Archive by Author | Hội Cứu Mạng Thai Nhi

Nhà thờ Đức Bà Paris đang được phục hồi tốt

Nhà thờ Đức Bà Paris

Nhà thờ Đức Bà Paris  (ANSA)

Hôm thứ Tư 16/6, trong Thánh lễ kỷ niệm Cung hiến Nhà thờ Đức Bà Paris, Đức Tổng Giám mục Michel Aupetit của Tổng Giáo phận Paris bày tỏ niềm vui vì Nhà thờ đang được phục hồi tốt, hy vọng ngôi thánh đường sẽ đẹp hơn bao giờ hết. Ngài cũng mời gọi các tín hữu tin tưởng vào Giáo hội Chúa mặc dù còn những yếu đuối.

nha-tho-duc-ba.jpeg
Nhà thờ Đức Bà Paris  (ANSA)

Đây là Thánh lễ đầu tiên được Đức Tổng Giám mục Aupetit chủ sự sau vụ hỏa hoạn. Việc cử hành có ý nghĩa vì đây là ngày kỷ niệm Cung hiến Nhà thờ. Đức Tổng Giám mục nói: “Chúng ta vui, vì giờ đây nhà thờ của chúng ta đã được củng cố. Hiện chúng ta đang bước vào giai đoạn trùng tu. Nhà thờ sẽ đẹp hơn bao giờ hết và điều này mang lại cho chúng ta niềm vui và hy vọng trong tâm hồn”.

Đức Tổng Giám mục khẳng định: “Như Nhà thờ Đức Bà bị thiêu rụi và được phục hồi, Giáo hội Chúa cũng vậy. Một số người tin rằng Giáo hội đang đổ nát và ở bên bờ vực sụp đổ. Tuy nhiên, Chúa Kitô đã khẳng định cửa địa ngục sẽ không thắng được Giáo hội. Chúng ta tin vào điều đó. Như Nhà thờ Chính tòa của chúng ta, Giáo hội Chúa Kitô sẽ luôn đứng vững”.

Sau khi bày tỏ lòng biết ơn đối với các nhà tài trợ và các kỹ thuật viên, những người đang khôi phục Nhà thờ, Đức Tổng Giám mục nhắc lại: “Kiến trúc sư chính là Chúa Cha, mẫu gương là Chúa Kitô, đạo diễn là Chúa Thánh Thần. Điều sẽ gắn kết chúng ta lại với nhau, sẽ chỉnh đốn chúng ta, và sẽ hiệp nhất chúng ta để xây dựng một Giáo hội tốt đẹp hơn”.

Thánh lễ được cử hành hai ngày sau “lời kêu gọi lòng quảng đại” mới từ Tổng Giáo phận Paris, ngày 14/6. Nếu việc trùng tu là công việc của chính phủ, thì việc tu bổ nội thất hoàn toàn do Giáo hội chịu trách nhiệm. Và đây là một chương trình nhằm mục đích trước hết là khôi phục nơi thờ phượng- chức năng chính của nhà thờ- và để phục vụ cho nhu cầu viếng thăm của sáu triệu tín hữu, khách hành hương và khách du lịch mỗi năm.

Để làm được điều này, từ nay đến 15/6/2024 cần có từ 5 đến 6 triệu euro để thực hiện hai dự án sẽ được trình bày cho các nhà tài trợ Pháp và nước ngoài. Hai dự án đầu tiên được trình bày trong thời gian ngắn cho các nhà tài trợ sẽ là phục hồi hộp đựng tượng Vương miện Mão Gai, bị hư hại trong quá trình giải cứu thánh tích; và thực hiện một nhà tạm mới.

Các dự án trong tương lai sẽ bao gồm chỗ ngồi mới cho dàn hợp xướng và cộng đoàn, ánh sáng, hệ thống âm thanh và phòng âm nhạc. Một phần mở rộng của phong cầm cũng được thực hiện. Dự án khánh thành bàn thờ sẽ được công bố vào năm 2024.

(Acistampa 28/6/2021)Ngọc Yến

Nhờ Người Mẹ Can Đảm Từ Chối Phá Thai, Hai Con Sinh Đôi Làm Linh Mục

Năm 1984, bà Rosa Silva mang thai và được bác sĩ chẩn đoán thai nhi có thể dị dạng và có thể gây nguy hiểm đến sự sống của bà. Bác sĩ đề nghị bà phá thai để giữ an toàn cho mạng sống, nhưng bà đã từ chối phá thai và đón nhận bất cứ điều gì Chúa gửi cho bà. Và kết quả chọn lựa của bà Silva đã mang lại cho giáo phận Valparaíso ở Chile hai linh mục, là hai anh em sinh đôi: cha Phaolô và cha Philíp Lizama.

Câu chuyện của hai anh em linh mục sinh đôi Phaolô và cha Philíp Lizama đã được đăng tải trên các trang tin tức vào năm 2013, năm họ được thụ phong linh mục. Ngày nay, sau 8 năm trong thiên chức linh mục, hai cha vẫn nhiệt thành hăng hái trong sứ vụ và dùng mạng truyền thông xã hội để loan báo Tin Mừng.

Chọn lựa can đảm

Cách đây 36 năm, thân sinh của hai cha là bà Rosa và ông Humberto không thể tưởng tượng được rằng ngày nay, hai người con linh mục song sinh giống nhau như đúc của họ sẽ cử hành Thánh lễ trực tuyến trên Facebook. Sau khi biết mình đang mang thai, bà Rosa đã đi kiểm tra sức khỏe. Bác sĩ đã tiến hành siêu âm và cho rằng những gì họ nhìn thấy trên màn hình là một đứa trẻ bị dị tật nghiêm trọng, theo mô tả, có lẽ là một cặp song sinh dính liền không thể sống được. Việc mang thai này có thể khiến cho mạng sống của bà Rosa gặp nguy hiểm. Bác sĩ đề nghị bà phá thai như là giải pháp cho hoàn cảnh này.

Thiên Chúa quan phòng

Cha Phaolô kể với báo điện tử tiếng Tây Ban Nha Religión en Libertad: “Họ bảo mẹ tôi phải phá thai… nhưng mẹ tôi không muốn. Bà đã chọn sự sống dù cho khi đó theo luật của Chile bà có thể phá thai với lý do là có thể gặp nguy hiểm đến sự sống của người mẹ. Còn cha Philíp thì nói với báo điện tử Aciprensa rằng họ không biết chắc là bác sĩ đọc sai kết quả siêu âm, hay do sự can thiệp của Chúa để hai anh em sinh đôi chào đời mạnh khỏe. Bất kể là điều gì, cha Phaolô nói: “Tôi luôn ảm thấy tình cảm và sự dịu dàng đặc biệt khi tôi nghĩ về tấm lòng của mẹ tôi, người sẵn sàng hy sinh sự sống cho tôi, cho chúng tôi.”

Hai anh em chào đời mạnh khỏe ngày 10 tháng 9 năm 1984. Philíp chào đời trước và sau đó 17 phút Phaolô cũng cất tiếng khóc đầu tiên.

Con đường ơn gọi

Con đường từ khi họ chào đời đến khi trở thành linh mục không hề bằng phẳng và dễ dàng chút nào. Mặc dù cả Philíp và Phaolô đều lớn lên như những tín hữu Công giáo thực hành đạo, nhưng trong một thời gian, đam mê chơi bóng đã cản trở họ tham dự Thánh lễ Chúa Nhật. Sau đó, năm các cậu bé 14 tuổi, cha mẹ của họ ly thân và Philíp và Phaolô bắt đầu dành nhiều thời gian tham gia vào giáo xứ hơn, vì ở thị trấn của họ không có nhiều thứ khác để làm. Vào năm 16 tuổi, họ ngừng chơi bóng đá và tham gia vào giáo xứ nhiều hơn bao giờ hết (mặc dù ngày nay họ vẫn tiếp tục là những người hâm mộ nhiệt tình của môn thể thao này). Và năm 18 tuổi họ gia nhập chủng viện.

Tuy các cặp sinh đôi thường chia sẻ với nhau những điều thầm kín của họ, nhưng hai anh em Philíp và Phaolô lại giữ kín việc họ phân định ơn gọi, bởi vì họ không muốn ảnh hưởng đến quyết định cuộc đời của nhau. Mỗi người cảm thấy ơn gọi linh mục thu hút họ theo cách khác nhau. Họ không biết ai trong họ là người cảm thấy ơn gọi linh mục trước, nhưng họ nghĩ rằng Chúa làm những điều tốt để bảo đảm tự do của họ trong việc chọn lựa đáp lại ơn gọi. Nhưng họ chắc chắn một điều họ chia sẻ cùng kinh nghiệm và cùng tiếng gọi của Chúa Giê-su chia sẻ về Chúa cho người khác.

Cha Philíp khẳng định rằng “Chúa không đùa giỡn chúng tôi. Người muốn chúng tôi hạnh phúc và chức linh mục là một ơn gọi thật đẹp, mang lại hạnh phúc cho chúng tôi.” Cha Phaolô cũng chia sẻ: “Chúa Giê-su, Giáo hội và thế giới cần chúng tôi, nhưng không phải là bất cứ người trẻ nào: họ cần những người trẻ có sức mạnh của chân lý của Chúa, để cuộc sống của họ chiếu tỏa sự sống, nụ cười của họ chiếu tỏa hy vọng, ánh nhìn của họ phản chiếu đức tin và hành động của họ bày tỏ tình yêu.”T

Tình yêu và lòng quảng đại của người mẹ giúp cho ơn gọi thành hiện thực

Hai linh mục sinh đôi chỉ biết về lòng can đảm của mẹ mình khi họ đang học năm thứ sáu chủng viện. Hai cha xem những sự việc đầu đời này như sự quan phòng của Chúa: Chúa đã gọi họ từ thuở đời đời và tình yêu và lòng quảng đại của bà mẹ đã làm cho ơn gọi của họ thành hiện thực. Cha Phaolô nói: “Làm sao chúng tôi có thể không bảo vệ sự sống? Làm sao chúng tôi có thể không giảng về Thiên Chúa của sự sống? Sự kiện mẹ tôi chọn không phá thai là một động lực cho ơn gọi của tôi, nó mang lại sự sống đặc biệt cho ơn gọi của tôi. Tôi xác tín về những gì tôi tin tưởng, những gì tôi đang có và những gì tôi nói, rõ ràng là nhờ ơn sủng của Chúa.”

Sau 10 năm học tập và chuẩn bị, hai anh em được thụ phong linh mục tại nhà thờ chính tòa Valparaíso ngày 28 tháng 4 năm 2012. Ngày nay mạng xã hội là một phần trong sứ vụ của họ. Các bài đăng của họ trên Facebook, Instagram và Twitter phản ánh niềm vui của họ trong chức linh mục, khiếu hài hước, sự gần gũi của họ với nhau và với gia đình, và tình yêu bóng đá của họ. 

Hồng Thủy – Vatican News

Vấn đề Đức có nguy cơ đưa cả Giáo hội vào khủng hoảng

Ban lãnh đạo Giáo Hội Đức với Con Đường Đồng Nghị của họ, theo ký giả Andrea Gagliarducci, có nguy cơ đưa toàn thể Giáo Hội Công Giáo vào khủng hoảng.

Thực vậy, theo ký giả này, với việc bổ nhiệm nữ giáo dân đầu tiên làm tổng thư ký cho Hội Đồng Giám Mục Đức vào tuần trước, Hội đồng này muốn cho người ta thấy các thành quả của Con đường Đồng nghị của Giáo hội họ. Hay đúng hơn, một tín hiệu cho thấy những thay đổi mà họ đang thảo luận sẽ được thực hiện, cho dù Rôma có đồng ý hay không. Đây là một tinh thần coi thường bức thư mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gửi cho Hội đồng hồi tháng 6 năm 2019.

Bức thư đó cho thấy rằng đã có, mặc dù tiềm ẩn, nguy cơ của một cuộc ly giáo gây ra bởi quyết định của các nhà lãnh đạo Giáo hội ở Đức muốn có một Thượng hội đồng có quyền đưa ra các quyết định có tính ràng buộc. Đức Giáo Hoàng Phanxicô viết, “Mỗi lần một cộng đồng giáo hội cố gắng tự mình thoát khỏi các vấn đề của mình, mà chỉ dựa vào sức mạnh, phương pháp và trí thông minh của mình, thì rốt cuộc cộng đồng này sẽ nhân thừa và nuôi dưỡng những tệ nạn mà họ muốn vượt qua”.

Bất chấp việc chính thức thừa nhận rằng mình đã nhận được lá thư của Đức Giáo Hoàng, Giáo hội ở Đức vẫn tiếp tục đi theo hướng đi của mình. Và mô thức hành động dường như là để tiến hành các cải cách chức năng, một điều vốn không cần sự đồng ý của Rôma, nhưng vẫn có thể có tác dụng đáng kể.

Việc chọn nữ tổng thư ký đã đi theo hướng trên. Đây không phải là lần đầu tiên một phụ nữ được bổ nhiệm làm tổng thư ký cho một Hội đồng Giám mục. Chẳng hạn, Sơ Hermegild Makoro là tổng thư ký của Hội đồng Giám mục Nam Phi, và tiếp theo là Sơ Tshifhiwa Munzhedzi, OP, kể từ năm 2020. Từ năm 2009, Sơ Anna Mirijam Kaschner CPS (Nữ tu Dòng Máu Thánh Truyền Giáo) là tổng thư ký của Hội đồng Giám mục Bắc Âu. Tuy nhiên, việc chọn Gilles vẫn có thể được coi là một bổ nhiệm tiên khởi.

Beate Gilles, một nhà thần học 50 tuổi, đã được chọn để kế nhiệm Linh mục Dòng Tên Hans Langendoerfer, người đã từng là số 2 của Hội đồng Giám mục Đức từ năm 1996. Gilles xuất thân từ giáo phận Limburg, nơi bà đứng đầu phân bộ về trẻ em, thiếu niên và gia đình.

Giám mục của Limburg là Đức cha Georg Baetzing, cho hay: “Chúng tôi đang giữ lời hứa nhằm cổ vũ để phụ nữ nắm các vị trí lãnh đạo”. Xét rằng tổng thư ký có một vai trò quyết định trong các hội đồng giám mục và là người thực thi các chỉ thị được gửi tới các giám mục, chúng ta đang đối diện với một giáo dân đầu tiên sẽ quản lý một nhóm giám mục.

Đây là một bước trung gian hướng tới điều mà Đức cha Baetzing muốn có ngay lập tức: truyền chức linh mục cho phụ nữ. Ngài nhắc lại điều này trong một cuộc phỏng vấn với Herder Correspondenz vào tháng Giêng – một cuộc phỏng vấn trong đó ngài cũng phàn nàn về việc Bộ Giáo lý Đức tin ngăn cản một tài liệu (“Cùng nhau ở Bàn tiệc Chúa”) được soạn thảo bởi Nhóm Công tác Đại kết mở đường cho việc rước lễ chung giữa người Công Giáo và người Thệ phản, điều gọi là rước lễ liên phái.

Tất cả đều là những dấu hiệu cho thấy Giáo hội ở Đức muốn tiến hành các cải cách ra sao. Tuy nhiên, vấn đề còn sâu xa hơn. Giáo hội ở Đức đang áp dụng lối hiểu của thế tục về thực tại của Giáo hội. Các bí tích không được xem xét. Chức năng được xem xét. Đó là một chủ đề liên tục được đưa ra trong các cuộc tranh luận kể từ thời Công đồng Vatican II. Một chủ đề đã nổi lên mạnh mẽ một lần nữa và điều đó không bao giờ bị hoàn toàn gạt sang một bên.

Nói cho rõ, chính Đức Gioan Phaolô II, cùng với Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, “người bảo vệ đức tin”, đã cố gắng vượt qua sự phân cực của cuộc tranh luận tại công đồng. Giữa một Giáo hội chỉ được xem xét về mặt chức năng và một Giáo hội trước Công đồng, Đức Gioan-Phaolô II ưa thích một Giáo hội được thành lập dựa trên Đức Kitô. Đó là một cố gắng hướng tới sự thống nhất và được sự giúp đỡ của Đức Hồng Y Ratzinger, người hiểu rõ thế giới Đức.

Giáo Hội Công Giáo ở Đức luôn có một chút “tính ranh giới” do vị trí của họ gần với Giáo hội Thệ phản hùng mạnh và sự cạnh tranh trực tiếp của hai cộng đồng giáo hội này trong việc thu hút các tín hữu, mà con số tự động chuyển thành mức tài trợ thông qua Kirchensteuer, thuế doanh thu cho các Giáo Hội.

Đức Bênêđíctô XVI tiếp tục công việc hiệp nhất này, và người ta thấy tất cả các dấu hiệu của việc này trong chuyến tông du Đức năm 2011. Đối diện với một Giáo hội Đức luôn cổ vũ các ý niệm chức năng, Đức Giáo Hoàng đã trình bày ngài như người kêu gọi quay trở lại với Thiên Chúa. Và ngài cũng yêu cầu cùng một điều nơi người Thệ phản, những người vốn mong đợi một món quà đại kết. Đó là một sự đảo ngược rất khó tiêu đối với Giáo hội ở Đức, vốn đã tiếp tục tự định hướng theo nghị trình cấp tiến.

Với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, công việc trên được thực hiện một cách có hệ thống. Lý lẽ biện minh – và điều này rất hiển nhiên trong tài liệu làm việc của Thượng Hội đồng – là vấn đề lạm dụng trong Giáo hội. Sự lạm dụng được coi là một vấn đề lãnh đạo. Lãnh đạo phát xuất từ cách thức thực thi quyền lực. Cách thực thi quyền lực phải được thay đổi, và phải thay đổi nó một cách dân chủ. Đây là tổng hợp cơ sở lý luận đứng phía sau Con đường Đồng nghị Đức.

Nhưng sự thay đổi của nghị trình dựa trên phản ứng đối với việc lạm dụng đi quá xa vấn đề quyền lực. Nó không nhận được sự đồng thuận, chính vì một số định nghĩa trong văn bản không thể dựa trên sự đồng thuận chung, vì chúng dựa trên những định kiến chống Công Giáo của thế giới thế tục vốn không phù hợp với sự thật.

Trước hết, một ví dụ. Văn bản nhiều lần nhấn mạnh rằng Giáo Hội Công Giáo đã không tự hội nhập văn hóa một cách đầy thuyết phục “vào một xã hội dân chủ dựa trên pháp quyền,” và thực sự đã “sử dụng trật tự pháp lý của mình để kỳ thị một số bộ phận dân cư, đe dọa các tiến trình dân chủ chuẩn mực và tự miễn nhiễm đối với những tìm hiểu có tính phê phán chống lại các giáo huấn và các cơ cấu dân chủ của mình”.

Đó là thứ “văn hóa triệt tiêu” do Giáo hội tự áp dụng cho chính mình. Bằng cách này, Giáo hội không thể nhìn quá bên kia chiếc mũi của mình. Giáo Hội không nhận ra việc làm của Giáo hội ở Đức trong việc cổ vũ tiến trình dân chủ trong Chiến tranh Lạnh. Giáo Hội thậm chí không nhìn vào bên trong mình nhiều chính trị gia vốn tạo nên Ủy ban Trung ương các người Công Giáo Đức (ZDK).

Việc cải tổ Giáo hội có đòi hỏi phải nghị viện hóa chính Giáo hội không?

Vấn đề Đức không phải chỉ là vấn đề ở Đức. Nếu Đức là phòng thí nghiệm, thì vấn đề này phải là chủ đề tranh luận ở khắp mọi nơi. Nó xuất hiện liên tục, một cách đầy ám ảnh. Chúng ta nói về sự hiện diện của phụ nữ trong Giáo hội như thể Giáo hội là một công ty. Giáo hội không bao giờ được xem xét theo đúng nghĩa của nó: một địnhh chế được thành lập một cách thần thiêng và dựa trên các bí tích. Đây là lý do tại sao các giám mục có các chức năng quyền lực: nhờ bí tích truyền chức thánh, ban cho họ các munus docendi, munus sanctificandi, munus regendi (các chức vụ giảng dạy, thánh hóa, cai quản).

Giáo hội không phải là một nền dân chủ. Hiệp thông không dân chủ. Nó có một cảm thức, một giá trị và một ý nghĩa sâu xa, giống mọi điều trong Giáo Hội Công Giáo. Giản lược mọi sự vào chức năng, giản lược mọi sự vào nhu cầu làm cho các diễn trình trở nên dân chủ và minh bạch, là phản bội chính bản chất của Giáo hội.

Có rất nhiều lời bàn tán về việc Thệ phản hóa Giáo hội, và vai trò chính được dành cho lương tâm cá nhân trong nhiều vấn đề dường như đã chứng minh lý thuyết này đúng. Nhưng có lẽ trọng điểm ở chỗ khác. Giáo hội đang ngoại giáo hóa chính mình. Cuối cùng, việc đặt các chức năng, nền dân chủ và các nghị trình thế tục trước các nghị trình thần thiêng là một dấu hiệu của ngoại giáo hơn là Thệ phản.

Đó là một vấn đề mà Đức Bênêđíctô XVI đã nhận diện trong tiểu luận của ngài “Những người ngoại giáo mới và Giáo hội”, của những năm 1950. Chẩn đoán đó hiện vẫn còn giá trị. Sự kiện Giáo hội ở Đức đang thực hiện một diễn trình chức năng, dù không phù hợp với Rôma, không có nghĩa là một cuộc ly giáo có thể đang diễn ra. Nó có nghĩa Giáo hội cần nhìn lại mình bằng con mắt Công Giáo. Nếu Giáo Hội tiếp tục nhìn bản thân qua lăng kính nhận thức của người khác, Giáo Hội sẽ không còn lý do để tồn tại.

Vũ Văn An

Vụn Vặt Suy Tư của Cha Hương Quất

Sân Golf

Thăm Cha Bác, nhân tiện ghé chơi nhà Anh C.

Ngôi nhà không rộng, nhưng khang trang…

Ấn tượng ngay cổng vào, đặt nhiều chậu kiểng xanh đẹp, treo nhiều chậu Lan đua sắc…

Chứng tỏ gia chủ yêu biết trân quý cây xanh, thiên nhiên.

Ấn tượng nhất bộ Bàn ghế lõi gốc Cây to và dài: mặt bàn rộng it nhất cũng 0,8 mét, độ đầy tệ cũng 2 tấc, dài 3-4 mét…; ghế ngồi hai thanh gỗ dài tương đương, dầy, cũng gốc cây.

Ấn tượng hơn, tấm phản ghép liền mặt phản gốc cây, lên màu vân gỗ đẹp hơn, to hơn… (mặt phản rộng trên 1 mét/miếng).

Đặt bộ bàn- phản thuộc hàng độc, hiếm này trong phòng khách dù hơi choáng không gian nhưng trông sang trọng, nâng ‘đẳng cấp’ gia chủ thấy rõ.

Chị vợ nói phải thuê cần cẩu câu đặt vào nhà…

Có lần đi mua đồ, biết tớ dân HN vùng làm mộc, vùng xẻ cây; và bản thân tớ cũng thích cây… có người giới thiệu Nhà X thân quen làm mộc, có gốc cây to lắm, muốn bán.

Tò mò…

Mỗi lõi cây này, có thể xẻ 3-4 mặt phản, dầy 20cm

Bất ngờ tớ ‘bộc phát’: ‘Giá mà có cái để làm mặt Bàn Thờ thì tốt quá!’

Chợt biết mình nói hớ, đành chữa:

– Giả như có cho, tôi cũng không dám nhận!

– Sao vậy Cha ?

– Để bảo vệ Rừng!

– Cái này nhập khẩu mà cha.

– Bộ ở nước khác không phải phá Rừng à!

Tớ nói điều này, vì trân quý và nhớ lời vàng ngọc của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trước nạn phá Rừng gây nhức nhối, làm ảnh hưởng đến môi trường nặng nề- nhất là miền Trung vừa qua chịu trận lũ tàn phá lịch sử. Thủ tướng nói trước Quốc hội trang trọng- khẩn thiết và đầy thành tâm như nhu cầu Tâm linh:

“Rừng là vàng, chặt một cây gỗ cũng phải thắp hương lạy cây”

Nghe nói trước khi rời ghế quyền lực Thủ tướng để chuẩn bị lên ghế cao hơn- sang hơn dù có tính lễ nghi, làm kiểng- Chủ Tịch nước, ông ký xoẹt cái, chấp thuận cho FLC phá trên 150 hét ta Rừng Thông già, đạt chuẩn cổ thụ, trong đó có cả cánh đồng Cỏ Hồng độc đáo, nổi tiếng thế giới.

Chỉ để làm sân Golf,…

 Tức không phải nhu cầu thiết yếu cho đời sống Chủ Dân phần lớn còn nghèo, còm cõm kiếm từng đồng mỗi ngày.

Nếu thế thật…

Lẽ nào Dân tộc này đến thời thất phúc sao ?

Lm.Đaminh Hương Quất

ĐTC mời gọi phổ biến giáo huấn của thánh Têrêsa Avila

Trong thư gửi Đức cha José María Gil Tamayo, giám mục giáo phận Avila, nhân dịp khai mạc Đại hội Quốc tế về thánh Têrêsa Avila, Đức Thánh Cha khuyến khích các tham dự viên và mọi thành viên của Giáo hội “đào sâu và phổ biến giáo huấn” của thánh nữ để xã hội “ngày càng nhân bản” và “mọi người được sống trong tình huynh đệ của con cái của cùng một cha.”

Đại hội Quốc tế về thánh Têrêsa Avila được tổ chức từ ngày 12-15/4 tại Đại học Công giáo thánh Têrêsa, nhân kỷ niệm 50 năm thánh nữ được thánh Giáo hoàng Phao-lô VI phong làm tiến sĩ Hội Thánh. Thánh nữ là phụ nữ đầu tiên được phong tiến sĩ Hội Thánh.

Chỉ có Chúa là đủ

Trong thư Đức Thánh Cha nhận định rằng giáo huấn của thánh nữ Têrêsa Avila “là cả một chương trình lắng nghe lời mời gọi đi vào trong nội tâm của chúng ta để gặp Chúa và từ đó làm chứng rằng chỉ có Chúa là đủ.” Ngài viết: “Thật tuyệt vời khi nhớ rằng tất cả ơn thần bí thánh nữ đã nhận được đã đưa ngài lên thiên đàng, nhưng thánh nhân đã biết cách chuyển thiên đàng xuống đất khi biến cuộc đời ngài thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa, nơi tất cả mọi người đều có chỗ.”

Đức Thánh Cha nhắc lại rằng mặc dù đã 5 thế kỷ trôi qua kể từ khi Thánh Têrêxa sống trên trần thế, nhưng ngọn lửa mà Chúa Giêsu thắp lên trong thánh nữ “vẫn tiếp tục tỏa sáng trong thế giới này, luôn cần những nhân chứng dũng cảm, có khả năng phá vỡ mọi bức tường, có thể là vật chất, hiện sinh hoặc văn hóa.”

Và Đức Thánh Cha khẳng định rằng chính thánh Têrêsa, như thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã định nghĩa, “là một phụ nữ đặc biệt”, “lòng can đảm, sự thông minh, sự kiên trì của ngài”, những điều được thánh nữ kết hợp với sự nhạy cảm về thiện mỹ và tình mẫu tử thiêng liêng đối với tất cả những người tiếp xúc với công việc của ngài “là một ví dụ xuất sắc về vai trò phi thường của phụ nữ trong suốt lịch sử của Giáo hội và xã hội.”

Thánh Têrêsa Avila vẫn tiếp tục nói với chúng ta

Đức Thánh Cha viết tiếp: “Ngày nay, vị thánh thành Avila tiếp tục nói với chúng ta qua các tài liệu, và sứ điệp của ngài được mở rộng cho tất cả mọi người.” Đối với Đức Thánh Cha, có thánh Têrêsa “là người đồng hành, người bạn và người hướng dẫn” sẽ mang lại “sự an toàn và an bình cho linh hồn” và tấm gương của thánh nhân có ích cho tất cả những ai muốn tiến bước trên con đường thanh tẩy tinh thần thế tục, trở nên nơi cư ngụ cao cả của lâu đài nội tâm.” (Europa Press 12/04/2021)

Hồng Thủy – Vatican News

Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI tròn 94 tuổi

Ngày 16/4/2021 Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức tròn 94 tuổi. Dù cho sức khỏe yếu đi và giọng nói ngày càng không rõ, nhưng ngài vẫn minh mẫn. Trong lời tựa viết cho những tập sách về các bài giảng và suy tư của ngài, Đức Hồng y đã chia sẻ những khoảnh khắc đáng nhớ, cho thấy sự khiêm nhường và thánh thiện của Đức nguyên Giáo hoàng.

Trước đây, vào dịp sinh nhật của Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI, Đức ông Georg Ratzinger, bào huynh của ngài, vẫn đến Vatican để cùng chia sẻ niềm vui của ngài. Những năm cuối cùng, vì Đức ông Georg đã yếu đi, nên hai anh em không thể gặp nhau.

Những ngày tháng khó khăn

Ngày 18/6/2020, cả thế giới bất ngờ với chuyến về thăm quê hương của Đức Biển Đức XVI để gặp bào huynh của ngài đang rất yếu. Hai anh em đã dâng Thánh lễ và chia sẻ những giây phút riêng tư bên nhau.

Ngày 1/7/2020, Đức ông Georg Ratzinger qua đời nhưng vì sức khỏe yếu nên Đức Biển Đức XVI không thể về Đức một lần nữa để tham dự Thánh lễ an táng trực tiếp, nhưng ngài chỉ tham dự trực tuyến.

Sinh hoạt thường ngày

Tháng 11/2020, Đức tổng giám mục Georg Gänswein, thư ký riêng của Đức Biển Đức XVI cho biết ngài nghỉ ngơi nhiều hơn vì “sức lực đã giảm sút” nhưng ngài vẫn cử hành Thánh lễ mỗi ngày, cầu nguyện, đọc sách, nghiên cứu, nghe nhạc, tiếp một vài vị khách và trả lời thư từ.

Ở tuổi 94, trí tuệ của Đức Biển Đức dường như vẫn minh mẫn. Trong một cuộc phỏng vấn với báo Die Tagespost được xuất bản  ngày 1/4/2021, ngài đã chú giải về lời tiên tri “gốc Giê-sê” trong sách ngôn sứ Isaiah, mà theo ngài, ám chỉ đến thánh Giuse.

Giáo huấn nổi bật

Đã hơn 8 năm sau ngày Đức Biển Đức XVI từ nhiệm. Có một điều là, nếu như từ khi còn là Hồng y cũng như cho đến khi là Giáo hoàng, Đức Biển Đức XVI đã là tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất, thì khi ngài đã từ nhiệm, các giáo huấn phong phú của ngài vẫn được tái khám phá.

Mới đây nhà xuất bản Palumbi đã cho xuất bản hai tài liệu: 100 bài giảng và Chú giải các Tin Mừng, thu thập các bài suy niệm của Đức Biển Đức XVI. Các cuốn sách được Đức Hồng y Angelo Comastri, nguyên là Giám quản đền thờ thánh Phê-rô, viết lời tựa.

Hồi tưởng của Đức Hồng y Angelo Comastri

Đức Hồng y Comastri nhớ lại ngày cuối triều đại Giáo hoàng Biển Đức XVI. Ngài viết: “Đức Giáo hoàng đã thông báo từ nhiệm giám mục Roma và người kế vị thánh Phê-rô: một tiếng sét giữa trời quang mây tạnh. Khi ngài đang rời Dinh Tông tòa để không trở lại đó nữa, Đức Hồng y Agostino Vallini, Giám quản Roma, được mởi đến chào từ biệt Đức Giáo hoàng khi ngài ra khỏi thang máy, trước khi lên chiếc xe sẽ đưa ngài đến Castel Gandolfo để chờ đợi mật nghị Hồng y và Giáo hoàng mới.”

Đức Hồng y viết tiếp: “Khi tôi vừa  thấy Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ra khỏi thang máy, tôi hiểu giây phút quan trọng đó, và bật khóc. Từ lòng tôi bỗng thốt lên: ‘Thưa Đức Thánh Cha, đây là giây phút thật buồn.’ Đức Giáo hoàng Biển Đứ XVI đã nhìn tôi cách ngạc nhiên, rồi giơ tay chạm vào má tôi như muốn lau giọt nước mắt và nhẹ nhàng thì thầm với tôi: ‘Không, đừng buồn! Chỉ có Chúa Giê-su là không thể thiếu và Chúa Giê-su tiếp tục chèo lái con thuyền Giáo hội của Người! Hãy tiến bước với sự tin tưởng!’. Trong những lời này, bạn có thể ngửi thấy hương thơm của sự khiêm tốn chân thành và đức tin mạnh mẽ của Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI.”

Giáo huấn rõ ràng

Điều luôn gây ấn tượng mạnh với hàng triệu tín hữu đã tham dự các Thánh lễ kỷ và nghe các bài giáo lý của Đức Biển Đức XVI trong tám năm giáo hoàng của ngài là sự rõ ràng đặc biệt của ngài. Đức Hồng Y Comastri cũng nhấn mạnh điều này: “Đức Biển Đức XVI chưa bao giờ là một linh mục chính xứ, nhưng ngôn ngữ của ngài rất đơn giản, dễ tiếp cận và trực tiếp: giống như ngôn ngữ của một cha sở ở một thị trấn miền núi nhỏ. Điều này cho thấy đức tin chân chính, tình yêu nồng nàn dành cho Chúa Giêsu đã hòa quyện ngôn ngữ của Đức Giáo hoàng với ngôn ngữ của vị mục tử nhỏ bé và khiêm nhường nhất của Giáo hội.”

Tình huynh đệ với Đức Phanxicô

Người ta đã viết nhiều về Đức Biển Đức XVI, đặc biệt là trong tám năm kể từ ngài từ nhiệm. Người ta thường bằng mọi giá tìm kiếm sự đối lập của ngài với người kế nhiệm là Đức Phanxicô. Hai vị có hai phong cách rất khác nhau, nhưng tình huynh đệ của các ngài là thật sự và đặc biệt là ở Đức Biển Đức XVI, và lựa chọn từ nhiệm của ngài ngày càng thuyết phục. 

7 Chứng Cớ Chúa Giêsu Phục Sinh

Sau đây là 7 chứng cớ về sự phục sinh cho thấy Đức Giêsu Kitô đã thực sự trỗi dậy từ cõi chết:

1. Ngôi mộ trống

Ngôi mộ trống có thể là bằng chứng hùng hồn nhất về sự phục sinh của Chúa Giêsu. Có 2 lý do chính được những người không tin đưa ra: Ai đó đã lấy trộm xác Chúa Giêsu, hoặc các phụ nữ và các tông đồ đến không đúng mộ. Người Do-thái và người Rôma không có động cơ để cướp xác, còn các tông đồ quá nhát đảm và phải trốn quân lính Rôma.

Các phụ nữ thấy mộ trống và không còn thấy xác Chúa Giêsu, họ biết chắc đó là mộ an táng Chúa Giêsu. Giả sử họ đến không đúng mộ, Tòa án Tối cao Do-thái có thể lấy xác ở đúng mộ để ngăn cản chuyện phục sinh. Vải liệm Chúa Giêsu được xếp gọn gàng trong mộ, kẻ trộm nào cũng vội vàng, không ai lại cẩn thận như vậy. Chính các thiên thần nói rằng Chúa Giêsu đã sống lại.

2. Các nữ chứng nhân đạo đức

Các nữ chứng nhân là bằng chứng rằng Phúc Âm là tài liệu lịch sử chính xác. Nếu được bịa đặt, không tác giả cổ nào lại dùng phụ nữ làm nhân chứng cho sự phục sinh của Đức Kitô. Phụ nữ là giai cấp công dân thứ yếu trong thời đó, chứng cớ của họ không được xem xét ở tòa án.

Nhưng Kinh Thánh nói rằng Đức Kitô phục sinh hiện ra trước tiên với bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na và mấy phụ nữ đạo đức khác. Ngay cả các tông đồ cũng không tin bà Ma-ri-a khi bà nói về ngôi mộ trống. Chúa Giêsu luôn tôn trọng các phụ nữ này, Ngài đề cao họ bằng cách cho họ trở thành nhân chứng đầu tiên về sự phục sinh của Ngài. Các Thánh sử đã kể lại hành động lúng túng này, vì đó là cách nó xảy ra.

3. Các tông đồ can đảm

Sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, các tông đồ đã trốn biệt trong các phòng khóa chặt cửa, sợ sẽ đến lượt mình bị lôi đi xử tử. Nhưng có sự thay đổi khác thường: Họ đang là những người nhát đảm trở thành những người rao giảng can trường. Bất kỳ ai biết bản chất con người thì đều hiểu rằng con người không thể thay đổi mau chóng như vậy nếu không có sự tác động lớn. Sự ảnh hưởng đó là được thấy Thầy sống lại từ cõi chết.

Ý Nghĩa Mầu Nhiệm Chúa Phục Sinh

Chúa Giêsu đã hiện ra với họ trong căn phòng còn khóa kín cửa, trên bờ biển Ga-li-lê, và trên núi Ô-liu. Sau khi thấy Thầy phục sinh, tông đồ Phêrô và các tông đồ khác đã ra khỏi phòng và đi rao giảng về Đức Kitô phục sinh, bất chấp mọi nguy hiểm có thể xảy ra với mình. Họ không còn trốn tránh vì họ đã biết sự thật. Cuối cùng, họ hiểu rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người và cứu mọi người thoát khỏi tội lỗi.

4. Biến đổi Giacôbê và những người khác

Cuộc sống biến đổi là một bằng chứng khác về Chúa Giêsu phục sinh. Tông đồ Gia-cô-bê, anh em họ với Chúa Giêsu, đã từng nghi ngờ không biết Chúa Giêsu có là Đấng Mê-si-a hay không. Nhưng sau đó, ông đã trở thành người lãnh đạo can đảm của giáo đoàn Giê-ru-sa-lem, thậm chí còn bị ném đá chết vì đức tin. Tại sao? Kinh Thánh nói rằng vì Đức Kitô phục sinh đã hiện ra với ông. Thật là cú sốc cho người anh em của ông còn sống, sau khi nghe tin này. Tông đồ Gia-cô-bê và các tông đồ khác cũng đều trở thành các nhà truyền giáo hăng say vì họ đã được thấy và chạm vào Đức Kitô phục sinh. Với các chứng nhân như vậy, Giáo hội sơ khai đã phát triển mau chóng, lan rộng từ Giê-ru-sa-lem tới Tây phương, tới Rôma và xa hơn nữa. Gần 2.000 năm qua, những người gặp được Đức Giêsu phục sinh đều thay đổi cách sống.

5. Đám đông

Đám đông hơn 500 người đã cùng nhau tận mắt thấy Chúa Giêsu phục sinh (1 Cr 15:6-8). Thánh Phaolô nói rằng đa số họ còn sống khi ông viết lá thư đó, khoảng năm 55 sau công nguyên. Chắc chắn họ nói với người khác về “sự lạ” này. Ngày nay, các tâm lý gia nói rằng không thể có số đông người như vậy mà chỉ là ảo giác cộng đồng.

Các nhóm nhỏ cũng thấy Chúa Giêsu phục sinh, chẳng hạn như các tông đồ, ông Clê-ô-pa và người bạn đồng hành. Họ cùng thấy một sự việc, còn trường hợp các tông đồ, họ còn sờ vào Chúa Giêsu và xem rõ các vết thương của Chúa Giêsu, rồi tận mắt thấy Ngài ăn uống nữa. Không thể nào là ảo giác, vì sau khi Chúa Giêsu lên trời, họ mới không còn gặp lại Ngài.

6. Phaolô trở lại

Cuộc trở lại của Thánh Phaolô là bằng chứng mạnh mẽ về việc biến đổi cuộc đời mau chóng. Là Sao-lê cùa thành Tác-sô, ông là người bắt đạo dữ dội. Khi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với ông trên đường Đa-mát, ông trở thành nhà truyền giáo của Kitô giáo. Ông chịu 5 lần đánh bằng roi, 3 lần đánh đập, 3 lần đắm tàu, 1 lần bị nén đá, chịu nghèo nàn và bị chế nhạo. Cuối cùng, hoàng đế Nê-rô của Rôma đã chặt đầu Phaolô vì tội không chịu bỏ niềm tin vào Đức Kitô phục sinh. Điều gì khiến Phaolô chịu cực hình như vậy? Các Kitô hữu tin rằng cuộc trở lại của Phaolô là nhờ ông đã gặp được Đức Kitô phục sinh.

7. Người ta dám chết vì Chúa Giêsu

Vô số người đã dám thí mạng vì Chúa Giêsu, chắc chắn sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện có thật trong lịch sử. Truyền thống nói rằng có 10 tông đồ trong Nhóm Mười Hai đã tử đạo vì Đức Kitô phục sinh. Hàng trăm, hàng ngàn Kitô hữu thời sơ khai đã chịu chết tại đấu trường Rôma và tại các nhà lao tù vì họ vững tin vào Đức Kitô phục sinh. Ngày nay, người ta cũng vẫn bị bách hại vì tin vào Đức Kitô phục sinh. Rất nhiều vị tử đạo đã chết ở nhiều nơi suốt gần 2.000 năm qua, vì họ vững tin rằng Chúa Giêsu sẽ ban cho họ sự sống đời đời.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ Christianity.about.com)

Xao xuyến hay vui mừng?

1. Qua đời

“Thoạt khi vừa mới chào đời

Ðã mang tiếng khóc ôm đầu mà ra”.

Có người đã ví tiếng khóc đầu đời như tiếng còi khởi đầu cho một chuyến hành trình của một cuộc “đời là bể khổ”, lại có những tiếng khóc để tiếp về bến đậu là cái chết. Khi một đời người chấm dứt, nhưng người nằm xuống thì an nghỉ. Nếu có đưa tin về người đã “ra đi” thì người ta gọi là “ai tín”.

Người ta thường nói “sống gởi thác về” (sinh ký tử quy). Người ta cũng thường dùng từ “qua đời” để ghi nhận cái thời điểm một người giã từ kiếp nhân sinh tạm gởi mà tiến vào cuộc sống vĩnh hằng, không còn “ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh”. Ôi, đẹp biết bao, đáng mơ ước chừng nào, cái giây phút qua đời, kết thúc đời lữ thứ vì đã cập bến bình an.

2. Ở và đi

Cái giây phút chuyển tiếp tuyệt vời là thế. Vậy mà nhiều người sao lại khiếp sợ đến thế. Chính Chúa Giêsu khi “đến giờ con người được tôn vinh” (Ga 12,33) dường như cũng chia sẻ những tâm tình rất người: “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này” (Ga 12,27).

Ðối với “Người Con Một vốn là Thiên Chúa và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha” (Ga 1,18), thì Ngài hằng hướng về Cha là lẽ tự nhiên. Ba lần báo trước cuộc thương khó (Mc 8,31-33; Mc 9,30-32; Mc 10,23-34), người con hiếu thảo đã coi “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy…” (Ga 4,34), chứng tỏ khát vọng “qua đời” để về với Cha mãnh liệt tới mức độ nào. Vậy mà Chúa Giêsu vẫn cảm thấy xao xuyến khi Giờ đã điểm. Tại sao?

– Thực tế, “sự sống” là một vốn quý, là ơn ban của chính Thiên Chúa mà mọi người phải trân trọng, muốn hướng và bảo tồn nó. Kèm theo sự sống này là những thứ “đồng tiền nối liền khúc ruột”, mất là đau đến chảy cả máu.

– Cuộc vượt qua còn có những chướng ngại như bệnh tật, tai nạn… làm con người khiếp sợ. Có lẽ đây là điều khiến Chúa Giêsu, đã phải trải qua cơn hấp hối, đến chảy cả mồ hôi giữa đêm lạnh, và mồ hôi còn trộn lẫn cả máu đào (Lc 22,44).

– Gắn bó thiết thân là thế. Nhưng “có sinh có tử”. Vì cái đời đời, mà “Ai yêu quý mạng sống mình thì mất…” (Ga 12,25). Dừng lại, ở những thực tại đời này thì không thể qua đời sau được, cuộc lữ hành trần thế không thể cập được bến bờ! Cần có một niềm tin vững mạnh để không ngừng tiến tới.

3. Tin yêu và hy vọng

Khi có mấy người Hy Lạp muốn gặp, Chúa Giêsu đã thốt lên: “Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh” (Ga 12,23). Là con người, giống như chúng ta mọi đàng, chỉ trừ tội lỗi, “Ðức Giêsu đã lớn tiếng kên van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Ðấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” (Hr 5,7). Gần đến giờ hiến thân mình làm của lễ cứu độ, Chúa Giêsu đã sẵn sàng chịu giương cao trên thập giá, Người cũng được giương cao vì một tình yêu đến cùng (Ga 13,17), đối với Chúa Cha và đối với loài người.

Hẳn là giữa đời này và đời sau, có những giằng co. Sức mạnh giúp vượt qua mọi chướng ngại, vượt qua chính mình, phải là tình yêu như Chúa đã yêu. May mắn vào thời sau cùng này, Thiên Chúa đã “ghi khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta” (Gr 31,33). Cần vun đắp niềm tin yêu vào Chúa, chính niềm tin yêu này là sức mạnh giúp chúng ta sống trong hy vọng mà qua đời vĩnh cửu, viên mãn.

Lm. Phaolô  Phạm Quốc Túy 

Tuần Thánh là gì?

Tuần Thánh là gì?

Tuần Thánh là bảy ngày cuối cùng của Mùa Chay. Tuần Thánh bắt đầu với Chúa Nhật Lễ Lá và kết thúc với Chúa Nhật Phục sinh.

 Tại sao Tuần Thánh là tuần quan trọng?

Đối với Giáo hội Công giáo, đó là một tuần quan trọng kể từ khi kỷ niệm Cuộc Khổ nạn, Tử nạn và Phục sinh của Đức Kitô.

 Ý nghĩa của mỗi ngày là gì?

Vào Chúa Nhật Lễ Lá, Chúa Giêsu đến Jerusalem được ghi nhớ. Người Công giáo có thể tham gia vào đám rước với cành ô liu hoặc cành cọ.

 Một số cành được Đức Thánh Cha Phanxicô mang theo tại Vatican đến từ Elche, một thành phố ở miền nam Tây Ban Nha.

 Từ Thứ Hai đến Thứ Tư Tuần Thánh không có sự kiện đặc biệt.

 Thứ Năm Tuần Thánh kỷ niệm Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu, trong đó Ngài thiết lập những Bí tích Thánh Thể và truyền chức thánh. Trong thánh lễ được cử hành vào ngày này, linh mục thực hành nghi thức rửa chân.

 Thánh lễ không được cử hành vào Thứ Sáu Tuần Thánh hay Thứ Bảy Tuần Thánh, vì đây là những ngày để tang cho cái chết của Đức Kitô.

 Vào Thứ Bảy Tuần Thánh, nhà thờ thực sự đóng cửa, cho đến tối hôm đó, khi Đêm Vọng Phục Sinh được cử hành. Thông thường là những người tân tòng được rửa tội vào đức tin Công giáo trong đêm này.

 Cuối cùng, sự Phục sinh của Đức Kitô được tưởng nhớ vào Chúa Nhật Phục sinh và được cử hành trong Thánh lễ sáng hôm đó.

 Người Công giáo bắt đầu cử hành nghi thức Tuần Thánh từ khi nào?

Tuần Thánh đã được cử hành kể từ khi bắt đầu Kitô giáo. Theo một số tài liệu có niên đại từ thế kỷ thứ IV, Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô đã được tưởng niệm ở Ai Cập, Palestine và phổ biến ở Thổ Nhĩ Kỳ, Armenia. Có khả năng những nghi thức kỷ niệm này đã được tổ chức một vài năm trước. Phong tục này đến Âu châu vào thế kỷ thứ năm.

“Tiêu chuẩn kép” đã chấm dứt thời của người quân tử?

Cổng vào triều đình hay chốn công quyền luôn ghi bốn chữ “quang minh chính đại”: rõ ràng, trong sáng, thẳng thắn, nêu cao chính nghĩa. 

Triết lý sống, triết lý cầm quyền lúc đó luôn chống lại cách sống cơ hội, lập lờ. Triết lý ấy nói một là một, hai là hai. Nhưng, thời thế đã đổi thay, ngày nay thái độ sống mang tính “nhất nguyên” này dường như đã bị thay thế bởi “nhị nguyên” hay “tam, tứ… nguyên”.

Nhưng tiêu chuẩn kép là gì? Là cùng một sự việc, hành động, người này làm thì nói là đúng, người kia làm thì bảo là sai. Nói một cách sòng phẳng, đây là cách gọi lịch sự để chỉ tính hai mặt, tính cơ hội thực dụng, mập mờ, vô nguyên tắc của một hành động nào đó. 

Thậm chí trên Wikipedia người ta nhấn mạnh hơn: “Tiêu chuẩn kép vi phạm tất cả các nguyên tắc về sự công bằng khi giữa hai người lại có mức độ trách nhiệm khác nhau dù làm cùng một việc. Vì thế nó được xem như một loại thành kiến và không công bằng về đạo đức nếu nói theo nguyên tắc tất cả đều bình đẳng và tự do.

Tiêu chuẩn kép được xem như một sự phi lý bởi chúng vi phạm một cách mạnh mẽ châm ngôn cơ bản của luật học hiện đại: tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Nó vi phạm tất cả các nguyên tắc của công lý thường được gọi là sự công bằng vốn cố gắng đặt một tiêu chuẩn chung cho tất cả mọi thứ không thiên vị dù là theo tầng lớp, địa vị xã hội, giới tính, tôn giáo, chính trị, tuổi tác…”.

Đồng cảm với nỗi thống khổ của người Do Thái qua cảnh diệt chủng thời phát xít, vẻ hào hùng của tướng độc nhãn Moshe Dayan, cuốn tiểu thuyết hùng tráng Exodus kể về cuộc trở về lập quốc Israel…, dù vậy tôi cũng không thể đồng cảm nổi cảnh cả ngàn người Palestine – với rất nhiều trẻ em – tử thương vì những cuộc không kích trả đũa của quân đội Israel, tất cả họ đều là dân thường bị cô lập ở dải Gaza, một trại tập trung khổng lồ không có đường trốn, không có gì để tự vệ, có bờ biển ngay cạnh mà cũng không thể bơi thuyền ra quá vài trăm mét!

Tôi tự hỏi: quyền sống của người Do Thái và quyền sống của Palestine là hai tiêu chuẩn khác nhau?

Ở phương trời gần chúng ta hơn, năm ngoái trong cuộc phỏng vấn với BBC lần đầu tiên truyền đi từ một Myanmar mở cửa, người đàn bà mỏng manh Aung San Suu Kyi vốn đã làm cho cả thế giới kính phục vì một nội tâm mạnh mẽ, một tầm nhìn thời đại, một biểu tượng về đấu tranh cho sự công bằng ở Myanmar, lại tỏ ra lúng túng khi bị hỏi về thái độ cần có trước sự trấn áp mạnh tay của Chính phủ Miến Điện với người thiểu số Hồi giáo Rohingya.

Bà đã đáp bằng một câu trả lời lảng tránh, đại loại: “Tôi nghĩ là việc chuyển từ một nước Burma thành liên bang Myanmar đã tạo ra nhiều vấn đề”. Từ đó, thế giới những người hâm mộ bà Suu Kyi vẫn còn ghi một món nợ mà bà cần trả lời: công lý cho dân tộc mình có cùng là công lý cho người thiểu số không?

Gần hơn nữa, ngay trong nội bộ nước Malaysia với chính sách Bumi Butra dành ưu thế cho nhóm người bản địa hơn các nhóm nhập cư gốc Ấn, gốc Hoa; hay tại Thái Lan, cùng là người Thái nhưng phe áo đỏ đa số, tầng lớp thấp ngoại thành vùng sâu vùng xa luôn bị ép bởi phe áo vàng quý tộc, tư sản, trung lưu thành thị, dù tính theo phổ thông đầu phiếu kiểu nào thì phe áo đỏ cũng nắm chính quyền.

Còn phương Tây dẫn đầu là nước Mỹ, luôn nhìn thẳng vào thế giới kiểu của tổng thống George W. Bush và nói: “We will bring them to justice” (Chúng ta sẽ mang bọn khủng bố ra trước công lý), nhưng chữ “công” đó không phải là phổ quát cho mọi người như nghĩa chữ “công cộng”, không xem mọi người như nhau bất kể là ai như “công tâm”…

Cách họ tiến vào Afghanistan để đánh Taliban vì quyền lợi của mình, khi tình hình chuyển biến khó khăn thì họ rút ra và đổ hết mọi sự thất bại cho tổng thống Hamid Karzai – người do chính họ tạo nên, nói ông nào là tham nhũng, cục bộ, yếu kém, bất tài và sau đó là tính chuyện hòa đàm với Taliban. 

Thậm chí hôm 3-10 vừa qua, Jonathan Powell – đặc phái viên của Anh về Libya, nguyên chánh văn phòng của ông Tony Blair – thời cùng ông Bush tuyên chiến với khủng bố kiểu rạch ròi: “Theo chúng tôi hay theo khủng bố!”, vừa ấn hành một cuốn sách nhan đề Talking to terrorists (Đàm phán với khủng bố) – đã nói với nữ nhà báo Christiane Amanpour trên CNN rằng phương Tây phải đàm phán với quân nổi dậy ở Trung Đông.

Rồi Iraq là một điển hình thứ hai, đây là cuộc chiến của người phương Tây nhưng Thủ tướng Maliki bị đổ hết trách nhiệm, thậm chí trong một cuộc phỏng vấn với Christiane Amanpour tháng trước, ông cựu đại sứ Mỹ tại Iraq khi bị quay rằng “các ông tạo ra ông ấy mà” đã ngập ngừng trả lời đại ý “ông ấy được bầu lên và ở thời đại này, chúng ta không còn có thể làm một coup d’etat (đảo chính) như hồi thập niên 1950 được nữa”. 

Nhớ tới lời của thủ tướng Anh Winston Churchill khi tổng kết về chính trị thế giới: “Quốc gia không có bạn, quốc gia chỉ có quyền lợi”, chúng ta đành phải tin rằng tiêu chuẩn kép là điều hiển nhiên, vì nhìn từ quyền lợi thì sẽ khó có công lý giống nhau cho mọi người.

Tính hai mặt trong đời sống

Trong đời sống thường ngày cũng thế, dù luôn cưỡng lại song tôi thấy mình nhiều lúc xuôi theo tiêu chuẩn kép. Khi đọc bài điều tra về nạn buôn thận, tôi xót xa cho người bán thận, căm phẫn kẻ môi giới, rồi có phần oán trách người mua thận “vì mình mà hại mấy người trẻ đang lành mạnh…”.

Nhưng khi tự hỏi nếu ở vào hoàn cảnh cận kề cái chết, khổ đau vì cột cuộc đời bên chiếc máy chạy thận, tôi có dám nói không khi ai đó đề nghị bán thận cho mình không?

Dù ghét tham nhũng, hối lộ và cuộc đời cũng không có quá nhiều nhu cầu để phải chạy chọt, nhưng tôi có dám nói rằng từ trước tới nay mình chưa hề nhờ vả này nọ để giành ưu thế không công bằng và quyết sống không thực hiện hành vi mình ghét ấy không?

Tôi không chắc khi nhớ đến những lần bị thổi phạt trên đường, những lần chen chúc phờ phạc trong bệnh viện, rồi chuyện này nọ không quá lớn nhưng rất cần “sức mạnh của sự quen biết”.

Nhớ hồi trước năm 1975, khi còn học ở trung học đệ nhất cấp (như cấp II hiện nay), tôi đã luôn tự hỏi: lớn lên mình có tham nhũng không? Xã hội quanh tôi lúc đó đầy rẫy tham nhũng nhưng chúng tôi ý thức và luôn tự đấu tranh với điều này. Kết luận ngây thơ lúc ấy là: mình sẽ học khoa học hay làm ăn chứ không vào công chức để vướng đường tham nhũng. 

Sau ngày 30-4-1975, khi đoàn quân cách mạng rầm rập tiến vào Sài Gòn, cảm giác về họ có thể khác nhau tùy người, nhưng ai cũng thừa nhận một điều: đó là một đoàn quân cách mạng, sạch sẽ và lý tưởng. Không hề thấy ở đâu việc tơ hào vật chất dù ở ngay giữa Sài Gòn lộng lẫy xa hoa.

Một người lính quê Thanh Hóa đóng gần nhà tôi – trong khu Mạc Đĩnh Chi sang trọng – chỉ có mỗi một ước nguyện: mua một con búp bê nhựa và nhanh chóng rời chốn phồn hoa này về quê để gặp mặt con.

Hình ảnh dung dị mà thật đẹp, y như cảnh tráng sĩ rửa gươm dưới ánh trăng để gác kiếm sau khi hoàn thành công việc và quay về quê nhà mà tôi đã đọc trong các áng thiên cổ hùng văn.

Đi tìm một thái độ sống đàng hoàng

Theo một nghĩa nào đó có thể nói rằng thời của người quân tử đã qua rồi. Những công thức để thành kẻ trượng phu kiểu: “Quân tử nhất ngôn” (Người quân tử chỉ nói một lời) hay “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (Một lời nói ra, bốn con chiến mã cũng không đuổi kịp, nên phải giữ lời vì nói ra là không nuốt lời được) nay đã không còn được coi trọng.

Không hẳn vì con người xấu đi mà có lẽ do cuộc đời phức tạp hơn, khó lường định và khó giữ lời hơn. Hoặc cái giá phải trả cho một hành động ngày càng lớn nên người ta phải thỏa hiệp, phải tương nhượng, từ đó người ta thay đổi. Khi người ta đổi thay, tiêu chuẩn cam kết một thời cũng đổi thay theo. Tiêu chuẩn kép từ đó mà hình thành.

Nhưng nói gì thì nói, nếu chúng ta không còn thấy buồn, thấy chua xót khi nghe những ý kiến sau của các nhà tư tưởng: “Đối với người quyền lực, tội ác là cái mà người khác làm” (Cái mình làm chả bao giờ… ác), phát biểu của nhà triết học chính trị Noam Chomsky. Hay “Thực hiện những điều hung bạo với một lương tâm trong sạch là một hạnh phúc đối với các nhà đạo đức.

Con người tạo ra địa ngục từ đó”, ý kiến của nhà triết học Bertrand Russell…, thì tấm lòng chúng ta đã trở nên chai đá vì tính thực dụng rồi. Và phổ quát hơn, nếu chúng ta buông xuôi, ngừng các nỗ lực vun trồng một nguyên tắc chung, không kép, không hai mặt thì xã hội của chúng ta sẽ dựa vào điều gì mà tiến lên.

Bốn chữ “quang minh chính đại” khi bị tháo xuống khỏi chốn công đường, thì khi bước vào đó người công dân sẽ tin vào điều gì?

Như dân gian thường hay đùa: “Quân tử nhất ngôn là quân tử dại/Quân tử… nói lại là quân tử khôn”, chúng ta chắc luôn phải tự vấn, tự trào như các bậc tiền bối thường làm để thấy mình không luôn đúng, để thấy mình đang dần sai, mình không mãi sở hữu chân lý, từ đó sẵn sàng một tâm thái chuẩn bị để canh tân.