Archive | Uncategorized RSS for this section

Việc hãm mình còn ích lợi hơn cả việc ăn chay, theo thánh Gioan Thánh Giá

Các tác giả tu đức luôn nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc ăn chay, nhưng với thánh Gioan Thánh Giá thì việc hãm mình sau đây sẽ mang lại nhiều ích lợi hơn.

Đây là việc hãm mình còn ích lợi hơn cả việc ăn chay, theo thánh Gioan Thánh Giá

Ngài đã viết trong cuốn “Ngọn lửa tình nồng” rằng: “Chiến thắng được cái lưỡi thì tốt hơn việc kiêng ăn nhịn uống.”

Điều thánh nhân đề cập đến ở đây, chính là khả năng sử dụng lời nói để nối kết tình thân với tha nhân, thay vì làm tổn thương họ.

Nếu hôm nay Thánh Gioan Thánh Giá còn tại thế, có lẽ ngài sẽ nói: “Chiến thắng được chính mình, quyết không đưa ra những bình luận xấu trong thời đại kỹ thuật số thì lợi ích hơn cả việc ăn chay”. Làm được điều đó đòi hỏi một sự hãm mình thật nghiêm khắc, vì khi sử dụng Internet, người ta rất dễ đưa ra những bình luận xấu để chế giễu, hoặc lén lút nói xấu một ai đó.

Chúng ta thường quên rằng phía sau hàng triệu tài khoản mạng xã hội là những con người thật, và có lẽ không ít lần chúng ta làm tổn thương họ vì những bình luận của chúng ta.

Hãy tập nên thánh trong cách dùng ngôn ngữ và phương thế tương tác trên mạng, điều này khó hơn nhiều so với việc ăn chay. Khi thấy xu hướng xấu và tính khí bốc đồng bản thân mình nổi lên, hãy tắt điện thoại, nếu bạn không muốn hối tiếc.

Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta rằng: “Tôi nói cho các người hay: đến Ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói. Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án; và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án.” (Mt 12, 36-37)

Hạt Nắng

Những lời chúc mừng Đức Thánh Cha nhân dịp 50 năm linh mục

cq5dam.thumbnail.cropped.750.422 (1)

Nhân kỷ niệm 50 năm thụ phong linh mục của Đức Thánh Cha Phanxicô, nhiều lời chúc mừng đã được gửi đến Đức Thánh Cha cùng với lời cầu nguyện đặc biệt cho ngài.

Đức Hồng y Angelo Sodano

Trong Thánh lễ được cử hành tại nhà nguyện thánh Marta sáng 13/12, Đức Hồng y Sodano đã đại diện cho các Hồng y ở Roma chúc mừng Đức Thánh Cha. Đức Hồng y nói: “Đức Giáo Hoàng Phanxicô đáng kính và quý mến, hôm nay, bài thánh thi cổ xưa “Te Deum” – Chúc tụng Chúa, bài ca vang lên trong Giáo hội từ nhiều thế kỷ để tạ ơn Chúa vì những ơn lành Người đã ban, bộc phát từ trái tim chúng con… Hôm nay, chúng con quy tụ quanh Cha, liên kết với Cha trong lời nguyện tạ ơn Chúa vì ngày ân sủng đó, ngày 13/12/1969…” Đức Hồng y bảo đảm tiếp tục cầu nguyện cho Đức Thánh Cha và hỗ trợ cho sứ vụ của Đức Thánh Cha bằng sự dấn thân hằng ngày.

Chủ tịch hội đồng Giám mục Ý

Đức Hồng y Gualtiero Bassetti, Chủ tịch hội đồng Giám mục Ý cũng gửi đến Đức Thánh Cha lời chúc mừng của Giáo hội Ý. Ngài nói: “Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thụ phong linh mục của Đức Thánh Cha, Giáo hội tại Ý hiệp thông với Cha bằng lời cầu nguyện ngợi khen và tạ ơn Chúa.” Đức Hồng y chủ tịch cám ơn Đức Thánh Cha về chứng tá, giáo huấn, lời nói và hành động của ngài; cám ơn Đức Thánh Cha về sự quan tâm và tình yêu của ngài mang lại cho Giáo hội niềm vui của Tin Mừng; cám ơn Đức Thánh Cha đã tái khẳng định vẻ đẹp và khó nhọc của lời thưa “vâng”; cám ơn Đức Thánh Cha cảnh giác về mối nguy của việc không có khả năng suy tư và tạ ơn; cám ơn Đức Thánh Cha về tình phụ tử thiêng liêng,… và cám ơn Đức Thánh Cha đã không đánh mất niềm vui được mời gọi mỗi ngày và sẵn sàng bước tới với sự khiêm nhường và can đảm.

Chủ tịch Hội đồng Giám mục châu Mỹ Latinh

Trong thư chúc mừng Đức Thánh Cha, Đức cha chủ tịch Hội đồng Giám mục châu Mỹ Latinh viết: “trong dịp kỷ niệm thụ phong linh mục này, chúng con muốn tái bày tỏ tình cảm hiếu thảo của mình với Cha, sự trung thành với giáo huấn của vị kế vị thánh Phêrô và chúng con muốn đảm bảo cầu nguyện cho Cha, xin Chúa Hài Nhi, ánh sáng chiếu tỏa trong bóng tối, sẽ luôn đồng hành với Cha với ánh sáng và Thần Khí của Người.

Giáo phận Roma

Và chắc chắn là không thể thiếu lời chúc mừng từ giáo phận Roma gửi đến vị Giám mục của mình. Chiều ngày 12/12, Đức Hồng y Angelo De Donatis, Giám quản Roma, đã nhân danh toàn thể giáo phận gửi thông điệp chúc mừng đến Đức Thánh Cha.

Đức Hồng y viết: “Thưa Đức Thánh Cha, Giáo phận Roma không quên cầu nguyện cho ngài.. Tất cả lời cầu nguyện của chúng con, cho ngài, cho Giáo hội và cho thế giới, cũng như lời cám ơn vì ngài đang nắm tay dẫn chúng con trên các nẻo đường của con người, “với lòng thương xót”, với cái nhìn yêu thương dịu dàng. Từ thành phố này, một lời cầu nguyện hàng ngày cho ngài, đấng kế vị thánh Phêrô. Đặc biệt hôm nay, chúng con tạ ơn Chúa về hồng ân đôi tay ngài đã được thánh hiến cách đây 50 năm, đôi tay giơ lên cao để khẩn cầu cho chúng con và hướng về tất cả để trao ban tình yêu. Xin hãy biết rằng đôi tay nâng cao của ngài được chúng con nâng đỡ mỗi ngày, mỗi phút giây.” Trước đó, hôm Chúa nhật 08/12, lễ Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội, toàn thể giáo phận Roma đã cử hành Thánh lễ với ý cầu nguyện đặc biệt cho Đức Thánh Cha. (REI 12/12/2019)

 

 

Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội

hinh-loi-chua-co-khung-12-08

Đức Maria được tiền định: Khi “Thiên Chúa sai Con mình tới” (Gl 4,4) nhưng để tạo một thân xác cho người, Thiên Chúa đã muốn có sự tự do cộng tác của một thụ tạo. Với mục đích ấy, từ muôn đời Thiên Chúa đã chọn Đức Maria làm Mẹ của Con mình, một người con gái Israel, một thiếu nữ Do Thái ở Nazareth miền Galilêa, “một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavid, trinh nữ ấy tên là Maria” (Lc 1,26-27). Để làm Mẹ Đấng Cứu độ, Đức Maria “đã được Chúa ban cho các hồng ân xứng với nhiệm vụ cao cả ấy[1]. “Lúc Truyền tin, thiên thần Gabriel đã chào Mẹ là “người đầy ân phúc[2].

Qua các thế kỷ, Hội thánh đã ý thức rằng Đức Maria, vì được Thiên Chúa ban cho “đầy ơn phúc”, nên được cứu chuộc ngay từ lúc tượng thai. Tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội do Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố năm 1854: “Rất Thánh Trinh Nữ Maria ngay từ lúc đầu tiên tượng thai, bởi ân sủng và đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, trông vào công nghiệp của Đức Kitô Giêsu Đấng Cứu độ loài người, đã gìn giữ tinh tuyền khỏi mọi vết nhơ của nguyên tội[3].

Năm 1858, khi hiện ra với cô Bernadette Soubirous ở Lộ Đức, Đức Maria giới thiệu mình là “Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Câu này đã có hậu quả quan trọng trong lịch sử. – Reinold Schneider (1903–1958), văn sĩ Đức.

“Vô Nhiễm Nguyên Tội” nghĩa là gì ? “Từ muôn thuở và một cách hoàn toàn nhưng không, Thiên Chúa đã chọn Đức Maria làm Mẹ của Con mình. Để chu toàn sứ mạng này, Mẹ đã được ơn Vô Nhiễm ngay từ lúc được thụ thai. Điều này có nghĩa là, nhờ ân sủng của Thiên Chúa và đón nhận trước công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đức Maria đã được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ ngay từ lúc được thụ thai”[4].

“Gọi Đức Maria Vô nhiễm Nguyên tội nghĩa là gì? Hội thánh công giáo tin rằng “Thánh Nữ Đồng trinh Maria, từ lúc bắt đầu đậu thai, bởi ơn huệ và lòng quý mến đặc biệt của Thiên Chúa toàn năng, và bởi công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc, được gìn giữ khỏi lây nhiễm mọi vết nhơ của tội Tổ Tông, vì thế ta xưng tụng Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên Tội (Tín điều 1854). Trong lịch sử Hội Thánh, Kitô hữu đã sớm tuyên xưng Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Kiểu nói này ngày nay bị hiểu lầm. Nó có nghĩa là ngay từ lúc đầu, Thiên Chúa đã gìn giữ Đức trinh nữ Maria khỏi mắc tội tổ tông truyền. Kiểu nói đó không áp dụng cho việc thụ thai Chúa Giêsu trong lòng Đức Maria. Kiểu nói đó không phải là làm mất giá trị của tính dục Kitô giáo, coi như một người nam và một người nữ phạm tội với nhau để sinh con”[5].

“Đức Maria vô nhiễm nguyên tội là một tín điều dạy rằng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa không hề bị nhiễm tội nguyên tổ (thuộc Tín điều). Người ta cũng tin rằng Mẹ không nhiễm tội cá nhân, và không vướng một ước muốn bất chính hay dục vọng nào (thuộc truyền thống và tính hợp lý). Tự bản tính, bà đã được giữ sạch khỏi tội nguyên tổ nhưng không có nghĩa là không phải chịu những khiếm khuyết do tội ấy gây ra. Cũng như Đức Giêsu, Đức Maria vẫn có những giới hạn của mình, nhưng những giới hạn này không hẳn là sự bất toàn về mặt luân lý”[6].

Các giáo phụ thuộc truyền thống Đông Phương gọi Mẹ Thiên Chúa là Đấng Toàn Thánh (Panaghia) và tôn vinh Mẹ là “Đấng không hề vương nhiễm một vết nhơ tội nào, như thể một tạo vật mới được Chúa Thánh Thần nắn đúc và tạo dựng[7]. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Đức Maria suốt đời tinh tuyền không hề phạm tội riêng nào. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Mẹ phục vụ mầu nhiệm Cứu chuộc. Thánh Irênê nói: “Nhờ vâng phục, Đức Mẹ đã trở nên nguyên nhân ơn cứu độ cho chính mình và toàn thể nhân loại”.

“Đàng khác, nơi Người Nữ được tiên báo trong Tiền Tin mừng, nhiều giáo phụ và tiến sĩ Hội thánh nhận ra Đức Maria, Mẹ Đức Kitô, như là một “Evà mới”. Đức Maria là người đầu tiên và theo một cách thế độc nhất vô nhị, được thừa hưởng chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi: Bà được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội tổ tông và trong suốt cuộc đời trần thế của mình, nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Bà không hề phạm một tội nào”[8]. “Sự chết qua bà Evà, sự sống qua Đức Maria[9].

[1] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 56: AAS 57 (1965) 60.

[2] X. Lc 1,28.

[3] ĐGH Piô IX, Tông sắc Ineffabilis Deus: DS 2803.

[4] Bản toát yếu – Sách giáo lý của hội thánh công giáo, Hội đồng giám mục Việt nam – Ủy ban giáo lý đức tin, NXB Tôn giáo, Tp. HCM 2013, tr. 65.

[5] Youcate, Giáo lý hội thánh công giáo cho người trẻ, NXB Văn Hóa – Văn Nghệ Tp.HCM, Tp. HCM 2016,  tr. 85-86.

[6] Lm. Đặng Xuân Thành (Dịch Nhóm Chánh Hưng) (2008), Từ điển Công giáo phổ thông, NXB Phương Đông tr. 194-195.

[7] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 56: AAS 57 (1965) 60.

[8] Sách giáo lý của hội thánh công giáo, Hội đồng giám mục Việt nam – Ủy ban giáo lý đức tin, NXB Tôn giáo, Hà Nội 2010, tr. 131.

[9] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 56: AAS 57 (1965) 60-61.

Tác giả bài viết: Agape

Đức Tổng giám mục Fulton Sheen sẽ được phong chân phước vào tháng 12

Hôm 18/11, Giáo phận Peoria của Hoa Kỳ thông báo rằng Đấng Đáng kính – giám mục Fulton Sheen sẽ được tuyên phong chân phước vào ngày 21/12 tại nhà thờ chính tòa Đức Maria Vô nhiễm Nguyên tội.

Đức Tổng giám mục Fulton Sheen sẽ được phong chân phước vào tháng 12

Giáo phận Peoria cho biết lễ phong chân phước trùng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày thụ phong linh mục của Đức cha.

Đức Tổng giám mục Fulton Sheen sinh năm 1895 và chịu chức linh mục năm 1919. Ngài được bổ nhiệm làm giám mục New York năm 1951 và giám mục Rochester năm 1966. Năm 1969 Đức cha nghỉ hưu, và qua đời năm 1979 tại New York.

Nhà truyền giáo bằng truyền thông

Ngài là một diễn giả và nhà văn tài giỏi và nổi tiếng về khả năng truyền giáo của mình trên các phương tiện truyền thông. Ngài đã hướng dẫn chương trình phát thanh “Giờ Công giáo” trong hơn hai mươi năm. Chương trình truyền hình của ngài, “Life Worth Living” có hàng triệu khán giả.

Phép lạ

Hôm 06/07, Bộ phong thánh nhìn nhận một phép lạ nhờ lời chuyển cầu của Đức cha. Cậu bé James Fulton Engstrom chào đời dường như đã chết non, không có dấu hiệu sự sống khi các bác sĩ chuyên khoa cố gắng hồi sinh cậu bé. Cha mẹ của em bé đã cầu nguyện với Đức cha Sheen và cậu bé đã hồi sinh mà không thể giải thích được.

Giáo phận Peoria đã mở án phong chân phước cho Đức cha Sheen năm 2002. Năm 2012, Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI nhìn nhận các nhân đức anh hùng của Đức cha Sheen. (CNA 18/11/2019)

Hồng Thủy

Thư của chánh án Toà Ân giải Tối cao nhân tháng cầu nguyện cho các linh hồn

Nhân lễ trọng kính các thánh và cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời trong tháng 11, ĐHY Mauro Piacenza, chánh án Toà Ân giải Tối cao gởi một lá thư đến cộng đoàn Dân Chúa.

MauroPiacenza-2.jpg

Lá thư mở đầu với câu hỏi: Khi chúng ta nghe từ “Giáo hội”, hoặc khi chúng ta tuyên xưng đức tin mỗi ngày Chúa nhật, chúng ta thực sự nghĩ gì? Giáo hội là gì, hay đúng hơn, là ai?

Thánh Augustino dẫn chúng ta đến câu trả lời cho câu hỏi đơn giản nhưng nền tảng này. Đó là Giáo hội không chỉ là tổ chức của con người nhưng có đặc tính vừa thần linh vừa con người. Do đó, chúng ta liên lỉ hướng về thiên đàng, trong tương quan với Ba Ngôi và liên hệ với tất cả anh chị em đã được cứu, họ đã rời khỏi thế giới này.

 Trong những ngày thánh này, cả trong suy tư cá nhân khi nhớ đến anh chị đã qua đời, lẫn trong cầu nguyện và chiêm niệm, chúng ta được mời gọi kín múc từ kho tàng vô tận của sự Hiệp thông những Ơn xá đặc biệt.

 Qua việc tham dự Thánh Lễ, cầu nguyện cá nhân, đền tội và bố thí, các việc diễn tả lòng thương xót, tín hữu kết hợp với công trình cứu độ của Chúa Kitô. Trong chiều kích cánh chung, chúng ta hướng đến những người đã qua đời và cầu nguyện cho họ ngang qua việc làm mới lại đời sống đức tin của chúng ta nơi bí tích Hoà giải và Thánh Thể, và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.

 Vì vậy, chúng ta cùng chạy đến với bí tích Hoà giải trong những ngày thánh này và cùng đón nhận ơn toàn xá cho những anh chị em của chúng ta đã qua đời. Như thế, tương quan của chúng ta với họ tiếp tục được củng cố trong tình yêu.

 Nơi toà giải tội của những ngày thánh này, chúng ta được an ủi, khích lệ và lau khô nước mắt, đây cũng là cơ hội để chúng ta chạm đến đời sống vĩnh cữu, để giúp chúng ta can đảm tha thứ và dịu dàng trong các việc của lòng thương xót, và để chúng ta hiểu hơn ý nghĩa cuộc hành hương hằng ngày của đời sống dương thế. (CSR_6380_2019)

 

Văn Yên, SJ

(Vatican News 29.10.2019)

Nước trời là của họ

Lời Chúa: Mt 5,1-12a

1 Một hôm, thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.

2 Người mở miệng dạy họ rằng : 

3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,

vì Nước Trời là của họ.

4 Phúc thay ai hiền lành,

vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

5 Phúc thay ai sầu khổ,

vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính,

vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

7 Phúc thay ai xót thương người,

vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,

vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình,

vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,

vì Nước Trời là của họ.

11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại

và vu khống đủ điều xấu xa.

12a Anh em hãy vui mừng hớn hở,

vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. 

 

Suy Niệm

 

Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh,

 hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng.

 Các thánh không phải chỉ là những vị được tôn phong,

 mà là tất cả những ai đang hưởng hạnh phúc trên trời.

 Các thánh thật khác nhau về nhiều mặt:

 giới tính, tuổi tác, màu da, tiếng nói, nghề nghiệp,

 hoàn cảnh, thời đại, bậc sống, khả năng, tính tình…

Có người không biết viết như thánh nữ Catarina Siêna.

 Có người đậu tiến sĩ triết hạng tối ưu như thánh Edith Stein.

 Có người làm bao phép lạ phi thường như ngôn sứ Êlia.

 Có người sống âm thầm như chị Têrêsa nhỏ.

Nói chung chẳng gì có thể ngăn cản chúng ta nên thánh,

 vì Thiên Chúa muốn mọi người nên thánh chẳng trừ ai.

 

Các mối phúc là con đường nên thánh.

 Con đường này chính Ðức Kitô đã đi và mời ta cùng đi.

 Ngài mời ta có tâm hồn nghèo khó, hiền lành,

 nghĩa là hoàn toàn tín thác vào một mình Thiên Chúa,

 có lòng khát khao sự công chính, chỉ mong làm trọn ý Ngài.

 Trong tương quan với tha nhân, Ðức Kitô mời ta

 có lòng thương xót, biết đau nỗi đau của người khác,

 có tâm hồn trong sạch, nghĩa là sống ngay thẳng, chân thành,

 có tinh thần xây dựng hòa bình và công bằng xã hội,

 nghĩa là chăm lo phát triển toàn diện từng người và mọi người.

 Sống các mối phúc trên là chấp nhận mối phúc bị bách hại.

 Mỗi vị thánh đều sống nổi bật trong một số mối phúc.

 Họ đã nếm phần nào hạnh phúc từ đời này

 trước khi hưởng hạnh phúc trọn vẹn bền vững trên trời.

 

Chúng ta thường nghĩ nên thánh là chuyện cao siêu

 dành cho một thiểu số hết sức đặc biệt.

 Thật ra mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh.

“Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời.”

Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn mọi sự thánh thiện.

 Ngài mời chúng ta chia sẻ sự thánh thiện của Ngài.

 Nên thánh là đáp trả lời mời đó.

 Khi chiêm ngắm các thánh, ta có thể hiểu nên thánh là gì.

 Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống,

 là ra khỏi cái tôi hẹp hòi của mình

đẻ sống hết tình cho Thiên Chúa và tha nhân.

 Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa

 và trung thành đáp lại trong giây phút hiện tại.

 Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa tặng trao,

 là để cho Chúa yêu mình, nắm tay mình,

 dắt mình vào thế giới riêng tư của Chúa.

 Nên thánh là thuộc trọn về Chúa và về anh em,

 là để Chúa dần dần chiếm lấy mọi chỗ của đời mình.

 

Chúa mời tôi nên thánh với con người và hoàn cảnh riêng.

 với sa ngã của quá khứ và mỏng giòn của hiện tại,

 với cái dằm vẫn thường xuyên làm tôi nhức nhối.

 Chúa muốn tôi nên thánh với mặt mạnh, mặt yếu của tôi.

Ước gì đời tôi vén mở một nét nào đó của Chúa.

 

Cầu Nguyện

 

Lạy Cha,

 con phó mặc con cho Cha,

 xin dùng con tùy sở thích Cha.

 

Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.

 Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.

 

Miễn là ý Cha thực hiện nơi con

 và nơi mọi loài Cha tạo dựng,

 thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.

 

Con trao linh hồn con về tay Cha.

 Con dâng linh hồn con cho Cha,

 lạy Chúa Trời của con,

 với tất cả tình yêu của lòng con,

 

Vì con yêu mến Cha,

 vì lòng yêu mến

 thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,

 thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,

 không so đo,

 với một lòng tin cậy vô biên,

 vì Cha là Cha của con.

 

(Chân phước Charles de Foucauld)

 

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Bổ nhiệm Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn

duc_cha_nang-750x422

 

Lúc 12h trưa 19/10/2019, Văn phòng Báo chí Toà Thánh ra thông cáo: Đức Giáo hoàng Phanxicô đã bổ nhiệm Đức cha Giuse Nguyễn Năng, hiện là Giám mục Giáo phận Phát Diệm, làm Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiểu sử Đức tân Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng

24/11/1953 : Sinh tại Phúc Nhạc, Yên Khánh, Ninh Bình (Gp. Phát Diệm)

1962-1970 : Tu học tại Tiểu chủng viện Thánh Giuse, Sài Gòn

1970-1977 : Tu học tại Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X Đà Lạt

1977-1988 : Lao động tại giáo xứ Bạch Lâm, Gia Kiệm, Gp. Xuân Lộc

1989-1990 : Giúp xứ Thuận Hoà, Biên Hoà, Gp. Xuân Lộc

09/06/1990 : Thụ phong linh mục tại Xuân Lộc

1990-1998 : Chính xứ Thuận Hoà, Biên Hoà, Gp. Xuân Lộc

1998-2002 : Du học Roma, tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học Tín lý

2003-2005 : Đặc trách Chủng sinh Giáo phận Xuân Lộc

2006-2009 : Giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc

25/07/2009 : Được Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Giám mục Chính toà Giáo phận Phát Diệm

08/09/2009 : Lễ truyền chức Giám mục tại Phát Diệm

Chủ phong: Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh

Phụ phong: Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh và Đức cha Giuse Nguyễn Văn Yến

Châm ngôn giám mục: Hiệp Thông – Phục Vụ

19/10/2019 : Được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh kiêm Giám quản Tông toà Giáo phận Phát Diệm

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức cha Giuse Nguyễn Năng đã đảm nhận các chức vụ:

– Chủ tịch Uỷ ban Loan báo Tin Mừng (2010-2013)

– Chủ tịch Uỷ ban Giáo lý Đức Tin (2013-2016)

– Phó chủ tịch Hội đồng Giám mục (2016-2019);

– Trong Đại hội XIV vừa diễn ra tại Giáo phận Hải Phòng, Đức cha Giuse Nguyễn Năng đã được bầu lại vào chức vụ Phó chủ tịch Hội đồng Giám mục, nhiệm kỳ 2019-2022.

Văn Yên, SJ – Vatican News

Hai linh mục bị cảnh sát Mỹ tạm giữ vì hoạt động bảo vệ sự sống

Hồi tuần trước, cha Fidelis Moscinski và cha Dave Nix cùng hai thành viên nhóm bảo vệ sự sống đã bị cảnh sát khống chế và đưa về đồn tạm giữ vì tham gia chiến dịch Red Rodes Rescue tại trung tâm phá thai Garden State, ở bang New Jersey.

Theo trang tin Life Site, các vị đã bị bắt giữ vì tiến vào trung tâm phá thai Garden State và “từ chối rời đi”.

Hai vị linh mục và các thành viên nhóm bảo vệ sự sống đã tặng các thai phụ đang có ý định phá thai một hoa hồng và khuyên nhủ họ: “Các bạn được sinh ra để yêu thương và để được yêu thương… Lòng bác ái của các bạn lớn lao hơn nhiều so với hoàn cảnh khó khăn mà các bạn đang phải đối mặt. Điều kiện cuộc sống rồi sẽ thay đổi. Một sự sống mới – dù rất nhỏ bé – cũng sẽ là niềm vui không gì so sánh được cho tương lai”.

Ít nhất một thai phụ đã đổi ý và quyết định rời trung tâm phá thai, giữ lại hài nhi nhỏ bé mà chị đang cưu mang trong lòng. Trong khi đó, người mẹ của một cô gái trẻ đã mắng chửi các thành viên của nhóm bảo vệ sự sống khi họ đang cố gắng thuyết phục con gái của bà đừng phá thai. Sau đó thì trung tâm Garden State đã gọi cảnh sát đến để can thiệp.

Sau đây là một số hình ảnh cảnh sát Mỹ khống chế cha Fidelis Moscinski:

 

Đức Bênêđíctô thứ 16 vẫn rất minh mẫn

Những người vẫn hằng quý mến trí thông minh và khả năng lý luận sâu sắc của Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16 có thể vui mừng thấy rằng vị Giáo Hoàng người Đức vẫn rất minh mẫn. Ở tuổi 92, cổ lai hy, ngài vẫn có thể đáp lại những người chỉ trích mình rất hóm hỉnh và sắc sảo.

PopeEmeritusBenedict

Những người vẫn hằng quý mến trí thông minh và khả năng lý luận sâu sắc của Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16 có thể vui mừng thấy rằng vị Giáo Hoàng người Đức vẫn rất minh mẫn. Ở tuổi 92, cổ lai hy, ngài vẫn có thể đáp lại những người chỉ trích mình rất hóm hỉnh và sắc sảo.

Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16 vừa lên tiếng trả lời những người chỉ trích bài tiểu luận về cuộc khủng hoảng lạm dụng của ngài, và hóm hỉnh nói rằng nhiều phản ứng tiêu cực đã khẳng định chính xác luận điểm trung tâm của ngài theo đó sự bội giáo và xa lánh đức tin là trung tâm của cuộc khủng hoảng này.

Trong một tuyên bố ngắn gọn được công bố trên tạp chí Đức, tờ “Her Herder Korronymousenz”, nhằm phản hồi những lời chỉ trích bài tiểu luận của ngài, Đức Giáo Hoàng danh dự đã chỉ ra một “thiếu sót tổng quát” trong những lời chỉ trích bài tiểu luận của ngài, và nói rằng nhiều lời phê phán đã không nắm bắt được điểm chính mà ngài muốn đưa ra.

Tháng Tư vừa qua, bài tiểu luận của ngài đã được công bố bởi Catholic News Agency, National Catholic Register, CNA Deutsch cũng như các phương tiện truyền thông khác. Trong bài tiểu luận này, Đức Bênêđíctô đã mô tả tác động của cuộc cách mạng tình dục cùng với một hiện tượng độc lập với nó là sự sụp đổ của nền thần học luân lý vào thập niên 1960, trước khi đưa ra đề nghị rằng Giáo hội nên đáp lại bằng cách nhận ra rằng chỉ có sự vâng phục và tình yêu dành cho Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mới có thể chỉ ra được một thông lộ.

Đã có những phản ứng gay gắt đối với bài tiểu luận của ngài, đặc biệt là tại Đức, nơi những quan sát viên thông thạo nói rằng Đức Giáo Hoàng danh dự, một người Đức xứ Bavaria, từ lâu đã phải gánh chịu những chỉ trích kéo dài từ một số thành phần nhất định.

Đức Bênêđíctô tranh luận rằng cuộc khủng hoảng của Giáo Hội ở Đức không phải là khủng hoảng cơ cấu, nhưng là khủng hoảng đức tin. Đức tin của các tín hữu không còn nữa, thì họ không thấy tại sao phải tiếp tục là thành phần của Giáo Hội để phải đóng thuế hằng năm cho Giáo Hội số tiền tương đương với 9% lợi tức của họ.

Ngược lại, những người chỉ trích ngài cho rằng không có vấn đề khủng hoảng đức tin, nhưng cần phải cải tổ cấu trúc với mục đích giữ các tín hữu Công Giáo ở lại và đừng làm đơn xin ra khỏi Giáo Hội. Họ đang cổ võ cải tổ Giáo Hội, qua cái gọi là “hành trình công nghị toàn quốc có hiệu lực ràng buộc” với những chủ trương như bãi bỏ luật độc thân giáo sĩ, truyền chức linh mục cho phụ nữ, cải tiến luân lý tính dục, hôn nhân và gia đình, chấp nhận đồng tính luyến ái, hôn nhân đồng phái. Nhìn chung, tại Đức đang có xu hướng cải tổ cơ cấu Giáo Hội, nói cụ thể là Tin Lành hóa đạo Công Giáo.. Hôm 20 tháng Bẩy, Đức Hồng Y Reinhard Marx, Tổng Giám Mục Munich, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức, đã hô hào xét lại việc cấm giáo dân hay những người không có thánh chức không được giảng trong các thánh lễ. Theo ngài, có những linh mục giảng kém, trong khi có biết bao những giáo dân có trình độ cao về thần học và khả năng thuyết giảng hay hơn nhiều, thì tại sao lại không để họ giảng trong thánh lễ.

Tất cả những gì nhiều người Công Giáo ở Đức đang đòi hỏi thì phía Tin Lành đều đã thực hiện nhưng mà số tín hữu Tin Lành rời bỏ Giáo Hội của họ còn đông đảo hơn Công Giáo.

Đức Bênêđíctô đã trích dẫn một ví dụ về những phê phán bài tiểu luận của ngài từ một giáo sư lịch sử người Đức, và chỉ ra một cách hóm hỉnh rằng bài phê bình ngài của vị giáo sư này dài đến bốn trang, nhưng trong cả bốn trang ấy “từ ‘Thiên Chúa’ không hề xuất hiện, dù chỉ một lần”, mặc dù luận điểm trung tâm của vị giáo sư này là chẳng hề có cái sự bội giáo như Đức Bênêđíctô đã viết.

Một bài phê bình như thế “cho thấy tính chất nghiêm trọng của một tình huống, trong đó ngay cả từ ‘Thiên Chúa’ thậm chí cũng bị gạt ra ngoài lề trong một lý luận thần học”.

Đức Giáo Hoàng danh dự nhận xét chua chát rằng:

“Cho đến nay, tôi có thể nói rằng trong hầu hết các phản ứng đối với ý kiến của tôi, Thiên Chúa hoàn toàn không xuất hiện. Vì thế, vấn đề trung tâm mà tôi muốn nêu ra đã không được thảo luận.”

Đức Bênêđíctô nói tiếp rằng những chỉ trích kiểu này chỉ chứng minh “mức độ nghiêm trọng của tình huống, trong đó Thiên Chúa bị gạt ra ngoài lề, ngay cả trong thần học”.

Đặng Tự Do

(vietcatholic 27.08.2019/ National Catholic Register)

Các Giáo hội Chính Thống Đông Phương là ai và ở đâu?

Xưa nay, người ta chỉ quen nói đến các Giáo Hội Chính Thông Đông Phương ( Easter Orthodox Churches) tức các Giáo Hội Kitô Giáo hiện chưa hiệp thông trọn vẹn (full communion) với Giáo Hội Công Giáo La Mã sau cuộc ly giáo Đông –Tây ( East-West schism) năm 1054.

Mặc dù có nhiều cố gắng để xích lại gần nhau vì cùng chung nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nhưng Giáo Hội Công Giáo và các Chính Thống Đông Phương cho đến nay vẫn chưa thể hiệp thông được mặc dù đã tha vạ tuyệt thông ( anthemas=excommunications) cho nhau, sau khi Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras I ( Constantinople Hy lạp) gặp nhau lần đầu tiên năm 1966 đem lại kết quả cụ thể là hai Giáo Hội đã tháo gỡ vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lich sử này.

Tuy nhiên, giữa Hai Giáo Hội anh em trên đây vẫn chưa hiệp thông trọn vẹn được với nhau cho đến nay chỉ vì trở ngại lớn là vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Thánh Cha, tức Giám Mục Rôma mà anh em Chính Thống Đông Phương chưa nhìn nhận và vâng phục.

Trong phạm vi bài viết này , tôi xin được đề cập đến các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương ( Eastern Catholic Churches) hiện đang hiệp thông và tôn trọng vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Thánh Cha, là Đấng duy nhất thay mặt Chúa Kitô ( Vicar of Christ) cai quản Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

I- Đôi dòng lịch sử :

Như đã nói ở trên, ngoài các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương chưa hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã, còn có các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương (Eastern Catholic Churches) đang hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ mà có lẽ ít người biết đến họ.

Khi nói đến các Giáo Hội này, người ta phải nghĩ ngay trước hết đến bốn Tòa Thượng Phụ ( Patriarchates) ở phương Đông là Alexandria, Antioch, Jerusalem và Constantinople, ngoài Tòa Thượng Phụ Rome về phái Tây, tức Giáo Hội Công Giáo La Mã. Các Tòa Thượng Phụ này đặc tránh các giáo đoàn Kitôgiáo có nghi thức phụng vụ riêng theo văn hóa và truyền thống lâu đời sau đây:

1- Thuộc về Giáo Hội hay Tòa Thượng Phụ Antioch là các giáo đoàn West Syrians, Maronites (Công Giáo Li Băng) và Malankarese, Chaldeans (Công giáo Iraq) và Armenians.

2- Thuộc về Giáo Hội hay Tòa Thượng Phụ Alexandria là các giáo đoàn Coptic (Công giáo Ai Cập) và Công giáo Ethiopians

3- Thuộc Giáo Hội hay Tòa Thượng Phụ Constantinople là nhóm Kitô Giáo Đông Phương đông đảo nhất theo nghi thức Byzantine. Ho là những tín hữu Hy Lạp,, Bảo gia lợi (Bulgarians) Georgians, Nga .., Ukrainians, Estonians, Hungarians, Rumanian, Egyptians…

4- Giáo Hội hay Tòa Thượng Phụ Rôma là cái nôi của Giáo Hội Công Giáo phương Tây, khác biệt với Phương Đông về nhiều mặt như nghi thức phụng vụ, giáo luật và kỷ luật bí tích., lễ phục , tu phục..

Các tòa Thượng Phụ nói trên, từ đầu, được coi là các Giáo Hội Mẹ của Kitô Giáo (Mother Churches of Christianity) trước khi xẩy ra những cuộc ly giáo (schisms) mà nghiêm trọng hơn hết là ly giáo giữa Rome và Constantinople ( Hy Lạp) vào năm 1054 và kéo dài cho đến nay.

Cũng từ đó, Constantinople tự nhân trở thành Giáo Hội Chính Thống Phương Đông và lan tràn qua các quốc gia trong vùng như Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Roumania, Serbia, Cyprus, Lebanon… Bên canh các Giáo Hội này, là các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương bắt nguồn từ 3 Toà thượng Phụ Alexandria, Antioch và Jerusalem, tức các Giáo Hội Mẹ của Công Giáo Đông Phương. Các Giáo Hội này cũng có thời gian khá lâu đã không hiệp nhất với Giáo Hội Rôma vì những hoàn cảnh và lý do đặc thù, không thể nói hết ở đây trong khuôn khổ của một bài viết được. Vì thế, chỉ xin tóm tắt là khi các Giáo hội Kitô Giáo địa phương này trở lại hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã ( Rome ) thì họ có tên gọi chung là “Các tín hữu qui hiệp = Uniates” , nghĩa là hiệp thông trở lại với Rôma `sau thời gian ly khai vì những lý do riêng biêt. Và cũng từ đó, họ được gọi là các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương ( Easter Catholic Churches) để phân biệt với các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Easter Orthodox churches) chưa hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Rôma.

Các Giáo hội Công Giáo Đông Phương có đặc tính chung là mỗi Giáo Hội đều có có các nghi thức phụng vụ với ngôn ngữ riêng, giáo luật riêng và kỷ luật bí tích riêng, mặc dù cùng chia sẻ chung một niềm tin, một giáo lý, một nền tảng luân lý, và các bí tích với Giáo Hội Công Giáo La Mã cũng như vâng phục Đức Thánh Cha là Đấng thay mặt Chúa Kitô trong vai trò và trách nhiệm cai quản Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

Đứng đầu coi sóc các Giáo Hội địa phương nói trên là các Thượng Phụ (Patriarch) tương đương như một Tổng Giám mục coi sóc một Giáo tỉnh ( Ecclesial Province) trong Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

Theo Sắc Lệnh về các Giáo Hội Đông Phương (Orientalium Ecclesiarumn) ( OE) của Thánh Công Đồng Vaticanô II, thì “Thể chế Thương Phụ (Patriarchy)” đã được thịnh hành từ lâu đời trong Giáo Hội và đã được các Công Đồng chung nhìn nhận.

Thực ra danh hiệu Thượng Phụ Đông Phương (Eastern Patriarch) dùng để chỉ vị Giám mục có thẩm quyền trên tất cả các giám mục kể cả các vị Tổng Giáo Chủ (Tổng Giám mục), trên hàng giáo sĩ và giáo dân trong địa hạt hay thuộc lễ chế của mình, chiếu theo luật định, nhưng vẫn tôn trọng quyền tối cao của Giáo Hoàng La Mã.” (cf. OE. Số 7)

II- Các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương hiện ở đâu ?

1- Trươc hết là Giáo Hội Công Giáo Syro-Malabar

Lãnh thổ của Giáo Hội này nằm trong Tiểu Bang Kerala ở phía Tây Nam Ấn Độ. Giáo Đoàn này xuất phát từ Cộng Đồng Kitô Giáo có nguồn gốc Tông Đồ là Thánh Thomas, nên họ cũng được gọi là các`Kitô hữu Thánh Tô Ma (Thomas Christians) . Nhóm này đã ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã từ năm 1653 vì không muốn chịu ảnh hưởng của Dòng Tên (Jesuits) đang truyền giáo ở vùng này. Nhưng đến năm 1930 nhóm này đã quay trở lại và được đón nhận hiệp thống với Giáo Hội Công Giáo. Từ sau Công Đồng Vaticanoo II, họ đã bỏ ngôn ngữ Syriac trong phụng vụ và thay bằng ngôn ngữ Malayalam phổ thông hơn. Hiện Giáo Hôi Công Giáo Syro-Malabar có 3 Địa phận với khoảng gần 300,000 tín hữu sinh hoạt trong Tiểu Bang Kerala ở miền Tây Nam Ấn Độ

Dĩ nhiên, ngoài nhóm Công Giáo với nghi thức phụng vụ riêng này , còn có Giáo hội Công Giáo của Ấn Độ (The Catholic Church Of India ) theo nghi thức La tinh ( Latin Rite) hiệp thông trọn vẹn với Rôma ,và có số giáo sĩ và giáo hữu đông hơn nhóm kia.

2- Giáo Hội Công Giáo Chaldean (The Chaldean Catholic Church) của người Kitô hữu Iraq

Nhóm này phần lớn tập trung ở thủ đô Baghdag với nghi thức phụng vụ riêng gọi la Chaldean Rite hay còn gọi là East Syrian hay Assyro-Chaldean Rite. Nghi thức này bắt nguồn từ di sản phụng vụ cổ xưa của Giáo Hội Mesopotamia.trong đế quốc Ba Tư

Giáo Đoàn này hiện có khoảng 500,000. Tin hữu với 10 Địa phận ở Iraq và 4 Địa phận nữa ở Iran. Ở Hoa Kỳ, cũng có một Địa phận dành cho người Công Giáo Iraq theo nghi thức Chaldean. Giáo Đoàn này chính thức hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã sau khi Đức Thánh Cha Julius III tấn phong Giáo Mục cho Thượng Phụ Simon VIII ngày 9 tháng 4 năm 1553 để coi sóc Giáo Đoàn Chaldean ở Iraq.

3- Giáo Hội Công Giáo Maronites ( The Maronite Catholic Church)

Đây là Giáo Hội Công Giáo của người Li Băng (Lebanon). Giáo Hội này xuất hiện từ năm 681 và lấy tên Thánh Maron làm tên gọi chung của Giáo Đòan. Đã có thời gian dài Giáo Đoàn này không hiệp thông với Rôma. Nhưng từ năm 1182 đến nay, Giáo Đoàn này đã hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo La Mã,. Họ theo nghi thức riêng gọi là Maronite Rite với ngôn ngữ phụng vụ là Syriac và Arabic.Nghi thức phụng vụ này không những có ở Li Băng mà còn thấy thực hành ở Syria , Ai Cập và Cyprus.

Mới đây, ngày 14 tháng 4 năm 2011, Thượng phụ Antioch coi sóc người Công giáo Maronites, đã đến Rome để viếng thăm Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI cùng với một số giám mục và linh mục Maronites. Nhân dịp này Đức Thánh Cha đã long trọng nhắc lại với Đức Thượng Phụ Bechara Pierre Rai về việc Giáo Hội hoan hỉ đón mừng anh em Moronites Hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo như Đức Thánh Cha đã nói trong thư gửi Đức Thượng Phụ ngày 24 tháng 3 vừa qua.

4- Giáo Hội Công Giáo Coptic ( The Coptic Catholic Church)

Danh xưng Copt là tiếng Arabic có nghĩa là Ai Cập, được dùng để chỉ những tín hữu Công Giáo hay Chính Thông Giáo Ai Cập. Do đó, Giáo Đoàn Coptic là Giáo Hội Công Giáo Ai Cập ( Egypt) đã hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Rôma từ năm 1741, sau nhiều thăng trầm của lịch sử Ai Cập nói chung và lịch sử sống còn của Giáo hội Coptic nói riêng.Theo lịch sử truyền giáo thì Thánh Mar-cô, thánh sử., đã thành lập Giáo Hội này cho người Kitô hữu Ai Cập. Mặt khác, danh xưng Coptic cũng được dùng để chỉ Giáo Hội Chính Thống Ai Cập (The Coptic Orthodox Church) như đã nói ở trên.

Giáo hữu Coptic hiện nay chỉ có vào khoảng 180,000 người ở Ai Cập và được coi sóc bởi một Thượng Phụ (Patriarch) ở Alexandria Ngôn ngữ phụng vụ của họ là tiếng Arabic và Coptic (tiếng Ai Cập)

Để đánh giá cao những đóng góp của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, Thánh Công Đồng Vaticanô II, qua Sắc Lệnh Orientalium Ecclesiarum, ( OE) đã long trọng tuyên bố như sau về các Giáo hội này:

“ Lịch sử, các truyền thống và rất nhiều thể chế trong Giáo Hội đều chứng minh rõ ràng rằng các Giáo Hội Đông Phương có công biết bao đối với toàn thể Giáo Hội. Vì vậy, Thánh Công Đồng không những hết lòng yêu mến và ca ngợi đúng mức gia sản tinh thần của các Giáo hội này, mà còn xác quyết đó là sản nghiệp của toàn thể Giáo Hội Chúa Kitô. Do đó Thánh Công Đồng long trọng công bố rằng các Giáo Hội Đông Phương cũng như Tây Phương đều có quyền lợi và bổn phận theo những qui luật riêng của mình và những qui luật này có giá trị nhờ ở đặc tính cổ kính đáng quí trọng, phù hợp với tập tục của tín hữu hơn và xem ra có thể mưu ích cho các linh hồn cách hữu hiệu hơn.” (OE, số 5)

Cũng cần nói thêm là, theo lịch sử Giáo Hội, thì Phương Đông là nơi đã đóng góp cho Giáo Hội những vị đại Giáo Phụ (Church Fathers) nổi danh như các thánh Igntius of Antioch, thánh Ephrem, thánh Athanasius, thánh Cyril of Jerusalem, thánh Cyril of Alexandria, thánh Gregory of Nyssa, thánh .John Chrysostom, thánh Basil the Great, thánh Gregory of Nazianzus và thánh John Damascene.

Mặt khác, nền thần học Kitô Giáo (Christian theology) và lối sống đan viện hay ẩn tu (Monasticism) cũng xuất phát từ Phương Đông trước khi được chấp nhận và sửa đổi bên Tây Phương. Thêm vào đó, trong vòng 9 trăm năm lịch sử Giáo Hội, các Công Đồng Đại kết ( Ecumenical Councils) đều họp ở Phương Đông.

Sau hết, những kinh phụng vụ như the Kyrie, the Gloria, và Kinh Tin Kinh Nicene mà phụng vụ Giáo Hội ngày nay đang dùng cũng là di sản thiêng liêng của Phương Đông.

Như thế đủ cho thấy là các Giáo Hội Đông Phương, từ lâu đã là một trong những thành trì kiên cố của KitôGiáo trước khi xảy ra những cuộc ly giáo (schism) , đặc biệt là ly giáo Đông Tây giữa Constantinople và Rome năm 1054, khiến một phần quan trọng của Phương Đông (Các Giáo Hội Chính Thống) không còn hiệp thông cho đến nay với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, mặc dù cùng chung một niềm tin, một Phép Rửa , một Kinh Thánh, một nguồn gốc Tông Đồ.

Chúng ta tha thiết cấu xin cho Giáo Hội duy nhất mà Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ được mau hiệp nhất để cùng thờ lậy, tôn vinh và cảm tạ một Thiên Chúa duy nhất với Ba Ngôi Vị trong Mầu Nhiệm Chúa Ba ngôi (The Triune God =The Holy Trinity)

Sau hết, cũng cần nói thêm là các Giáo Hội Đông Phương, dù là Công Giáo hay Chính Thông Giáo thì đều có các bí tích hữu hiệu như của Giáo Hội Công Giáo La Mã .. Cho nên, tín hữu Công giáo được phép tham dự các nghi thức phụng vụ và lãnh các bí tích trong các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương. Nhưng chỉ được tham dự phụng vụ và lãnh bí tích nơi nhà thờ Chính Thống khi không tìm được nhà thờ Công Giáo nào trong vùng cư trú của mình.2011

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 

Conggiao.info