Archive | Uncategorized RSS for this section

Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp, Công Giáo và Armenia ký thỏa thuận trùng tu Mộ Thánh Chúa Giêsu trong giai đoạn thứ hai

Giai đoạn trùng tu đầu tiên, diễn ra cách đây 2 năm trước, đã gỡ bỏ chiếc lồng kim loại được xây dựng vào năm 1947 bị hư hại vì động đất. Bắt đầu vào tháng 5 năm 2016, công trình này có chi phí khoảng 3 triệu đô la, với sự đóng góp của nhiều nhóm Palestine, Do thái, Giordan, các Giáo Hội Kitô tại Giêrusalem và nhiều cá nhân. “Đó là sự kết thúc của một giai đoạn và khởi đầu một giai đoạn mới”, Đức Tổng Giám Mục Pierbattista Pizzaballa, Giám Quản Tông Tòa tại Giêrusalem tuyên bố ngày 22 tháng 3. Có một buổi “cử hành tôn giáo cách đơn giản và đại kết với những bài hát và lời cầu nguyện” đã được tổ chức tại nơi linh thiêng để kết thúc một giai đoạn khôi phục. Tất cả những người đóng góp đã được mời tham dự, bao gồm cả chính quyền Israel.

Ngày 27.5.2019 tại thành cổ Giêrusalem, Đức Giáo Chủ Chính thống Hy Lạp Theophilus III ở Giêrusalem, Cha Giám Hộ Thánh Địa Francesco Patton, và Đức Giáo Chủ Armenia Nourhan Manoughian đã ký một thỏa thuận bắt đầu giai đoạn thứ hai của việc trùng tu Vương cung thánh đường Mộ Chúa.

Thỏa thuận về giai đoạn thứ hai của công trình sẽ bao gồm việc nâng toàn bộ nền thánh đường để loại bỏ sự những xâm nhập và để tiến hành san phẳng mặt bằng. Như vậy, vấn đề các bộ phận hiện chưa được kết nối sẽ được giải quyết.

Thỏa thuận dự kiến một giai đoạn nghiên cứu đầu tiên về tình huống sẽ bắt đầu vào tháng 9 và sẽ kéo dài khoảng một năm. Khác với sự can thiệp trước đây được thực hiện do Đại học Kỹ thuật Quốc gia Athens, giai đoạn thứ hai của trùng tu sẽ được điều phối do hai tổ chức khoa học hàn lâm Italia, nhưng tên của hai nhóm chưa được công bố. “Chúng tôi đang hoàn tất các thỏa thuận”, Cha Patton giải thích như vậy. Tuy nhiên, trùng tu sẽ gặp ít khó khăn trong việc đảm bảo không làm gián đoạn dòng người hành hương đến Mộ Chúa.

Giai đoạn mới của các công trình cũng có ý nghĩa rất lớn xét theo quan điểm đại kết. Cha Patton xác nhận đã có “mối quan hệ thực sự của hợp tác, tin tưởng và tình huynh đệ” đang tồn tại giữa các Giáo Hội Kitô khác nhau ở Giêrusalem. Cuối cùng, Cha nhấn mạnh rằng công việc tái cấu trúc sẽ là một dịp quan trọng cho các cuộc điều tra khảo cổ, như thường xảy ra ở Thánh địa.

Việc nâng cao nền thánh đường sẽ cho phép chúng ta điều tra các phần còn lại của vương cung thánh đường Constantinô – được Hoàng Hậu Helen xây dựng vào đầu thế kỷ thứ tư – ngay tại nơI Chúa Giêsu được an táng và phục sinh. Hơn nữa, các công cụ mới có thể giúp các nhà khảo cổ học ngày nay có cơ hội để hiểu rõ hơn về toàn bộ cấu trúc của nghĩa địa, trong đó có phần mộ của Chúa Giêsu.

Lm. Nguyễn Tất Thắng OP

Công tố viên ú ớ và nổi nóng với quan tòa trong phiên kháng cáo của Đức Hồng Y Pell

poo8nedr-2

Hôm thứ Năm 6 tháng Sáu (2019), tòa đã dành để chất vấn phía công tố viện, sau khi đã nghe các ý kiến kháng cáo của nhóm luật sư bảo vệ Đức Hồng Y Pell. Công tố viên chính đã phải vất vả tranh luận nhằm yêu cầu ba vị thẩm phán phiên kháng cáo của Đức Hồng Y George Pell giữ nguyên bản án dành cho ngài đã đưa ra vào hôm thứ Tư 13 tháng Ba. Công tố viên Christopher Boyce đã rất vất vả để có thể trả lời các câu hỏi từ tòa phúc thẩm gồm ba thẩm phán Anne Ferguson, Chris Maxwell và Mark Weinberg. Trong một lúc nổi nóng, ông ta quên mất cấm kỵ đến mức vô tình nêu tên người tố cáo Đức Hồng Y trong một phiên tòa được trực tiếp truyền hình trên Web site của tòa án Victoria.

Boyce nhất mực cho rằng nguyên cáo không phải là một kẻ nói dối hay một kẻ hoang tưởng, mặc dù thừa nhận rằng anh ta đã thay đổi ngày và năm xảy ra cái gọi là vụ lạm dụng tính dục trong suốt quá trình vụ án và không còn đồng ý với các khẳng định của chính công tố viện.

Boyce liên tục thấy mình phải vật lộn để đưa ra các lập luận của mình, đôi khi ú ớ trước các câu hỏi của ba vị thẩm phán. Tại một thời điểm Boyce thừa nhận rằng “Điều tôi vừa nói trước đó chưa được hay lắm”, hay nói rằng “nhắc lại những điều nhàm chán này có thể chẳng ích lợi gì.”

Công tố viên nhấn mạnh với tòa án rằng nguyên cáo mà ông ta vô tình nêu tên (mặc dù tòa án vẫn cấm nêu danh tính của người này) đã chứng tỏ rằng anh ta quen thuộc với bố cục và nội thất của nhà thờ chính tòa Thánh Patrick của Melbourne, bao gồm cả công việc trùng tu đang diễn ra tại thời gian xảy ra các cáo buộc.

Nguyên cáo tự nhận là một ca viên trong ca đoàn của nhà thờ, và sự hiểu biết của anh ta về nội thất của nhà thờ không bị các luật sư bào chữa tranh biện. Bất cứ ai đến nhà thờ dù chỉ một lần, hay có khi chẳng đến lần nào nhưng được xem các hình ảnh do ai đó cung cấp cũng có thể có kiến thức này. Việc nhấn mạnh của công tố viên vào điểm này là một luận cứ quá yếu trước tòa. Thay vì tranh biện chi tiết không có mấy tác dụng thuyết phục này của Boyce, các luật sư bào chữa đã chỉ ra bằng chứng quan trọng từ Đức ông Charles Portelli phụ trách các nghi lễ phụng vụ tại nhà thờ chính tòa. Đức Ông đã làm chứng rằng Đức Hồng Y Pell đã chào các giáo dân ở cửa phía tây của nhà thờ sau Thánh lễ, trong phẩm phục đầy đủ và Đức Ông luôn ở bên cạnh Đức Hồng Y trong suốt thời gian đó.

Dưới sự thẩm vấn của các thẩm phán, dẫn đầu bởi chủ tịch tòa án Chris Maxwell, Boyce đã phải vất vả để giải thích cho những gì mà các thẩm phán gọi là “những trường hợp cực kỳ khó xảy ra” trong cáo buộc chống lại Đức Hồng Y.

Khi được hỏi làm thế nào mà một nhân vật to cao và dễ nhìn thấy như Đức Hồng Y Pell có thể tiếp cận, cô lập và tấn công hai cậu bé tại nhà thờ, vào lúc bận rộn nhất, Boyce nói rằng công tố viện khẳng định rằng câu chuyện của nguyên cáo không thể thêu dệt ra vì quá lạ lùng. [Keith Windschuttle trong bài The Borrowed Testimony that Convicted George Pell – Chứng tá vay mượn để kết tội Đức Hồng Y George Pell đăng trên tờ Quadrant Online hôm 8 tháng Tư, 2019 cho rằng cáo buộc chống lại Đức Hồng Y Pell là “y chang” như câu chuyện đã đăng trên tờ Rolling Stone của Mỹ vào ngày 15 tháng Chín 2011]

Boyce nổi nóng nói với các quan tòa “Chúng ta cứ nói hoài đến mức muốn mửa luôn là chuyện này có phải thêu dệt ra hay không. Thêu dệt ra để làm cái quái gì?” [Cãi như Boyce thì thật là yếu quá: Để bỏ tù người vô tội.]

Boyce thậm chí đi xa đến mức cho rằng các thẩm phán không có khả năng hiểu toàn bộ bối cảnh của các bằng chứng của phiên tòa, mà chỉ dựa vào video và các tường thuật bằng văn bản của vụ án.

Boyce nổi nóng nói: “Các ngài không có cùng một vị thế với bồi thẩm đoàn. Chính xác là không. Tôi xin lỗi nếu tôi không thể giúp các vị trong khả năng của mình. Nói chung, mỗi phiên tòa nó có một bầu không khí nhất định của nó.”

Đức Hồng Y Pell bước sang tuổi 78 vào cuối tuần này, đã có mặt tại tòa. Ngài trông già hẳn đi. Đức Hồng Y đeo cổ côn của hàng giáo sĩ nhưng không có nhẫn giám mục hoặc thánh giá. Ngài ghi chú trong suốt quá trình tố tụng.

Phiên xét xử kết thúc lúc 4 giờ chiều giờ địa phương Melbourne. Các thẩm phán chưa đưa ra phán quyết của họ, cũng không cho biết thời gian sẽ đưa ra phán quyết.

Catholic News Agency Prosecution falters during Cardinal Pell appeal hearing

Đức Cha Đinh Đức Đạo được bổ nhiệm là thành viên Bộ Giáo dục Công giáo

cq5dam.thumbnail.cropped.750.422

Sáng ngày 6/6, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm bốn thành viên mới cho Bộ Giáo dục Công giáo. Bốn thành viên mới gồm Đức Hồng y Joseph William Tobin, Tổng giám mục Newark (Hoa Kỳ); ĐHY Désiré Tsarahazana, Tổng giám mục Toamasina (Madagascar); ĐHY Luis Francisco Ladaria Ferrer, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin và Đức cha Giuse Ðinh Ðức Ðạo, giám mục giáo phận Xuân Lộc.
Trong số bốn thành viên mới, Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo là giám mục duy nhất không phải là hồng y. Ngài đã từng có kinh nghiệm phục vụ nhiều năm tại Roma với nhiều chức vụ khác nhau. Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo hiện là Chủ tịch Ủy ban Giáo dục Công giáo thuộc HĐGMVN (nhiệm kì 2013-2016 và 2016-2019), và hiện nay ngài cũng là viện trưởng Học viện Công giáo Việt Nam.
Bộ Giáo dục Công giáo có nhiệm vụ thông truyền và đảm bảo thực hiện giáo dục Công giáo theo đường hướng của Toà Thánh tại các trường, học viện, các cơ sở thuộc thẩm quyền Giáo hội.

(Rei 6/6/2019)

ĐHY Sgreccia- cựu chủ tịch Hàn lâm viện về sự sống, qua đời

cq5dam.thumbnail.cropped.750.422-2

ĐTC Phanxicô chia buồn: “Tôi nhớ đến việc phục vụ quảng đại của ngài đối với Giáo hội, đặc biệt quý giá trong việc bảo vệ giá trị nền tảng của sự sống con người.”

Lúc 12h15 ngày 5/6/2019, ĐHY Elio Sgreccia, cựu chủ tịch Hàn lâm viện Giáo hoàng về sự sống, đã qua đời tại Roma, thọ 91 tuổi.

ĐHY Sgreccia sinh ngày 6/6/1928, chịu chức linh mục năm 1952. Từ năm 1974, ngài là phụ tá về đời sống thiêng liêng cho Khoa Y và Phẩu thuật của đại học Công giáo Thánh Tâm. Ngài là giáo sư đầu tiên về đạo đức sinh học của trường này từ năm 1984. Năm 1992, ĐGH Gioan Phaolô II tấn phong ngài làm giám mục. Từ 2005 đến 2008, ĐHY Sgreccia là chủ tịch Hàn lâm viện Giáo hoàng về Sự sống. ĐTC Benedicto XVI đã thăng ngài làm hồng y năm 2010.

ĐTC Phanxicô đã gởi điện thư chia buồn về sự ra đi của ĐHY Sgreccia. Điện thư có đoạn: “Tôi nhớ đến việc phục vụ quảng đại của ngài đối với Giáo hội, đặc biệt quý giá trong việc bảo vệ giá trị nền tảng của sự sống con người.”

Với sự ra đi của ĐHY Sgreccia, Hồng y đoàn còn lại 220 hồng y, trong số đó có 120 hồng y cử tri.

Văn Yên, SJ

 

Costa Rica muốn buộc các linh mục tiết lộ bí mật tòa giải tội

Tổng thống Carlos Alvarado của Costa Rica đã kêu gọi quốc gia Trung Mỹ này thảo luận về điều luật buộc các linh mục Công giáo báo với chính quyền khi họ nghe hối nhân xưng tội lạm dụng trẻ em và ấu dâm.

Dự luật này do đại biểu Enrique Sanchez, một thành viên của đảng trung tả của tổng thống, đề xướng, nhắm sửa đổi điều khoản 206 của bộ luật hình sự của Costa Rica.

Yêu cầu linh mục trình báo người xưng tội ấu dâm

Dự luật quy định, yêu cầu các giáo sĩ cũng như những người có liên hệ với những người trẻ phải báo cáo các cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên. Theo đó, các linh mục không báo cáo những gì họ nghe được trong tòa giải tội về lạm dụng tình dục trẻ em sẽ bị phạt tiền. Dự luật này sẽ được Quốc hội xem xét. Luật hiện hành của Costa Rica chỉ quy định các giáo viên và các chuyên viên y tế buộc phải báo cáo việc lạm dụng tình dục trẻ em.

Ông Sanchez giải thích rằng dự luật này bao gồm những nơi quy tụ các trẻ em, từ các tổ chức thể thao, đến văn hóa và tôn giáo, và ông nói rằng nghĩa vụ báo cáo chính quyền không giới hạn những điều nghe trong tòa giải tội nhưng cả những điều ngoài tòa giải tội. Theo ông, dự luật này dựa trên Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, trong đó khẳng định rằng quyền của trẻ vị thành niên vượt trên đặc quyền của luật sư-khách hàng và quyền trẻ em vượt lên trên học thuyết tôn giáo, bao gồm cả ấn tín tòa giải tội được Giáo hội Công giáo công nhận.

“Ấn tòa giải tội không thể bị vi phạm”

Đáp lại dự luật này, Đức Tổng GM Jose Rafael Quiros của giáo phận San Jose, thủ đô Costa Rica, đã khẳng định theo giáo luật của Hội Thánh: “Ấn tòa giải tội không thể bị vi phạm; những điều được nói trong tòa không thể bị tiết lộ”. Người phát ngôn của HĐGM Costa Rica nhận định rằng dự luật này đe dọa quyền tự do tôn giáo nhưng không làm điều gì để bênh vực công lý. 

Hồng Thủy – Vatican

Lễ Của Mẹ, Tưởng Nhớ Mẹ Bằng Đọc Lại Ca Dao

Trong các hình ảnh về gia đình mà mỗi người chúng ta còn giữ lại, có lẽ hình ảnh về mẹ là sâu dậm và rõ rệt hơn cả. Nó rõ rệt đến nỗi không chỉ được gợi lại qua các kỷ niệm của cuộc sống thường ngày, mà còn được viết ra cả trong thơ văn. Không cần nhìn đâu xa, chỉ cần mở bất cứ một cuốn tục ngữ ca dao nào ra, thì ta cũng đọc được nhan nhản những câu ca phác họa hình ảnh mẹ.

1. Bức tranh thứ nhất mà ca dao Việt Nam vẽ về mẹ là bức tranh bà mẹ nghĩa đức dầy công lao sinh đẻ, nuôi nấng và vun trồng gầy dựng cho con cái. Công lao này có thể được tóm gồm qua chữ ‘nghĩa‘ :

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Có khi công lao ấy lại được tổng hợp trong chữ ‘đức‘ :
Công cha Đức Mẹ cao dầy,

Cưu mang trứng nước những ngày thơ ngây.

Có một điều đặc biệt là hình ảnh về mẹ thường gắn liền với hình ảnh cha. Hầu như không bao giờ ca dao nói về mẹ mà không nói về cha. Ngay cả khi dùng những hình ảnh đối chọi nhau, như núi với nước, ca dao luôn luôn nghĩ rằng cha mẹ là hai người, dẫu khác nhau, nhưng luôn bổ túc cho nhau và không thể chia lià nhau được. Gia đình ấm cúng yên vui, bởi vậy, luôn luôn là cái viễn ảnh, là cái khung trời trong đó mẹ được vẽ.

Vợ chồng là nghĩa tào khang,
Chồng hoà vợ thuận nhà trường yên vui;
Sinh con mới ra thân người,
Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.

Là vợ hiền, là mẹ tốt, tất nhiên bà là yếu tố căn bản gây nên cái đức của gia đình, làm cho cuộc sống được vuông tròn, trong đó, chồng vinh hiển, con sang giầu. Và hình ảnh ấy không người chồng nào, không người con nào quên được.

Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Mừng cây rồi lại mừng cành,
Cây đức lắm chồi, người đức lắm con.
Ba vuông sánh với bảy tròn,
Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu.

Đó là lý do khiến bất cứ một ai thành thân thành người, cũng đều nghĩ rằng công ơn đầu tiên là của cha mẹ. Nét vẽ thứ ba trong bức tranh về bà mẹ nghĩa đức dầy công lao nuôi nấng và gầy dựng cho con cái là công ơn chăm sóc vun trồng của bà.

Trứng rồng lại nở ra rồng,
Hạt thông lại nở cây thông rườm rà.
Có cha sinh mới ra ta,
Làm nên thời bởi mẹ cha vun trồng.

Nét vẽ vun trồng khó nhọc cho con cái thường được vẽ đậm và biểu tượng bằng hình ảnh sương tuyết.

Cây khô chưa dễ mọc chồi,
Bởi mẹ chưa dễ ở đời với ta,
Non xanh bao tuổi mà già,
Bởi vì sương tuyết hoá ra bạc đàu.
2. Bức tranh mẹ nghĩa đức dầy công lao sinh đẻ, nuôi nấng và vun trồng gầy dựng cho con cái là bức tranh tổng quát thường được xếp hàng đầu và thường dễ thấy nhất trong ca dao. Nhưng không chỉ có bức tranh ấy. Bên cạnh bức tranh nghĩa và đức của mẹ, người ta còn thấy bức tranh thứ hai, có lẽ chi tiết hơn, nhưng không kém vẻ kiều diễm. Đó là bức tranh người mẹ, bà giáo hiền dậy con. Trong cái khung cảnh thái bình và hạnh phúc của nền kinh tế và văn hoá nông nghiệp, lý tưởng giáo dục của các bà mẹ không vượt ngoài khuôn khổ lý tưởng giáo dục chung của xã hội, trong đó, trai thì phải xuất xử, gái thì phải cửi canh :

Trên trời có cái cầu vồng,
Kẻ chợ cầu Muống, cửa đông cầu Rền
Vua trên đền, cầu vàng cầu bạc,
Các lái buôn cầu nước cầu non
Đôi ta cầu của cầu con,
Con đẹp giống mẹ, con dòn giống cha.
Con gái dệt cửi trong nhà,
Con trai đi học đỗ ba khoa liền.
Con lớn thì đỗ trạng nguyên,
Hai con tiến sĩ đỗ liền cả ba.
Vinh qui bái tổ về nhà,
Bõ công đèn sách mẹ cha nuôi thầy.

Có một ước vọng rõ rệt như vậy về cuộc đời cho con cái, bà không ngần ngại đem ra áp dụng bằng cách khuyên dậy, răn bảo con cái :

Con ơi, muốn nên thân người,
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.
Gái thì giữ việc trong nhà,
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa.
Trai thì đọc sách ngâm thơ,
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt, sau là ấm thân.

Trong việc dậy bảo, bên cạnh việc giáo dục gia đình, việc giáo dục quốc gia, xưa là khoa bảng nho học, nay là thạc sĩ và tiến sĩ đại học giữ một vai trò rất quan trọng.

Mừng nay nho sĩ có tài,
Bút nghiên dóng dả giùi mài nghiệp Nho.
Rõ ràng nên đấng học trò,
Công danh hai chữ trời cho dần dần.
Tình cờ chiếm được bảng xuân,
Ấy là phú quí đầy xuân quế hoè.
Một mai chân bước Cống, Nghè,
Vinh qui bái tổ, ngựa xe đưa mình.
Bốn phương nức tiếng vang lừng,
Ngao du Bể Thánh, vẫy vùng Rừng Nho.
Quyền cao chức trọng Trời cho,
Bõ công học tập, bốn mùa chúc minh.
Vui đâu bằng Hội đề danh,
Nghề đâu bằng nghiệp học hành là hơn.
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy xuôi.
Phu nhân thời có công nuôi,
Toàn gia hưởng phúc lộc trời ban cho.

Vì vậy, bà cố sức :

Dậy con từ thủa tiểu sinh,
Gần thầy, gần bạn tập tành lễ nghi.
Học cho cách vật trí tri,
Văn chương chữ nghĩa, nghề gì cũng thông.

Và không quên nhắc nhở con cái về cái gia nghiệp, về đức cần kiệm, về cách làm ăn:

Trăm năm như cõi trời chung,
Trăm nghề cũng phải có công mới thành.
Cứ trong gia nghiệp nhà mình,
Ngày đêm xem sóc giữ gìn làm ăn.
Chữ rằng ‘Tiểu phú do cấn’,
Còn như ‘Đại phú‘ là phần ‘do thiên’.
Đừng trễ nải, chớ ghét ghen,
Còn như lộc nước, có phen dồi dào.

Bà cũng không quên rằng xã hội không chỉ có ‘sĩ‘, mà còn có ‘nông’, ‘công’ và ‘thương’. Và chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Khổng nho, bà vẫn tâm niệm rằng :

Trời thu vừa gặp tiết lành,
Muôn dân yên khỏe thái bình âu ca.
Muốn cho yên nước, yên nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Trong bốn nghiệp ra công gắng sức,
Đường nghĩa phương ta phải khuyên con.
3. Cạnh kề hai bức tranh trên, còn một bức tranh thứ ba rất linh hoạt về mẹ. Đó là bức tranh người mẹ đảm đang. Dĩ nhiên cũng như hai bức tranh trước, trong bức tranh này, người mẹ tốt và người vợ hiền như chồng lên nhau thành một.
Sự đảm đang của bà trước nhất là ở sự quán xuyến công việc cửa nhà.

Canh một dọn cửa dọn nhà,
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Lo cho chồng học hành
Canh tư bước sang canh năm,
Trình anh dậy học, chớ nằm làm chi.
Nữa mai Chúa mở khoa thi,
Bảng vàng choi chói kìa đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.
Lo lắng săn sóc nuôi nấng con cái
Miệng ru mắt nhỏ đôi hàng
Thương con càng lớn mẹ càng thêm lo

Nết đảm đang thứ hai của bà là ở sự thông thạo công việc đồng áng.

Khó thay công việc nhà quê,
Cùng năm khó nhọc dám hề khoan thai.
Tháng chạp thời mắc trồng khoai,
Tháng giêng trồng đău, tháng hai trồng cà.
Tháng ba cầy vỡ ruộng ra,
Tháng tư bắt mạ thuận hòa mọi nơi.
Tháng năm gặt hái vừa rồi,
Bước sanh tháng sáu nước trôi đầy đồng.
Nhà nhà, vợ vợ, chồng chồng,
Đi làm ngoài đồng, sá kể sớm trưa.
Tháng sáu, tháng bảy khi vừa,
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ tranh.
Tháng tám lúa giỗ đã đành,
Tháng mười cắt hái cho nhanh kịp người.
Khó khăn làm mấy tháng trời,
Lại còn mưa nắng bất thời khổ trông.
Cắt rồi nộp thuế nhà công,
Từ rầy mới được yên lòng ấm no.

Và nét đảm đang thứ ba của bà được thấy rõ ở việc thành thạo công thương.

Một năm chia mười hai kỳ,
Thiếp ngồi thiếp tính khó gì chẳng ra.
Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm.
Tháng ba đi bán vải thâm,
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về,
Tháng sáu em đi buôn bè,
Tháng bảy, tháng tám trở về đong ngô…
4. Trong ba bức tranh trên, hình ảnh đảm đang của bà mẹ đã được họa trong khung cảnh của một gia đình đầy đủ. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng hoàn hảo như thế. Có những lúc người cha đi vắng. Sự can đảm của người mẹ thực là cao cả. Bức tranh thành ra chứa chất những nét đớn đau, vừa hào hùng, vừa bi thảm. Bức tranh thứ tư về mẹ phải là bức tranh ‘Mẹ can đảm sầu bi ‘

Anh đi, em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi, anh liệu chen đua với đới.

Hoặc thì nét nhớ nhung, nét cô đơn phảng phất khắp bức tranh.

Bác mẹ già lơ phơ đầu bạc,
Con chàng còn trứng nước thơ ngây.
Có hay chàng ở đâu đây,
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.

Bức tranh này thành ra thống thiết, nếu sự vắng bóng của người cha là vĩnh viễn. Hình ảnh mẹ góa nuôi con côi thực là chơi vơi.

Thiệt hại thay cho thằng bé nên ba,
Nó lăn, nó khóc giữa nhà năm gian,
Khóc than giữa chốn linh sàng,
Ba vuông nhiễu tím đôi hàng chữ vôi.
Chớ thiệt hại thay, người khác thì đã yên rồi,
Để cho người sống ở đời trơ vơ.
Ba bốn năm nhang khói thiếp tôi phụng thờ,
Đầu đội chữ hiếu, tay xe chữ tình.
Chữ Hiếu Trung, tôi gánh vác một mình,
Chẳng hay chàng có thấu tình thiếp hăng ?
Đường đi Khuất nẻo khói chùng.

Dĩ nhiên về người mẹ, ca dao Việt Nam không chỉ họa có bốn bức tranh trên, mà còn họa biết bao bức tranh khác nữa, trong đó nhiều hình ảnh khác được ghi nhận, nhiều nét vẽ khác được phác họa, nhiều sắc mầu khác được tô điểm. Nhưng đó là bốn bức độc đáo hơn cả.

Trong những bức khác, nét vẽ có vẻ tượng trưng, trừu tượng hơn, mà thoạt nhìn chẳng thấy nét nào về mẹ, như những bức tranh sơn thủy, tứ thời, đồng áng. Nhưng nếu biết mẹ là biểu tượng của sự khôn ngoan, được diễn tả bằng hình ảnh nước, mẹ là nguồn gốc và là kết quả của việc đồng áng,…thì những bức tranh về mẹ đếm sao cho hết.

Có những bức khác, hình ảnh mẹ lại ẩn hiện trong những cảnh khác của cuộc sống : cảnh cưới hỏi, cảnh đình đám, cảnh chợ búa,… Đâu đâu, nếu biết nhìn, và muốn nhìn, thì người ta cũng thấy những hình ảnh mẹ.

Vì hình ảnh mẹ được vẽ nhiều và khắp nơi như vậy, thành ra nhiều lúc và nhiều người không thấy mẹ, nhất là những lúc còn mẹ, có mẹ. Nhưng khi nào mẹ mất, lúc đó người ta mới thấy mẹ ; đúng hơn là thấy thiếu mẹ./.

Paris, ngày 01.05.2019
Trần Văn Cảnh

Linh mục dòng Đa Minh: Luật mới của California về ấn tín tòa giải tội chỉ nhằm bách hại các linh mục

Nếu California áp dụng dự luật đang được đề nghị nhằm ép buộc các linh mục phải vi phạm ấn tín tòa giải tội, thì không chỉ có Giáo Hội Công Giáo mà tất cả mọi tôn giáo sẽ phải đau khổ, một linh mục dòng Đa Minh đã đưa ra nhận xét trên trong một bài viết gần đây trên tờ USA Today.

Hôm Chúa Nhật 28 tháng Tư, Cha Pius Pietrzyk, trợ lý giáo sư giáo luật tại Chủng viện St. Patrick ở Menlo Park, California, cảnh báo rằng nếu dự luật này được thông qua, không có tôn giáo nào được an toàn.

Nếu một nguyên tắc cốt lõi ăn sâu vào truyền thống và giáo lý Công Giáo có thể bị nhà nước xóa bỏ dễ dàng như thế, thì không còn quyền tín ngưỡng hay lương tâm cơ bản nào là an toàn.

Dự luật Thượng viện California 360, tìm cách buộc các linh mục phải vi phạm ấn tín tòa giải tội trong các trường hợp nghi ngờ lạm dụng hoặc bỏ bê trẻ em.

Hơn 40 ngành nghề, bao gồm cả giáo sĩ, đã bị chi phối bởi luật pháp tiểu bang yêu cầu họ phải thông báo cho chính quyền dân sự trong các trường hợp nghi ngờ lạm dụng hoặc bỏ bê trẻ em. Tuy nhiên, luật hiện hành miễn trừ đối với “các trao đổi sám hối” giữa một cá nhân và thừa tác viên của họ nếu yêu cầu bảo mật bắt nguồn từ tín lý của giáo hội liên hệ. Lời thú tội trong tòa giải tội là một trường hợp điển hình.

Thượng nghị sĩ Jerry Hill đã giới thiệu dự luật California 360 vào tháng Hai, nói rằng: “Luật pháp nên được áp dụng như nhau cho tất cả các nhà chuyên môn bị chi phối bởi luật bắt buộc phải báo cáo những tội ác này – không có ngoại lệ, chấm hết.” Ông ta cho rằng việc miễn trừ cho các giáo sĩ chỉ là nhằm bảo vệ những kẻ lạm dụng và khiến trẻ em có nguy cơ cao hơn.

Đáp lại, Cha Pius Pietrzyk khẳng định rằng dự luật này không có gì khác hơn là “một nỗ lực nhằm tống giam các linh mục vô tội”.

Mặc dù mục đích của đạo luật báo cáo bắt buộc là tốt, “không có bằng chứng nào cho thấy việc buộc các linh mục tiết lộ các trường hợp lạm dụng biết được trong tòa giải tội sẽ ngăn chặn được một trường hợp lạm dụng trẻ em nào”.

Thay vào đó, ngài nói, “Có tất cả mọi lý do để tin rằng việc loại bỏ miễn trừ này sẽ có nghĩa là thủ phạm đơn giản sẽ không đưa vụ việc đó ra tòa giải tội. ”

Dự luật sẽ buộc một linh mục nghe được tội lạm dụng tình dục trong tòa giải tội “phải chọn hoặc là đối diện với án tù hoặc là phản bội bí mật đó và vi phạm lương tâm sâu sắc nhất của ngài và luật pháp của Thiên Chúa và của Giáo Hội Công Giáo.”

Cha Pius Pietrzyk nhận xét rằng: “Tôi biết rõ là tất cả các linh mục thuộc mọi quang phổ thần học và ý thức hệ, không ai trong số họ từng xem xét việc vi phạm ấn tín tòa giải tội.”

“Giáo Hội Công Giáo cho rằng bí tích hòa giải là một bí tích quan trọng, cho phép các hối nhân nhận được ân sủng của Chúa Kitô và tha thứ tội lỗi cho họ,” vị linh mục giải thích.

“Mặc dù vị linh mục hoạt động như một công cụ, nhưng việc xưng tội về cơ bản là một cuộc gặp gỡ giữa hối nhân Kitô hữu với Thiên Chúa; người ấy thừa nhận tội lỗi của mình với Chúa và thông qua vị linh mục nhận được ơn xá giải của Chúa. Đó là một khoảnh khắc linh thánh trong đó một người tiết lộ phần sâu thẳm nhất trong lương tâm của mình trước Thiên Chúa.”

Giáo hội dạy rằng “ấn tín bí tích hòa giải” là bất khả xâm phạm và không thể thay đổi bởi các thẩm quyền con người, bởi vì nguồn gốc của bí tích này nằm trong mặc khải của Thiên Chúa,” Cha Pius Pietrzyk nói. Một linh mục cố ý vi phạm ấn tín này phạm vào một trọng tội và lập tức bị tuyệt thông.

Giáo Hội Công Giáo cho rằng thông tin mà linh mục nhận được trong tòa giải tội không thuộc về ngài. Nó chỉ thuộc về Chúa. Vì lý do đó, một linh mục dứt khoát bị cấm tiết lộ tội lỗi của một hối nhân, không có bất kỳ ngoại lệ nào.

Niềm tin này là nền tảng cho giáo lý Công Giáo, tồn tại trong nhiều thế kỷ trước khi Hoa Kỳ được thành lập, vị linh mục lưu ý. Và từ lâu điều này đã được các tòa án và chính quyền dân sự tán thành.

Cha Pius Pietrzyk nhắc nhớ rằng vào năm 1813, Tòa Đại Hình New York tuyên bố: “Buộc một thừa tác viên nói ra những gì nhận được trong tòa giải tội, là tuyên bố rằng sẽ không còn có sự thú tội nữa; và đặc tính quan trọng này đạo Công Giáo sẽ bị tiêu diệt.”

Năm 1980, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thừa nhận: “Quan hệ giữa linh mục và hối nhân thừa nhận nhu cầu của con người phải tiết lộ cho một cố vấn tâm linh, là người mình hoàn toàn tin tưởng một cách tuyệt đối, những gì được cho là khiếm khuyết trong hành động hoặc suy nghĩ ngõ hầu có thể nhận được sự an ủi và hướng dẫn.”

Với bối cảnh tôn giáo và lịch sử của ấn tín bí tích hòa giải, tất cả người dân Hoa Kỳ cần phải cảnh giác trước dự luật của California.

“Buộc các cá nhân lựa chọn giữa phần bất khả xâm phạm nhất trong niềm tin tôn giáo và tù tội chính là điều mà Dự luật Nhân quyền [10 tu chính án đầu tiên của Hoa Kỳ được thông qua năm 1791- chú thích của người dịch] muốn tránh đi.”

Source:Catholic News Agency

 

 

Cảnh sát Paris nghi ngờ công nhân xây dựng hút thuốc làm cháy nhà thờ Đức Bà

nhatho

 

Trong bản tin hôm thứ Sáu 26 tháng Tư, thông tấn xã Công Giáo Catholic News Agency tường thuật rằng một cuộc tranh luận sôi nổi đã diễn ra trên các phương tiện truyền thông tại Pháp sau khi tờ Le Canard Enchaine của Paris đưa tin rằng cảnh sát đã tìm thấy 7 mẩu thuốc lá trong ngôi nhà thờ bị cháy, và các nguồn tin thân cận với cuộc điều tra đã xác nhận báo cáo này.

Phát hiện này đã gây ra các phản ứng mạnh mẽ trong dư luận tại Pháp và đã khiến cho công ty giàn giáo đang làm việc tại nhà thờ chính tòa Đức Bà Paris khi xảy ra vụ hỏa hoạn phải lên tiếng.

Ông Marc Eskenazi, phát ngôn viên của công ty giàn giáo Le Bras nói với các phóng viên rằng các công nhân của công ty có thể đã từng hút thuốc lá trong khi làm việc trên mái nhà của nhà thờ, nhưng thuốc lá không phải là nguyên nhân của vụ cháy.

“Chắc chắn, hút thuốc gây ung thư phổi, bệnh tim, sinh suất thấp, đột quỵ và viêm khớp. Nhưng hút thuốc không thể nào gây ra vụ cháy ngày 15 tháng 4 tại Nhà thờ Đức Bà ở Paris. Chúng tôi lên án nó. Nhưng ngọn lửa bắt đầu bên trong tòa nhà. .. vì vậy đối với công ty Le Bras, đây không phải là một giả thuyết, không phải là một điếu thuốc đã làm cho nhà thờ Đức Bà Paris bốc cháy,” ông Marc Eskenazi nói với Reuters hôm 24 tháng Tư.

Ông cũng bác bỏ 7 mẩu thuốc lá cảnh sát tìm được là của công nhân công ty Le Bras.

“Tôi không biết những mẩu thuốc lá đó ở đâu ra nhưng các mẩu thuốc lá mà sống sót nổi sau trận hỏa hoạn kinh hoàng như thế thì tôi không biết chúng được làm từ chất liệu gì?” ông Marc Eskenazi vặn hỏi ngược lại, và khẳng định không thể tàn thuốc lá có thể đốt được một thanh gỗ.

Công ty Le Bras cũng nói rằng đám cháy không thể xuất phát từ các thang máy đưa lên giàn giáo của mình, và lưu ý rằng hệ thống điện của họ được bảo trì tốt, và thang máy của họ đã được cúp điện vào thời điểm đám cháy bắt đầu vì đã hết ngày làm việc.

Tuy nhiên, các công tố viên Pháp nói rằng họ không loại trừ bất kỳ khả năng nào liên quan đến việc bắt đầu vụ cháy, và họ tiếp tục điều tra tất cả các nguyên nhân có thể.

 

chay_nha_tho_duc_ba_paris_

Vụ hỏa hoạn bắt đầu vào lúc 6g50 chiều ngày thứ Hai Tuần Thánh 15 tháng 4 đã phá hủy mái nhà thờ và ngọn tháp cao đến 91.44m. Những hình ảnh bên ngoài nhà thờ cho thấy một sự tàn phá gần như hoàn toàn sau vụ hỏa hoạn, nhưng thật sự trần nhà thờ bằng đá vòm đã không hề hấn gì và nhiều di tích lịch sử, tôn giáo và nghệ thuật của nhà thờ đã được cứu khỏi ngọn lửa. Các cửa sổ hoa hồng nổi tiếng, các tháp chuông và các quả chuông lớn, cùng với cây đàn đại phong cầm đều còn nguyên vẹn sau vụ cháy. Các vật phẩm tôn giáo quan trọng nhất của nhà thờ như vương miện gai Chúa Kitô, áo choàng vua Louis và Mặt Nhật có Mình Thánh Chúa đã được cứu trong trận hỏa hoạn.

 

ttxvn_chaynhathoducba

Không có ước tính chính thức nào là việc trùng tu nhà thờ sẽ mất bao lâu. Nhưng, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron nói rằng ông muốn thấy việc phục hồi hoàn toàntrong vòng năm năm, các chuyên gia nói rằng khả năng đó có lẽ khó xảy ra.

Gần một tỷ euro đã được cam kết cho nỗ lực phục hồi.

Vietcatholic News

12 TÔNG ĐỒ CÁC NGÀI SỐNG Ở ĐÂU VÀ CHẾT NHƯ THẾ NÀO SAU NGÀY CHÚA VỀ TRỜI

42680_Jes_s_Rey_de_los_Ap_stoles-1024x704-628x431.jpg

 

Những ngày xa xưa, buổi đầu của biến cố Tin Mừng được rao giảng. Chúa Giêsu đã đích thân tuyển chọn 12 người để cộng tác với Người trong việc rao truyền Tin Mừng cứu độ. Tin Mừng ghi:

“Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, và suốt đêm, Người cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Sáng ngày, Người gọi các môn đệ và chọn mười hai vị mà Người gọi là Tông đồ: Ðó là Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, và em ông là Anrê, Giacôbê và Gioan, Philipphê và Bartôlômêô, Matthêu và Tôma, Giacôbê con ông Alphê và Simon cũng gọi là Nhiệt Thành, Giuđa con ông Giacôbê và Giuđa Iscariốt là kẻ phản bội.” (Luca 6:12-16)

Ngoại trừ một vài Tông Đồ được nhắc đến về số phận và cái chết của họ trong Tin Mừng như Phêrô, Gioan, ngay cả Giuđa, số còn lại ít ai được biết tới. Chúng ta muốn biết là sau khi Chúa Giêsu về trời thì số phận của họ như thế nào?!! Theo Thánh Kinh thì sau khi Chúa chịu chết, sống lại và về trời, đặc biệt, sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống thì đời sống của các Tông Đồ đã thay đổi hoàn toàn. Các ông không còn rụt rè, nhút nhát, sợ sệt, nhưng đã mạnh dạn, can đảm ra đi để làm chứng nhân cho Tin Mừng. Vậy họ đã làm gì? Sống và chết ra sao?

Sau khi Chúa Giêsu về trời, các tông đồ trở lại Giêrusalem và cầu nguyện 10 ngày như Chúa Giêsu đã căn dặn (Acts 1:4). Các ông nhận lãnh Thánh Thần trong lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (Acts 2). Lịch sử của Giáo Hội đã khai mở, nhưng ngoài những gì được ghi trong các Phúc Âm, trong Tông Đồ Công Vụ, trong các Thánh Thư, đặc biệt là những thư của Phaolô, chúng ta biết rất ít về số phận các tông đồ, mặc dù chúng ta vẫn tin tưởng rằng các ông đã đi rất xa tận cùng trái đất để rao giảng về Chúa Giêsu. Các ông đã đau khổ vì đức tin, và đã bị chết một cách đau đớn để trở thành những chứng nhân sống động cho Tin Mừng mà các ông rao giảng.

13 Tông Đồ gồm Matthias thay thế Giuđa, Phaolô, Tông đồ dân ngoại do Chúa Giêsu chọn trên đường đi Damas, đều được cho là đã hy sinh mạng sống mình vì danh Chúa Giêsu trong khi rao truyền danh thánh ấy cho muôn dân. Phaolô bị chặt đầu bằng gươm, vì ông có quốc tịch Rôma. Ông bị hành hình dưới thời hoàng đế Neron năm 33 AD. Cuộc đời của Phaolô, ơn gọi đặc biệt của ông, cuộc trở lại diệu kỳ của ông, hành trình truyền giáo của ông, cũng như những tư tưởng phi thường của ông đã được ghi rõ trong Tông Đồ Công Vụ và các thư do ông viết. Số còn lại:

1.Andrê –

Ông giảng đạo cho người Scythians và Thracians. Bị đóng đinh và an táng tại Patrae (Hy Lạp). Theo Hippolytus, Andrê giảng đạo tại Georgia/Bulgaria ngày nay, phần đất nối liền với Hắc Hải gần Thổ Nhĩ Kỳ. Ông bị đóng đinh tại Achaia, treo trên một cây Olive tại Patrae, thành Achaia, Hy Lạp và được an táng tại đây.  Eusebius trong lịch sử của Giáo Hội đã dùng tài liệu của Origen để xác định rằng Andrê giảng đạo tại Scythia. Trong Chronicle of Nestor thêm rằng, ông giảng đạo dọc theo Hắc Hải (Black Sea) và sông Dnieper tới mãi tận Kiev, và từ đó di chuyển đến Novgorod. Do đó, ông trở thành Bổn Mạng của nước Ukraine, Romania và Nga. Theo tương truyền, ông lập tòa ở Byzantium (Constantinople và Istanbul sau này) năm 38 AD, mà sau này biến thành tòa thượng phụ Constantinople, và đã đặt Stachys là Giám Mục. Cả Andrê và thánh Stachys đều được coi là quan thầy của Tòa Thượng Phụ.

Andrê được miêu tả là bị đóng đinh ở Patras (Patrae) thuộc Achaea. Những tài liệu trước đó trong Công Vụ của Andrê (Acts of Andrew) như Gregory of Tours đã cho rằng ông bị trói chứ không phải bị đóng bằng đinh vào một loại thập giá gọi là thập giá Latin có hình chữ X. Cái chết của ông, theo nhà sử học thuộc thế kỷ 15, là Dorman Newman, khi ở Patras thuộc đông Hy Lạp năm 69 AD, vị Tổng Đốc Rôma là Aegeates ở đây đã tranh luận với ông về tôn giáo. Aegeates đã cố gắng thuyết phục Andrê từ bỏ Kitô giáo để tránh bị tra tấn và xử hình. Cuối cùng ông bị đánh đòn và sau đó bị đóng đinh. Ông đã sống thoi thóp trên thập giá 2 ngày, và không ngừng rao giảng Tin Mừng cho những người qua lại. Tại Hy Lạp gần Ethiopia vẫn còn dấu tích mộ của ông.

Ngoài ra, Scots cũng cho rằng Andrê cũng đã đến giảng đạo tại Picts (vì vậy họ dùng cây thập giá của Thánh Andrê trên quốc kỳ của họ).

Ngư phủ từ Galilee, em của Phêrô. Nguyên thủy ông là môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Mark 1:16-18). Sau khi cùng anh là Phêrô bỏ nghề chài lưới theo Chúa, ông thuộc số những tông đồ đầu tiên của Người.

2.Bathôlômêô  –

Theo truyền tụng đại chúng của người Armenians, Tông Đồ Jude (Thaddaeus) là người đầu tiên đến truyền giảng Tin Mừng trong vùng này từ năm 43-66 AD. Năm 60 AD, Barthôlômêô đã đến cùng truyền đạo với ông. Khi đến nơi, ông đã mang theo Phúc Âm của Mátthêu, và đã dịch Phúc Âm này sang tiếng địa phương. Barthôlômêô tử đạo tại Albanopolis, Armenia năm 68 AD.

Nhiều tài liệu khác nhau về cái chết của ông, một số cho rằng ông bị chém đầu. Một số khác thì ông bị lột da sống và chịu đóng đinh ngược đầu do lệnh truyền của Astyages. Lý do vì ông đã cải đạo Polymius em của Astyages, vua xứ Armenia.

Ông là người từ Cana, Galilee với tên gọi Nathanael. Trong Lịch Sử Hội Thánh của Eusebius, sau khi Chúa về trời, Barthôlômêô sang truyền giáo tại Ấn Độ. Cũng có một truyền thuyết khác nói rằng ông đã truyền rao Tin Mừng tại Ethiopia, Mesopotania, Parthia, và Lycaonia. Nhưng phần đông vẫn cho rằng ông giảng đạo tại Ấn Độ, và sau này đến Greater Armenia.

3.Giacôbê –

Cũng vì cha ông là Alphaeus, nên ông thường bị cho là anh em với Matthêu.

Sau khi Chúa về trời, ông truyền rao Tin Mừng trong phạm vy Giêrusalem. Ông là một trong những vị Tông Đồ sống lâu nhất, có lẽ còn hơn cả Gioan. Ông qua đời năm 94 tuổi. Trước hết bị đánh đòn, và bị ném đá. Sau đó bị đánh vào đầu bằng một cây gậy. Tuy nhiên, theo Hippolytus, thì ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem. Và ông được mai táng bên cạnh đền thờ năm 62 AD.

Con của Alphaeus chứ không phải là con của Zebedee, và do đó, ông cũng không phải là anh em với Gioan. Tên của ông được xuất hiện trong Mt 10:1-3, Mark 3:14-19, Luca 6:13-16, và Acts 1:13. Mẹ của ông là Maria, một trong những phụ nữ ra viếng mộ Chúa Giêsu và thấy mộ trống trong buổi sáng Phục Sinh. Ông được gọi là Giacôbê Trẻ hay Giacôbê Hậu để phân biệt với Giacôbê Tiền hay Giacôbê Cả là anh của Gioan.

4.Giacôbê –

Là ngư phủ sinh sống quanh Bethsaida, Capernaum và Giêrusalem. Ông cùng em đã bỏ chài lưới đi theo Chúa Giêsu khi Người gọi hai ông, lúc hai ông đang vá lưới dưới thuyền với cha mình. Ông và em ông được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh là con sấm sét.

Rao giảng tại Giuđêa và bị quận vương Herod Agrippa chém đầu và được an táng ở Giuđêa (Tông Đồ Công Vụ 12:2). Hippolytus xác nhận cái chết của Ông. Eusebius đã diễn tả chi tiết hơn. Đầu tiên là Stêphanô bị ném đá, rồi tiếp đến là Giacôbê bị chém đầu.

Lý do ông bị chết vì Herod Agrippa, quận vương mới của Judea muốn chứng tỏ mình trung thành với người Rôma bằng cách bắt bớ những thủ lãnh các tôn giáo. Sau khi Giacôbê bị bắt và bị dẫn đi hành hình, người tố cáo ẩn danh ông đã xúc động do lòng can đảm của ông, nên không những đã xin theo đạo, mà còn xin được chết chung cùng với Giacôbê. Đề nghị đã được chấp thuận và cả hai đã bị chém đầu.

Con của Zebedee người làng Bethsaida, và là anh của Gioan. Ông và em ông là anh em họ với Chúa Giêsu. Để phân biệt với Giacôbê con ông Alphaeus, ông được gọi là Giacôbê Cả. Tên của Ông không rời xa tên em Ông là Gioan trong Mark 1:19-20; Mt 4:21), và Luca 5:1-11). Ông là Tông Đồ đầu tiên bị tử đạo năm 44 AD.

5.Gioan –

Theo Hippolytus, trong cuộc bách hại của Domitian và giữa năm 90, ông bị lưu đày qua đảo Patmos. Bị lưu đày tại đảo Patmos, nhưng ông qua đời ở tuổi già tại Ephesus khoảng 100 AD. Ông viết Phúc Âm và viết 3 lá thơ. Cũng trong thời gian lưu đày ở đảo Patmos, ông đã viết sách Khải Huyền là cuốn sau cùng chấm dứt bộ Tân Ước.

Ông là đầu của giáo hội tại Ephesus, và được diễm phúc phụng dưỡng Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu. Theo truyền thống Latin trước đó, ông được cho là đã thoát khỏi vạc dầu sôi sau khi bị vứt vào đó tại Rôma.

Em của Giacôbê con ông Zebedee. Ông và anh mình được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh “Boanerges”, có nghĩa là con Sấm Sét, khi hai ông xin Chúa cho lửa bởi trời xuống thiêu hủy dân làng Samaritan vì đã không đón tiếp Ngài (Luca 9:51-54) và tham vọng do người mẹ của hai ông muốn sắp xếp chỗ ngồi bên phải, bên trái Chúa (Mark 10:35-37). Nhưng ông cũng là người được Chúa Giêsu yêu cho dựa đầu vào ngực Chúa trong bữa tiệc ly, và trối Đức Mẹ lại trước khi Ngài tắt thở trên thập giá: “Này là mẹ con” (Gioan 19:24-27).

6.Matthêu –

Cũng theo một truyền thuyết, ông giảng đạo và bị tử đạo tại Persia và Ethiopia. Ông bị đâm sau lưng bằng lưỡi đòng do một tên hành quyết được vua Hertacus cử tới bởi vì ông đã phê bình đời sống luân lý của vua.

Matthêu hay cũng còn gọi là Levi, con của Alphaeus, vì thế ông bị cho là anh em với Giacôbê Trẻ. Trước khi được Chúa gọi, ông là người thu thuế ở Capernaum. Ông viết Phúc Âm cho người Do Thái. Với mục đích viết Phúc Âm cho người Do Thái, nên Phúc Âm của ông được viết bằng tiếng Do Thái. Ông chết tại Hierees, một thành của Parthia (Iran). Eusebius coi ông là giám mục Papias của Hierapolis, trước năm 110 A.D.

7.Simon/Phêrô –

Sau 3 năm theo Thầy, và sau khi Chúa về trời, ông khởi đầu sứ vụ bằng bài giảng ngay trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (Tông Đồ Công Vụ, Chương 2). Một bài giảng gây tiếng vang, và đã thu hút 3000 người xin chịu phép Rửa ngay ngày hồm đó. Ông chuyên chú vào người Do Thái, khác với Phaolô nhắm tới dân ngoại. Sau nhiều lần bị giam giữ tại Giêrusalem, ông đã tới Rôma, ở đó cùng với Maccô thư ký của ông đã biên Phúc Âm thứ nhất theo lời giảng của ông. Phần cá nhân, ông cũng viết 2 thư xuất hiện trong Tân Ước.

Ông được Chúa Giêsu đổi tên là Cephas (Phêrô) do lòng nhiệt thành của ông. Đó cũng là tên mà Chúa Giêsu nhắm tới việc xây dựng Giáo Hội của Ngài trên ông. “Con là Cephas nghĩa là đá, trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội Thầy” (Mt 16:18). Irenaeus (c.180A.D) dựa theo truyền thống, cho rằng Phêrô và Phaolô đã xây dựng Giáo Hội ở Rôma. Ông là vị Giáo Hoàng tiên khởi của Hội Thánh Công Giáo.

Phêrô, theo Phaolô ghi lại trong thư gửi giáo đoàn Galatians, thì cũng đã một lần viếng thăm Antioch (Galatians 2:11) và có thể ở Corinth (1 Corinthians1:12).  Cũng trong Tông Đồ Công Vụ, ông đã giảng đạo cho Cornelius ở Caesarea. Người đầu tiên được ông hướng dẫn mà không phải Do Thái (Acts 10).

Theo truyền thuyết, hoàng đế Rôma là Nero đã ra lệnh giết Phêrô năm 66 AD, sau 33 năm Chúa về trời. Ông bị đóng đinh ngược và được an táng dưới hầm vương cung thánh đường Thánh Phêrô hiện nay ở Rôma.

Simon sinh tại Betsaida thuộc Galilee. Xuất thân ông là một ngư phủ chuyên nghiệp. Cha của ông cũng là ngư phủ chuyên nghiệp tên là Jona. Ông có người em là Andrê cũng là Tông Đồ trong nhóm 12 được Chúa Giêsu tuyển chọn. Căn nhà ông ở tại Capernaum vào thế kỷ thứ 5 người ta xây một thánh đường bao trên đó.

8.Philip  –

Philip là người thứ sáu trong số 12 tông đồ được Chúa Giêsu tuyển chọn (Gioan 1:43). Liền sau khi trở thành môn đệ Chúa, ông đã đi giới thiệu Chúa Giêsu cho Nathanael (Bartholomew). Khi khi thấy Nathanael ngần ngại, nghi ngờ, ông đã bảo bạn mình: “Hãy tới mà xem” (Gioan 1:46).  Và Nathanael cũng được Chúa tuyển chọn làm Tông Đồ. Nhưng ông được Phúc Âm nhắc đến nhiều ở biến cố Chúa làm phép lạ bánh hóa nhiều, khi Người muốn thử xem ông phải làm gì (Gioan 6:5-6). Phúc Âm cũng nói đến việc những người Hy Lạp Do Thái trong dịp lễ Vượt Qua (Passover) tại Giêrusalem nhờ ông giới thiệu họ với Chúa Giêsu (Gioan 12:20-22). Nhưng xúc động nhất là câu hỏi của ông trong Bữa Tiệc Ly, khi đó ông xin Chúa Giêsu cho được thấy Chúa Cha (Gioan 14:8-11).

Sau khi Chúa về trời Tông Đồ Công Vụ ghi, ông đã tới Samaria ở đó rao giảng Tin Mừng và thực hiện những phép là (Acts 8:4-6). Ông đã cải đạo được cho Simon phù thủy (Acts 8:9-13). Trong khi nhận được lời truyền từ thiên thần, ông đã gặp một người Ethiopia tại Gaza, một vị hoạn quan quyền thế dưới quyền hoàng hậu Candace, và đã rửa tội cho ông này (Acts 8:26-39). Sau cùng ông sống tại Caesarea (Acts 21:8), cũng theo Tông Đồ Công Vụ thì Philip có 4 người con gái sống đời đồng trinh và đã được ơn nói tiên tri (Acts 21:9).

Philip người Bethsaida là một trong số những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Rao giảng ở Phrygia, Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Ông bị đánh đòn, bỏ vào ngục và bị ném đá năm 80 AD tại Hierapolis, Thổ Nhĩ Kỳ.

  1. Simon Nhiệt Thành –

Ông qua đời hưởng thọ 120 tuổi. Ông được an táng tại Giêrusalem. Theo tài liệu thì ông đã bị đóng đinh như vị Giám Mục của Giêrusalem sau khi giảng Phúc Âm tại Samaria. Một tài liệu khác lại cho rằng khi truyền giáo tại Persia ông đã từ chối không dâng lễ vật cho thần mặt trời và đã bị giết. Cũng có tài liệu cho rằng ông bị cưa đôi khi ở Persia.

Nhưng các tài liệu không đồng nhất về những nơi nào ông đã rao giảng Tin Mừng. Có tài liệu nói là ông đã giảng đạo tại Anh. Cũng có tài liệu bằng tiếng Hy Lạp thì ông giảng đạo tại Hắc Hải (Black Sea), Ai Cập, và Bắc Phi. Nhưng tài liệu Latin “Passio Simonis et Judae”, ông làm việc tại Persia, và tử đạo tại Suanir, nhưng nơi an táng của ông không ai biết.

Truyền thống sau này cho rằng sau khi giảng đạo tại Ai Cập, ông và Juđa cùng nhau giảng đạo tại Persia và Armenia, hoặc Beirut, Lebanon. Cả hai cùng tử đạo năm 65 AD.

Giáo Hội Tây Phương kính ông cùng với Jude (Thaddaeus). Ngược lại, ở Đông Phương hai ngài được kính riêng. Ông làm quan thầy những người thuộc da.

Giám mục Giêrusalem sau Giacôbê. Ông đến từ Cana và vì thế cũng được gọi là Simon người Canaanite, hoặc Simon Nhiệt Thành (nhưng không thuộc những người Do Thái nhiệt thành chống lại người Rôma). Ông là con của Clopas. Theo Hippolytus, ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem kế vị Giacôbê. Thánh Demetrius thành Rostov đã xác nhận ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem.

10.Thaddaeus/Judas –

Thánh Giêrônimô gọi Judas là “Trinomious” có nghĩa là người có 3 tên. Trong Mark 3:18 ông được gọi là Thaddeus. Trong Matthêu 10:3, ông được gọi là Lebbeus. Và tên Thaddeus (Trái tim được sưởi ấm). Trong Luca 6:16 và Tông Đồ Công Vụ 1:13, ông được xem như Juda anh em của Giacôbê.

Theo Hippolytus, sau khi Chúa về trời, ông ra đi rao giảng Tin Mừng cho người ở Edessa (bên trên Mesopotamica) và cả vùng Mesopotania. Qua đời tại Berytus (Lebanon, gần Syria và Thổ Nhĩ Kỳ), và được an táng tại đó.

Trong Tân Ước (John 14:22 NIV). Ông đã hỏi Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly, “Tại sao Chúa chỉ tỏ mình cho chúng con mà không cho thế giới”. Qua câu hỏi này ông muốn cho mọi người được biết Chúa Kitô.

Con của Giacôbê. Rao giảng Tin Mừng tới Edessa gần sông Euphrates và chung quanh khu vực Mesopotamian (Iraq, Syria, Turkey, Iran). Qua đời năm 72 AD. Ông bị bắn bằng tên tại Ararat.

11.Thomas –

Thomas cũng gọi là Didymus. Có thể là một ngư phủ, thường được nhớ như Thomas đa nghi. Trong lúc Chúa Giêsu nói với các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly, ông đã thẳng thắn hỏi Chúa: “Lạy Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu, thì làm sao biết được đường” (Gioan 14:5).  Cũng trong Tin Mừng Gioan (20:25), khi nghe các Tông Đồ nói đã nhìn thấy Chúa sống lại, ông đã thẳng thừng từ chối, và cho rằng chỉ khi nào ông nhìn những vết đinh nơi tay Chúa, và thọc tay vào cạnh sườn Ngài, ông mới tin. Nhưng Chúa đã thỏa mãn sự nghi ngờ của ông và qua đó, chúc lành cho mọi người sau này không được diễm phúc nhìn thấy Chúa như ông nhưng vẫn tin: “Tôma vì con đã thấy thầy và đã tin. Nhưng phúc cho những ai không thấy mà tin” (Gioan 20:29). Cũng do thái độ hoài nghi của ông mà sau này mới được biết về cái chết và việc Đức Mẹ về trời cả hồn lẫn xác.

Theo Hippolytus, Thomas là một nhà rao giảng nhiệt thành. Ông được biết là đã rao giảng Phúc Âm cho người Parthians (Iran), Medes (Iran), Persians (Iran), Hyrcanians (Iran), Bactrians (Afghanistan), và Margians. Ông có lẽ năng động nhất ở đông Syria. Truyền thống cho là ông đã giảng dạy mãi xa tận Ấn Độ, mà những Kitô hữu Marthoma xa xưa đón nhận ông như đấng sáng lập, Theo sử sách ghi lại, Thôma tử đạo tại Ấn Độ để lại một cộng đoàn ở đó cho đến khi người Bồ Đào Nha tới.

Rao giảng Tin Mừng cho người Parthians/Medes/Hyrcanians (Iran), Bactrians (Afghanistan). Tử đạo bằng 4 mũi đòng đâm vào người. Ông đã bị 4 người lính dùng giáo đâm chết tại Mylapore, Ấn Độ ngày 21 tháng 12 năm 72 AD.

12.Matthias –

Sau khi Chúa về trời, Phêrô đã triệu tập 11 Tông Đồ trên căn thượng lầu và đã bỏ phiếu giữa Matthias và Giuse còn gọi là Barsabus, người có tên họ là Justus. Matthias được chọn thay thế cho Giuđa Iscariot để nâng con số các Tông Đồ thành 12, nhưng ông là Tông Đồ không do chính Chúa Giêsu tuyển chọn.

Ông được coi là đã tới Syria cùng với Andrê. Theo Nicephorus (Historia eccl., 2, 40), Matthias đầu tiên giảng Tin Mừng ở Judaea, rồi sau đó ở Aethiopia (miền Colchis, thuộc Georgia ngày nay), và bị ném đá chết.

Một truyền thống khác cho rằng ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem, sau đó bị chém đầu. (cf. TillemontMémoires pour servir à l’histoire ecclesiastique des six premiers siècles, I, 406-7). Cũng theo Hippolytus, Matthias chết ở Giêrusalem năm 80 AD. Ông là Giám Mục Giêrusalem. Và một truyền thống khác cho rằng ông đã rao truyền Phúc Âm trên bờ biển Caspian và Cappadocia.

Những tin tức liên qua đến cuộc sống và cái chết của ông không rõ ràng. Theo Nicephorus (Lịch Sử Giáo Hội II.40), đầu tiên ông rao giảng Phúc Âm ở Judea, rồi tới Ethiopia, và ông bị đóng đinh. Theo Dorotheus thì Matthias rao giảng Tin Mừng cho những người man khai, mọi rợ ở trong Ethiopia, và hải cảng biển Hyssus, tại cửa sông Phasis. Ông qua đời tại Sebastopolis, và được an táng gần Đền Thờ Mặt Trời. Thánh Helena đã đem hài cốt của ông về Rôma.

Tài liệu tham khảo

———–

-Ken Curtis, Ph.D.

Church History Timeline

6000-1 BCAD 1-300301-600601-900901-12001201-15001501-16001601-17001701-18001801-19001901-20002001-Now

– Hippolytus of Rome – Birth unknown, died around 236 AD.

– Eusebius – Was the Bishop of Caesarea in Palestine, known as the “Father of Church History” because he wrote about the church history. Lived around 260-341 AD.

Theo tiếng Hy Lạp, Matthias có nghĩa “Ân huệ của Giavê”. Ông là một trong 70 môn đệ theo Chúa Giêsu từ đầu, lúc Người chịu phép rửa bởi Gioan Tiền Hô trên sông Jordan cho đến khi Người về trời (Acts 1:21-22).

  Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt