ chồng theo luật Hội thánh Công giáo.

Hôn nhân Công Giáo: Nét văn hóa tốt đẹp của nhân loại

Hình ảnh đôi uyên ương đi bên nhau tiến lên bàn thờ trước sự chứng kiến của cộng đoàn và Thiên Chúa để thề hứa chung sống trọn đời đẹp đẽ và lung linh bút nào tả xiết, giữa một xã hội nhiễu nhương, nhiều giá trị đã mất đi vẻ đẹp truyền thống thì hôn nhân Công giáo vẫn luôn giữ được nét đẹp và ý nghĩa nhân văn sâu sắc kể cả về phương diện trần thế cũng như đức tin. Chắc hẳn, phải có nhiều người đã từng hỏi :

” Vì sao trên cuộc đời, từ hai người xa lạ, không có mối liên hệ họ hàng huyết thống lại chung sống được với nhau đến trọn đời như vậy ?

Xin thưa rằng : hôn nhân là sự tiền định của Thiên Chúa ,sẽ có rất nhiều câu hỏi thắc mắc về hôn nhân Công giáo, nhân thánh lễ thành hôn của anh chị, tôi xin giới thiệu đến những nét chính yếu hôn nhân Công giáo.

Hôn nhân Công giáo được xem là định chế lâu đời của Giáo hội và có giá trị đến hiện tại như thửa ban sơ. Hôn nhân biểu trưng của tình yêu Thiên Chúa với con người, chính vì vậy hôn nhân Công giáo là một bí tích (Dấu tích bí nhiệm) để mang lại hạnh phúc gia đình. Giáo hội có nhiều thủ tục cần thiết để cho đôi bạn chuẩn bị hành trang để sống đời sống gia đình. Ngoài những nghi lễ và các nghi thức như những người bình thường, hôn nhân Công giáo có những điểm khác biệt sau:

Hôn nhân Công Giáo: Nét văn hóa tốt đẹp của nhân loại - Ảnh minh hoạ 2

1. Hôn nhân phải xuất phát từ tình yêu:

Người Công giáo rất coi trọng tình yêu, nhất là tình yêu vợ chồng, vì thế đôi nam nữ trước khi đến trình diện với cha xứ phải qua quá trình tìm hiểu và yêu thương nhau. Cả hai đều tự nguyện yêu thương nhau mà không bị ràng buộc hay ép thúc từ bất cứ một người thứ ba nào khác, khi đã xác định đời sống hôn nhân, hai người mới quyết định lấy nhau, đến trình diện với cha xứ nơi hai người sinh sống.

2. Học giáo lý:

Giáo lý hôn nhân là hành trang mà Giáo hội chuẩn bị cho đôi bạn trẻ bước vào đời sống gia đình với một kiến thức nhất định về đạo cũng như đời. Thông thường thời gian học cho cả hai người đều là Ki-tô hữu khoảng 6 tháng, còn nếu là tân tòng (những người trở lại đạo) thời gian học sẽ lâu hơn. Có người sẽ nói học như vậy là quá lâu và ép buộc, nhưng chúng ta hãy nghĩ xem, đời sống gia đình rất phức tạp vì vậy cần thiết phải có lượng kiến thức nhất định về đời sống gia đình thì gia đình sau này mới hạnh phúc được, bỏ thời gian sáu tháng để mưu cầu hạnh phúc cả đời là điều đáng làm của một người biết suy nghĩ.

Hôn nhân Công Giáo: Nét văn hóa tốt đẹp của nhân loại - Ảnh minh hoạ 3

3. Rao hôn phối:

Sau khi học hỏi giáo lý hôn nhân xong, nếu hai bên quyết định dứt khoát kết hôn, thì trình cho cha xứ bên nhà gái biết. Ngài sẽ làm lời rao hôn phối và rao trong ba Chúa nhật ở giáo xứ của mỗi bên.

Việc rao hôn phối tại mỗi xứ nhằm để cho mọi người trong cộng đoàn biết, thêm lời cầu nguyện và xem xét có gì ngăn trở thì giải quyết trước hoặc trình báo với cha xứ, đồng thời cũng để ấn định lễ cưới. Có nhiều người sẽ cho rằng việc này ảnh hưởng đời tư của hai người, nhưng ta thấy đó là một hình thức rất hay để khích lệ đời sống cộng đồng, cũng là một điều rất tốt đẹp cho đôi bạn trẻ sau khi thành lập gia đình.

4. Cử hành thánh lễ bí tích hôn phối:

Đây là ngày trọng đại, linh thiêng nhất của đôi uyên ương, khi đã hoàn thành khóa học giáo lý hôn nhân, hai người quyết định kết hôn với nhau. Thánh lễ cử hành bằng các nghi thức phụng vụ đặc biệt, các bài đọc dành riêng, nghi thức hôn phối được bắt đầu sau bài Phúc âm và bài giảng, gồm ba phần:

Hôn nhân Công Giáo: Nét văn hóa tốt đẹp của nhân loại - Ảnh minh hoạ 4

Phần một: Thẩm vấn đôi tân hôn

Chủ tế lần lượt hỏi cô dâu và chú rể ba câu hỏi về sự tự do, về việc yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời và về việc đón nhận con cái. Những câu hỏi này nhằm giúp đôi tân hôn chính thức xác nhận trước mặt mọi người rằng họ thực sự ý thức và trưởng thành khi quyết định kết hôn, nghĩa là có sự tự do để lấy nhau, chấp nhận ý nghĩa và mục đích của hôn nhân là yêu thương và chung thủy với nhau, sẵn sàng đón nhận và giáo dục con cái.

Phần hai: Trao đổi lời thề hứa

Đây là phần chủ yếu của bí tích Hôn phối. Đôi tân hôn sẽ trao đổi lời thề hứa nhận nhau làm vợ làm chồng và cam kết trung thành với nhau suốt đời.

Phần ba: Làm phép và trao nhẫn cưới

Khi cả hai người đã đồng ý và hứa hẹn trước Chúa, người chứng giám sẽ tuyên bố hai người chính thức trở thành vợ chồng. Chú rể sẽ trao nhẫn và hôn cô dâu trước mặt mọi người như để công khai cuộc hôn nhân của họ với tất cả.

Hôn nhân Công Giáo: Nét văn hóa tốt đẹp của nhân loại - Ảnh minh hoạ 5

Chiếc nhẫn với hình vòng tròn được người Thiên Chúa coi là biểu tượng của sự trường tồn và vĩnh cửu. Chính vì vậy nhẫn là vật không thể thiếu và được chú rể trao cho cô dâu như lời hứa hẹn họ sẽ sống trọn đời bên nhau.

Tại một số đám cưới của người Thiên Chúa bạn sẽ thấy cô dâu và chú rể, mỗi người cầm một ngọn nến. Đừng ngạc nhiên vì mỗi cây nến họ cầm tượng trưng cho cuộc sống riêng của mỗi người trước khi kết hôn. Cả hai sẽ dùng cây nến của mỗi người thắp chung một cây nến khác và cùng thổi tắt cây nến riêng của họ.

Tiếp đến, đôi tân hôn, hai người chứng và linh mục cùng ký tên vào Sổ Hôn phối. Sổ này được lưu trong văn khố của giáo xứ. Việc ký tên này cũng có thể được thực hiện sau thánh lễ.

Nghi thức Hôn phối kết thúc. Thánh lễ tiếp tục. Sau kinh Lạy Cha có một lời nguyện đặc biệt cầu cho đôi tân hôn. Hội Thánh khẩn cầu Chúa ban đầy ân sủng và phúc lộc cho đôi tân hôn để bản thân họ được thánh thiện và hạnh phúc, gia đình họ được hòa thuận và bền vững. Hội Thánh cũng nguyện xin ơn Thánh Thần cho họ vì “Chúa Thánh Thần là dấu ấn hôn ước của họ, là nguồn mạch tình yêu của họ, là sức mạnh giúp họ chung thuỷ

(Trích trong Bài 5: Các thủ tục và nghi lễ hôn phối)

Hôn nhân Công Giáo: Nét văn hóa tốt đẹp của nhân loại - Ảnh minh hoạ 6

Bí tích hôn phối là bí tích linh thiêng nhất cho mỗi người Công giáo khi bước vào đời sống gia đình. Có rất nhiều người ngoài Công giáo muốn đến nhà thờ để được cử hành bí tích hôn phối nhưng không được phép của Hội thánh, chỉ trừ ở Nhật Bản được đặc cách cho các đôi ngoài Công giáo được làm lễ cưới trong nhà thờ. Suy ngẫm sâu xa ta thấy được những giá trị cao cả của bí tích hôn phối, đó là cơ sở của hạnh phúc gia đình, đó là cơ sở để thiết lập bình đẳng giới, đó là cơ sở để chống lại hiện tượng đa thê, đó là cơ sở để bảo vệ hạnh phúc cho người phụ nữ… Hôn nhân Công giáo là một nét văn hóa tốt đẹp của nhân loại cần được giữ gìn và mở rộng để thế giới tốt đẹp hơn.

” Nguyện xin Thiên Chúa gia ân,

Cho tình đôi lứa ái ân mặn nồng.

Ngày qua tháng lại vun trồng,

Tình yêu kết nụ bông hồng ngát hương.

Gia đình ơn gọi yêu thương,

Chúng con quyết sống uyên ương chân thành.

Tay đan tay, nhịp bước song hành,

Tình yêu Giao ước vinh danh Cha hiền “.

Hôn nhân Công Giáo: Nét văn hóa tốt đẹp của nhân loại - Ảnh minh hoạ 7

Nhân ngày lễ chịu bí tích hôn phối, nguyện xin Thiên Chúa đổ muôn phúc lành xuống trên gia đình hai bạn trẻ này, để từ đó hoa quả của Tin Mừng được trổ sinh.

NVK/RFA.