Archive by Author | Hội Cứu Mạng Thai Nhi

7 Chứng Cớ Chúa Giêsu Phục Sinh

Sau đây là 7 chứng cớ về sự phục sinh cho thấy Đức Giêsu Kitô đã thực sự trỗi dậy từ cõi chết:

1. Ngôi mộ trống

Ngôi mộ trống có thể là bằng chứng hùng hồn nhất về sự phục sinh của Chúa Giêsu. Có 2 lý do chính được những người không tin đưa ra: Ai đó đã lấy trộm xác Chúa Giêsu, hoặc các phụ nữ và các tông đồ đến không đúng mộ. Người Do-thái và người Rôma không có động cơ để cướp xác, còn các tông đồ quá nhát đảm và phải trốn quân lính Rôma.

Các phụ nữ thấy mộ trống và không còn thấy xác Chúa Giêsu, họ biết chắc đó là mộ an táng Chúa Giêsu. Giả sử họ đến không đúng mộ, Tòa án Tối cao Do-thái có thể lấy xác ở đúng mộ để ngăn cản chuyện phục sinh. Vải liệm Chúa Giêsu được xếp gọn gàng trong mộ, kẻ trộm nào cũng vội vàng, không ai lại cẩn thận như vậy. Chính các thiên thần nói rằng Chúa Giêsu đã sống lại.

2. Các nữ chứng nhân đạo đức

Các nữ chứng nhân là bằng chứng rằng Phúc Âm là tài liệu lịch sử chính xác. Nếu được bịa đặt, không tác giả cổ nào lại dùng phụ nữ làm nhân chứng cho sự phục sinh của Đức Kitô. Phụ nữ là giai cấp công dân thứ yếu trong thời đó, chứng cớ của họ không được xem xét ở tòa án.

Nhưng Kinh Thánh nói rằng Đức Kitô phục sinh hiện ra trước tiên với bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na và mấy phụ nữ đạo đức khác. Ngay cả các tông đồ cũng không tin bà Ma-ri-a khi bà nói về ngôi mộ trống. Chúa Giêsu luôn tôn trọng các phụ nữ này, Ngài đề cao họ bằng cách cho họ trở thành nhân chứng đầu tiên về sự phục sinh của Ngài. Các Thánh sử đã kể lại hành động lúng túng này, vì đó là cách nó xảy ra.

3. Các tông đồ can đảm

Sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, các tông đồ đã trốn biệt trong các phòng khóa chặt cửa, sợ sẽ đến lượt mình bị lôi đi xử tử. Nhưng có sự thay đổi khác thường: Họ đang là những người nhát đảm trở thành những người rao giảng can trường. Bất kỳ ai biết bản chất con người thì đều hiểu rằng con người không thể thay đổi mau chóng như vậy nếu không có sự tác động lớn. Sự ảnh hưởng đó là được thấy Thầy sống lại từ cõi chết.

Ý Nghĩa Mầu Nhiệm Chúa Phục Sinh

Chúa Giêsu đã hiện ra với họ trong căn phòng còn khóa kín cửa, trên bờ biển Ga-li-lê, và trên núi Ô-liu. Sau khi thấy Thầy phục sinh, tông đồ Phêrô và các tông đồ khác đã ra khỏi phòng và đi rao giảng về Đức Kitô phục sinh, bất chấp mọi nguy hiểm có thể xảy ra với mình. Họ không còn trốn tránh vì họ đã biết sự thật. Cuối cùng, họ hiểu rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người và cứu mọi người thoát khỏi tội lỗi.

4. Biến đổi Giacôbê và những người khác

Cuộc sống biến đổi là một bằng chứng khác về Chúa Giêsu phục sinh. Tông đồ Gia-cô-bê, anh em họ với Chúa Giêsu, đã từng nghi ngờ không biết Chúa Giêsu có là Đấng Mê-si-a hay không. Nhưng sau đó, ông đã trở thành người lãnh đạo can đảm của giáo đoàn Giê-ru-sa-lem, thậm chí còn bị ném đá chết vì đức tin. Tại sao? Kinh Thánh nói rằng vì Đức Kitô phục sinh đã hiện ra với ông. Thật là cú sốc cho người anh em của ông còn sống, sau khi nghe tin này. Tông đồ Gia-cô-bê và các tông đồ khác cũng đều trở thành các nhà truyền giáo hăng say vì họ đã được thấy và chạm vào Đức Kitô phục sinh. Với các chứng nhân như vậy, Giáo hội sơ khai đã phát triển mau chóng, lan rộng từ Giê-ru-sa-lem tới Tây phương, tới Rôma và xa hơn nữa. Gần 2.000 năm qua, những người gặp được Đức Giêsu phục sinh đều thay đổi cách sống.

5. Đám đông

Đám đông hơn 500 người đã cùng nhau tận mắt thấy Chúa Giêsu phục sinh (1 Cr 15:6-8). Thánh Phaolô nói rằng đa số họ còn sống khi ông viết lá thư đó, khoảng năm 55 sau công nguyên. Chắc chắn họ nói với người khác về “sự lạ” này. Ngày nay, các tâm lý gia nói rằng không thể có số đông người như vậy mà chỉ là ảo giác cộng đồng.

Các nhóm nhỏ cũng thấy Chúa Giêsu phục sinh, chẳng hạn như các tông đồ, ông Clê-ô-pa và người bạn đồng hành. Họ cùng thấy một sự việc, còn trường hợp các tông đồ, họ còn sờ vào Chúa Giêsu và xem rõ các vết thương của Chúa Giêsu, rồi tận mắt thấy Ngài ăn uống nữa. Không thể nào là ảo giác, vì sau khi Chúa Giêsu lên trời, họ mới không còn gặp lại Ngài.

6. Phaolô trở lại

Cuộc trở lại của Thánh Phaolô là bằng chứng mạnh mẽ về việc biến đổi cuộc đời mau chóng. Là Sao-lê cùa thành Tác-sô, ông là người bắt đạo dữ dội. Khi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với ông trên đường Đa-mát, ông trở thành nhà truyền giáo của Kitô giáo. Ông chịu 5 lần đánh bằng roi, 3 lần đánh đập, 3 lần đắm tàu, 1 lần bị nén đá, chịu nghèo nàn và bị chế nhạo. Cuối cùng, hoàng đế Nê-rô của Rôma đã chặt đầu Phaolô vì tội không chịu bỏ niềm tin vào Đức Kitô phục sinh. Điều gì khiến Phaolô chịu cực hình như vậy? Các Kitô hữu tin rằng cuộc trở lại của Phaolô là nhờ ông đã gặp được Đức Kitô phục sinh.

7. Người ta dám chết vì Chúa Giêsu

Vô số người đã dám thí mạng vì Chúa Giêsu, chắc chắn sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện có thật trong lịch sử. Truyền thống nói rằng có 10 tông đồ trong Nhóm Mười Hai đã tử đạo vì Đức Kitô phục sinh. Hàng trăm, hàng ngàn Kitô hữu thời sơ khai đã chịu chết tại đấu trường Rôma và tại các nhà lao tù vì họ vững tin vào Đức Kitô phục sinh. Ngày nay, người ta cũng vẫn bị bách hại vì tin vào Đức Kitô phục sinh. Rất nhiều vị tử đạo đã chết ở nhiều nơi suốt gần 2.000 năm qua, vì họ vững tin rằng Chúa Giêsu sẽ ban cho họ sự sống đời đời.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ Christianity.about.com)

Xao xuyến hay vui mừng?

1. Qua đời

“Thoạt khi vừa mới chào đời

Ðã mang tiếng khóc ôm đầu mà ra”.

Có người đã ví tiếng khóc đầu đời như tiếng còi khởi đầu cho một chuyến hành trình của một cuộc “đời là bể khổ”, lại có những tiếng khóc để tiếp về bến đậu là cái chết. Khi một đời người chấm dứt, nhưng người nằm xuống thì an nghỉ. Nếu có đưa tin về người đã “ra đi” thì người ta gọi là “ai tín”.

Người ta thường nói “sống gởi thác về” (sinh ký tử quy). Người ta cũng thường dùng từ “qua đời” để ghi nhận cái thời điểm một người giã từ kiếp nhân sinh tạm gởi mà tiến vào cuộc sống vĩnh hằng, không còn “ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh”. Ôi, đẹp biết bao, đáng mơ ước chừng nào, cái giây phút qua đời, kết thúc đời lữ thứ vì đã cập bến bình an.

2. Ở và đi

Cái giây phút chuyển tiếp tuyệt vời là thế. Vậy mà nhiều người sao lại khiếp sợ đến thế. Chính Chúa Giêsu khi “đến giờ con người được tôn vinh” (Ga 12,33) dường như cũng chia sẻ những tâm tình rất người: “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này” (Ga 12,27).

Ðối với “Người Con Một vốn là Thiên Chúa và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha” (Ga 1,18), thì Ngài hằng hướng về Cha là lẽ tự nhiên. Ba lần báo trước cuộc thương khó (Mc 8,31-33; Mc 9,30-32; Mc 10,23-34), người con hiếu thảo đã coi “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy…” (Ga 4,34), chứng tỏ khát vọng “qua đời” để về với Cha mãnh liệt tới mức độ nào. Vậy mà Chúa Giêsu vẫn cảm thấy xao xuyến khi Giờ đã điểm. Tại sao?

– Thực tế, “sự sống” là một vốn quý, là ơn ban của chính Thiên Chúa mà mọi người phải trân trọng, muốn hướng và bảo tồn nó. Kèm theo sự sống này là những thứ “đồng tiền nối liền khúc ruột”, mất là đau đến chảy cả máu.

– Cuộc vượt qua còn có những chướng ngại như bệnh tật, tai nạn… làm con người khiếp sợ. Có lẽ đây là điều khiến Chúa Giêsu, đã phải trải qua cơn hấp hối, đến chảy cả mồ hôi giữa đêm lạnh, và mồ hôi còn trộn lẫn cả máu đào (Lc 22,44).

– Gắn bó thiết thân là thế. Nhưng “có sinh có tử”. Vì cái đời đời, mà “Ai yêu quý mạng sống mình thì mất…” (Ga 12,25). Dừng lại, ở những thực tại đời này thì không thể qua đời sau được, cuộc lữ hành trần thế không thể cập được bến bờ! Cần có một niềm tin vững mạnh để không ngừng tiến tới.

3. Tin yêu và hy vọng

Khi có mấy người Hy Lạp muốn gặp, Chúa Giêsu đã thốt lên: “Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh” (Ga 12,23). Là con người, giống như chúng ta mọi đàng, chỉ trừ tội lỗi, “Ðức Giêsu đã lớn tiếng kên van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Ðấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” (Hr 5,7). Gần đến giờ hiến thân mình làm của lễ cứu độ, Chúa Giêsu đã sẵn sàng chịu giương cao trên thập giá, Người cũng được giương cao vì một tình yêu đến cùng (Ga 13,17), đối với Chúa Cha và đối với loài người.

Hẳn là giữa đời này và đời sau, có những giằng co. Sức mạnh giúp vượt qua mọi chướng ngại, vượt qua chính mình, phải là tình yêu như Chúa đã yêu. May mắn vào thời sau cùng này, Thiên Chúa đã “ghi khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta” (Gr 31,33). Cần vun đắp niềm tin yêu vào Chúa, chính niềm tin yêu này là sức mạnh giúp chúng ta sống trong hy vọng mà qua đời vĩnh cửu, viên mãn.

Lm. Phaolô  Phạm Quốc Túy 

Tuần Thánh là gì?

Tuần Thánh là gì?

Tuần Thánh là bảy ngày cuối cùng của Mùa Chay. Tuần Thánh bắt đầu với Chúa Nhật Lễ Lá và kết thúc với Chúa Nhật Phục sinh.

 Tại sao Tuần Thánh là tuần quan trọng?

Đối với Giáo hội Công giáo, đó là một tuần quan trọng kể từ khi kỷ niệm Cuộc Khổ nạn, Tử nạn và Phục sinh của Đức Kitô.

 Ý nghĩa của mỗi ngày là gì?

Vào Chúa Nhật Lễ Lá, Chúa Giêsu đến Jerusalem được ghi nhớ. Người Công giáo có thể tham gia vào đám rước với cành ô liu hoặc cành cọ.

 Một số cành được Đức Thánh Cha Phanxicô mang theo tại Vatican đến từ Elche, một thành phố ở miền nam Tây Ban Nha.

 Từ Thứ Hai đến Thứ Tư Tuần Thánh không có sự kiện đặc biệt.

 Thứ Năm Tuần Thánh kỷ niệm Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu, trong đó Ngài thiết lập những Bí tích Thánh Thể và truyền chức thánh. Trong thánh lễ được cử hành vào ngày này, linh mục thực hành nghi thức rửa chân.

 Thánh lễ không được cử hành vào Thứ Sáu Tuần Thánh hay Thứ Bảy Tuần Thánh, vì đây là những ngày để tang cho cái chết của Đức Kitô.

 Vào Thứ Bảy Tuần Thánh, nhà thờ thực sự đóng cửa, cho đến tối hôm đó, khi Đêm Vọng Phục Sinh được cử hành. Thông thường là những người tân tòng được rửa tội vào đức tin Công giáo trong đêm này.

 Cuối cùng, sự Phục sinh của Đức Kitô được tưởng nhớ vào Chúa Nhật Phục sinh và được cử hành trong Thánh lễ sáng hôm đó.

 Người Công giáo bắt đầu cử hành nghi thức Tuần Thánh từ khi nào?

Tuần Thánh đã được cử hành kể từ khi bắt đầu Kitô giáo. Theo một số tài liệu có niên đại từ thế kỷ thứ IV, Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô đã được tưởng niệm ở Ai Cập, Palestine và phổ biến ở Thổ Nhĩ Kỳ, Armenia. Có khả năng những nghi thức kỷ niệm này đã được tổ chức một vài năm trước. Phong tục này đến Âu châu vào thế kỷ thứ năm.

“Tiêu chuẩn kép” đã chấm dứt thời của người quân tử?

Cổng vào triều đình hay chốn công quyền luôn ghi bốn chữ “quang minh chính đại”: rõ ràng, trong sáng, thẳng thắn, nêu cao chính nghĩa. 

Triết lý sống, triết lý cầm quyền lúc đó luôn chống lại cách sống cơ hội, lập lờ. Triết lý ấy nói một là một, hai là hai. Nhưng, thời thế đã đổi thay, ngày nay thái độ sống mang tính “nhất nguyên” này dường như đã bị thay thế bởi “nhị nguyên” hay “tam, tứ… nguyên”.

Nhưng tiêu chuẩn kép là gì? Là cùng một sự việc, hành động, người này làm thì nói là đúng, người kia làm thì bảo là sai. Nói một cách sòng phẳng, đây là cách gọi lịch sự để chỉ tính hai mặt, tính cơ hội thực dụng, mập mờ, vô nguyên tắc của một hành động nào đó. 

Thậm chí trên Wikipedia người ta nhấn mạnh hơn: “Tiêu chuẩn kép vi phạm tất cả các nguyên tắc về sự công bằng khi giữa hai người lại có mức độ trách nhiệm khác nhau dù làm cùng một việc. Vì thế nó được xem như một loại thành kiến và không công bằng về đạo đức nếu nói theo nguyên tắc tất cả đều bình đẳng và tự do.

Tiêu chuẩn kép được xem như một sự phi lý bởi chúng vi phạm một cách mạnh mẽ châm ngôn cơ bản của luật học hiện đại: tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Nó vi phạm tất cả các nguyên tắc của công lý thường được gọi là sự công bằng vốn cố gắng đặt một tiêu chuẩn chung cho tất cả mọi thứ không thiên vị dù là theo tầng lớp, địa vị xã hội, giới tính, tôn giáo, chính trị, tuổi tác…”.

Đồng cảm với nỗi thống khổ của người Do Thái qua cảnh diệt chủng thời phát xít, vẻ hào hùng của tướng độc nhãn Moshe Dayan, cuốn tiểu thuyết hùng tráng Exodus kể về cuộc trở về lập quốc Israel…, dù vậy tôi cũng không thể đồng cảm nổi cảnh cả ngàn người Palestine – với rất nhiều trẻ em – tử thương vì những cuộc không kích trả đũa của quân đội Israel, tất cả họ đều là dân thường bị cô lập ở dải Gaza, một trại tập trung khổng lồ không có đường trốn, không có gì để tự vệ, có bờ biển ngay cạnh mà cũng không thể bơi thuyền ra quá vài trăm mét!

Tôi tự hỏi: quyền sống của người Do Thái và quyền sống của Palestine là hai tiêu chuẩn khác nhau?

Ở phương trời gần chúng ta hơn, năm ngoái trong cuộc phỏng vấn với BBC lần đầu tiên truyền đi từ một Myanmar mở cửa, người đàn bà mỏng manh Aung San Suu Kyi vốn đã làm cho cả thế giới kính phục vì một nội tâm mạnh mẽ, một tầm nhìn thời đại, một biểu tượng về đấu tranh cho sự công bằng ở Myanmar, lại tỏ ra lúng túng khi bị hỏi về thái độ cần có trước sự trấn áp mạnh tay của Chính phủ Miến Điện với người thiểu số Hồi giáo Rohingya.

Bà đã đáp bằng một câu trả lời lảng tránh, đại loại: “Tôi nghĩ là việc chuyển từ một nước Burma thành liên bang Myanmar đã tạo ra nhiều vấn đề”. Từ đó, thế giới những người hâm mộ bà Suu Kyi vẫn còn ghi một món nợ mà bà cần trả lời: công lý cho dân tộc mình có cùng là công lý cho người thiểu số không?

Gần hơn nữa, ngay trong nội bộ nước Malaysia với chính sách Bumi Butra dành ưu thế cho nhóm người bản địa hơn các nhóm nhập cư gốc Ấn, gốc Hoa; hay tại Thái Lan, cùng là người Thái nhưng phe áo đỏ đa số, tầng lớp thấp ngoại thành vùng sâu vùng xa luôn bị ép bởi phe áo vàng quý tộc, tư sản, trung lưu thành thị, dù tính theo phổ thông đầu phiếu kiểu nào thì phe áo đỏ cũng nắm chính quyền.

Còn phương Tây dẫn đầu là nước Mỹ, luôn nhìn thẳng vào thế giới kiểu của tổng thống George W. Bush và nói: “We will bring them to justice” (Chúng ta sẽ mang bọn khủng bố ra trước công lý), nhưng chữ “công” đó không phải là phổ quát cho mọi người như nghĩa chữ “công cộng”, không xem mọi người như nhau bất kể là ai như “công tâm”…

Cách họ tiến vào Afghanistan để đánh Taliban vì quyền lợi của mình, khi tình hình chuyển biến khó khăn thì họ rút ra và đổ hết mọi sự thất bại cho tổng thống Hamid Karzai – người do chính họ tạo nên, nói ông nào là tham nhũng, cục bộ, yếu kém, bất tài và sau đó là tính chuyện hòa đàm với Taliban. 

Thậm chí hôm 3-10 vừa qua, Jonathan Powell – đặc phái viên của Anh về Libya, nguyên chánh văn phòng của ông Tony Blair – thời cùng ông Bush tuyên chiến với khủng bố kiểu rạch ròi: “Theo chúng tôi hay theo khủng bố!”, vừa ấn hành một cuốn sách nhan đề Talking to terrorists (Đàm phán với khủng bố) – đã nói với nữ nhà báo Christiane Amanpour trên CNN rằng phương Tây phải đàm phán với quân nổi dậy ở Trung Đông.

Rồi Iraq là một điển hình thứ hai, đây là cuộc chiến của người phương Tây nhưng Thủ tướng Maliki bị đổ hết trách nhiệm, thậm chí trong một cuộc phỏng vấn với Christiane Amanpour tháng trước, ông cựu đại sứ Mỹ tại Iraq khi bị quay rằng “các ông tạo ra ông ấy mà” đã ngập ngừng trả lời đại ý “ông ấy được bầu lên và ở thời đại này, chúng ta không còn có thể làm một coup d’etat (đảo chính) như hồi thập niên 1950 được nữa”. 

Nhớ tới lời của thủ tướng Anh Winston Churchill khi tổng kết về chính trị thế giới: “Quốc gia không có bạn, quốc gia chỉ có quyền lợi”, chúng ta đành phải tin rằng tiêu chuẩn kép là điều hiển nhiên, vì nhìn từ quyền lợi thì sẽ khó có công lý giống nhau cho mọi người.

Tính hai mặt trong đời sống

Trong đời sống thường ngày cũng thế, dù luôn cưỡng lại song tôi thấy mình nhiều lúc xuôi theo tiêu chuẩn kép. Khi đọc bài điều tra về nạn buôn thận, tôi xót xa cho người bán thận, căm phẫn kẻ môi giới, rồi có phần oán trách người mua thận “vì mình mà hại mấy người trẻ đang lành mạnh…”.

Nhưng khi tự hỏi nếu ở vào hoàn cảnh cận kề cái chết, khổ đau vì cột cuộc đời bên chiếc máy chạy thận, tôi có dám nói không khi ai đó đề nghị bán thận cho mình không?

Dù ghét tham nhũng, hối lộ và cuộc đời cũng không có quá nhiều nhu cầu để phải chạy chọt, nhưng tôi có dám nói rằng từ trước tới nay mình chưa hề nhờ vả này nọ để giành ưu thế không công bằng và quyết sống không thực hiện hành vi mình ghét ấy không?

Tôi không chắc khi nhớ đến những lần bị thổi phạt trên đường, những lần chen chúc phờ phạc trong bệnh viện, rồi chuyện này nọ không quá lớn nhưng rất cần “sức mạnh của sự quen biết”.

Nhớ hồi trước năm 1975, khi còn học ở trung học đệ nhất cấp (như cấp II hiện nay), tôi đã luôn tự hỏi: lớn lên mình có tham nhũng không? Xã hội quanh tôi lúc đó đầy rẫy tham nhũng nhưng chúng tôi ý thức và luôn tự đấu tranh với điều này. Kết luận ngây thơ lúc ấy là: mình sẽ học khoa học hay làm ăn chứ không vào công chức để vướng đường tham nhũng. 

Sau ngày 30-4-1975, khi đoàn quân cách mạng rầm rập tiến vào Sài Gòn, cảm giác về họ có thể khác nhau tùy người, nhưng ai cũng thừa nhận một điều: đó là một đoàn quân cách mạng, sạch sẽ và lý tưởng. Không hề thấy ở đâu việc tơ hào vật chất dù ở ngay giữa Sài Gòn lộng lẫy xa hoa.

Một người lính quê Thanh Hóa đóng gần nhà tôi – trong khu Mạc Đĩnh Chi sang trọng – chỉ có mỗi một ước nguyện: mua một con búp bê nhựa và nhanh chóng rời chốn phồn hoa này về quê để gặp mặt con.

Hình ảnh dung dị mà thật đẹp, y như cảnh tráng sĩ rửa gươm dưới ánh trăng để gác kiếm sau khi hoàn thành công việc và quay về quê nhà mà tôi đã đọc trong các áng thiên cổ hùng văn.

Đi tìm một thái độ sống đàng hoàng

Theo một nghĩa nào đó có thể nói rằng thời của người quân tử đã qua rồi. Những công thức để thành kẻ trượng phu kiểu: “Quân tử nhất ngôn” (Người quân tử chỉ nói một lời) hay “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (Một lời nói ra, bốn con chiến mã cũng không đuổi kịp, nên phải giữ lời vì nói ra là không nuốt lời được) nay đã không còn được coi trọng.

Không hẳn vì con người xấu đi mà có lẽ do cuộc đời phức tạp hơn, khó lường định và khó giữ lời hơn. Hoặc cái giá phải trả cho một hành động ngày càng lớn nên người ta phải thỏa hiệp, phải tương nhượng, từ đó người ta thay đổi. Khi người ta đổi thay, tiêu chuẩn cam kết một thời cũng đổi thay theo. Tiêu chuẩn kép từ đó mà hình thành.

Nhưng nói gì thì nói, nếu chúng ta không còn thấy buồn, thấy chua xót khi nghe những ý kiến sau của các nhà tư tưởng: “Đối với người quyền lực, tội ác là cái mà người khác làm” (Cái mình làm chả bao giờ… ác), phát biểu của nhà triết học chính trị Noam Chomsky. Hay “Thực hiện những điều hung bạo với một lương tâm trong sạch là một hạnh phúc đối với các nhà đạo đức.

Con người tạo ra địa ngục từ đó”, ý kiến của nhà triết học Bertrand Russell…, thì tấm lòng chúng ta đã trở nên chai đá vì tính thực dụng rồi. Và phổ quát hơn, nếu chúng ta buông xuôi, ngừng các nỗ lực vun trồng một nguyên tắc chung, không kép, không hai mặt thì xã hội của chúng ta sẽ dựa vào điều gì mà tiến lên.

Bốn chữ “quang minh chính đại” khi bị tháo xuống khỏi chốn công đường, thì khi bước vào đó người công dân sẽ tin vào điều gì?

Như dân gian thường hay đùa: “Quân tử nhất ngôn là quân tử dại/Quân tử… nói lại là quân tử khôn”, chúng ta chắc luôn phải tự vấn, tự trào như các bậc tiền bối thường làm để thấy mình không luôn đúng, để thấy mình đang dần sai, mình không mãi sở hữu chân lý, từ đó sẵn sàng một tâm thái chuẩn bị để canh tân.

Tại Iraq, Đức Giáo Hoàng tưởng nhớ Các Vị Tử Đạo Iraq, cho hay bạo lực bất tương hợp với tôn giáo

Nữ ký giả Inés San Martín của tạp chí Crux, ngày 5 tháng 3, khi tường thuật chuyến tông du Iraq của Đức Phanxicô, đã cho hay:

Bên cạnh các bức ảnh của 48 vị tử đạo Iraq, Đức Thánh Cha Phanxicô hôm thứ Sáu đã định nghĩa các ngài như một lời nhắc nhở rằng việc kích động chiến tranh và bạo lực không phù hợp với giáo huấn tôn giáo chân chính.

Trong cuộc họp với các giám mục, tu sĩ và giáo lý viên tại Nhà thờ Đức Mẹ Cứu rỗi ở Baghdad, Đức Phanxicô nói rằng cái chết của các vị tử đạo vào ngày 31 tháng 10 năm 2010, “là một lời nhắc nhở rằng việc kích động chiến tranh và bạo lực không phù hợp với giáo huấn tôn giáo chân chính”.

Đức Hồng Y Louis Sako, người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Chaldean, thúc giục Đức Giáo Hoàng nhanh chóng phong hiển thánh cho họ, nghĩa là công khai thừa nhận rằng 48 người Công Giáo bị 5 kẻ khủng bố sát hại trong Thánh lễ đã bị sát hại vì odium fidei, nghĩa là vì lòng căm thù đức tin.

Hai trong số những vị bị sát hại là các linh mục trẻ, cùng với một số trẻ em và một phụ nữ mang thai.

Đức Hồng Y Sako nói, “Bất kể điều gì đã xảy ra với chúng con và nỗi đau của chúng con, chúng con vẫn kiên trì trong đức tin, sự thanh thản tâm linh và tình liên đới huynh đệ của chúng con, với tất cả các nhà thờ đã cố gắng hết sức trong việc gần gũi với những người bị thương, để giúp đỡ họ và xoa dịu nỗi đau của họ”.

Đức Phanxicô cũng nói rằng ngài muốn tưởng nhớ tất cả các nạn nhân của bạo lực và bách hại, bất kể họ thuộc nhóm tôn giáo nào, điều mà ngài sẽ làm vào thứ Bảy, khi ngài đến thành phố Ur, nơi sinh của Abraham, cha của các tín hữu. Tại đó, Đức Giáo Hoàng sẽ gặp gỡ các nhà lãnh đạo của các truyền thống tôn giáo đang hiện diện ở Iraq, để tuyên bố “xác tín của chúng ta rằng tôn giáo phải phục vụ chính nghĩa hòa bình và thống nhất giữa tất cả con cái của Thiên Chúa”.

Đức Phanxicô nói, “Tối nay, tôi muốn cảm ơn anh chị em đã nỗ lực trở thành những người kiến tạo hòa bình, trong cộng đồng của anh chị em và với tín hữu của các truyền thống tôn giáo khác, bằng cách gieo hạt giống hòa giải và chung sống huynh đệ vốn có khả năng dẫn đến sự tái sinh niềm hy vọng cho mọi người”.

Cuộc tấn công năm 2010 kéo dài hơn bốn giờ, cho đến khi cảnh sát đột kích vào nhà thờ. Tại thời điểm này, những kẻ khủng bố đã tự nổ tung. Chúng không bao giờ được nhận diện chính thức.

Các cha Thaer Saadulla Abdal, 32 tuổi và Waseem Sabih Kas Boutros, 27 tuổi, đã được truyền chức lần lượt vào năm 2006 và 2007, trong cùng một nhà thờ chính tòa nơi họ chịu tử đạo.

Phía sau bàn thờ trên bức ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh bồng Chúa Giêsu là ảnh các vị tử đạo, đứng quanh cây thánh giá màu đỏ, biểu thị máu họ đổ ra. Trên mái nhà và sàn nhà, các ô vuông bằng kim loại và đá granit đánh dấu những nơi tìm thấy thi thể của các vị.

Ở bình diện giáo phận, ở Baghdad, án tử đạo của họ đã kết thúc năm 2019 khi nó được gửi đến Rôma. Trong chuyến bay từ Ý đến Iraq hôm thứ Sáu, Đức Phanxicô đã nhận được một cuốn sách biên soạn câu chuyện về các vị tử đạo này.

Đức Phanxicô nói, Nhà thờ chính tòa được “mang hào quang nhờ máu của các anh chị em của chúng ta, những người, ngay ở đây, đã trả cái giá tối hậu cho lòng trung thành với Chúa và với Giáo hội của Người”.

Ngài nói: “Cầu mong ký ức về sự hy sinh của các ngài sẽ gợi hứng để chúng ta đổi mới niềm tín thác của chúng ta vào sức mạnh của thập giá và sứ điệp cứu rỗi của nó về sự tha thứ, hòa giải và tái sinh. Vì các Kitô hữu được kêu gọi làm chứng cho tình yêu của Chúa Kitô mọi lúc và mọi nơi”.

Đức Giáo Hoàng được chào đón vào một nhà thờ chỉ đầy một nửa để bảo đảm sự gián cách xã hội, nhưng giọng hú réo của các phụ nữ có mặt đã tạo ra cảm giác rằng nhà thờ đã chật cứng. Trước khi vào trong, ngài đã dành vài phút để chào hỏi những người khuyết tật ở cửa ra vào.

Ngài nói, gian khổ là một phần trong kinh nghiệm hàng ngày của các tín hữu Iraq, lưu ý rằng trong những năm gần đây, họ đã phải đối phó với những hậu quả của chiến tranh và bách hại, cũng như sự mong manh của cơ sở hạ tầng cơ bản và cuộc đấu tranh kinh tế “thường xuyên dẫn đến đến những cuộc di tản trong nước và sự di cư của nhiều người, bao gồm các Kitô hữu, đến những nơi khác trên thế giới”.

Đức Phanxicô cũng mời gọi những người có mặt đừng “bị lây nhiễm bởi vi-rút chán nản,” có thể lây lan “khắp nơi xung quanh chúng ta,” vì Thiên Chúa đã ban cho các tín hữu một “liều vắc-xin hữu hiệu” chống lại nó: niềm hy vọng phát sinh từ sự cầu nguyện bền bỉ và lòng trung thành với các việc tông đồ”.

Ngài nói: “Với vắc-xin này, chúng ta có thể ra đi với sức mạnh đổi mới, để chia sẻ niềm vui của Tin Mừng như những môn đệ truyền giáo và những dấu hiệu sống động của sự hiện diện của vương quốc thánh thiện, công bằng và hòa bình của Thiên Chúa”.

Khi nói chuyện với các giám mục, ngài kêu gọi các ngài sống gần gũi với các linh mục của mình, để họ không coi các ngài như những nhà cai trị hay quản lý mà là “những người cha thực sự”, lo lắng cho phúc lợi của các linh mục được giao phó cho các ngài chăm sóc, sẵn sàng hỗ trợ và khuyến khích họ.

Nói chuyện với các linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo lý viên và chủng sinh, ngài kêu gọi họ can đảm và nhiệt thành loan báo Tin Mừng, không bị tiêu hao bởi yếu tố “hành chính” trong các nhiệm vụ của họ, nghĩa là, không dành toàn bộ thời gian cho các buổi nhóm họp hoặc sau bàn làm việc, để thay vào đó đồng hành với các tín hữu.

Ngài nói: “Hãy là những mục tử, đầy tớ của dân, không phải là công chức”.

Tổng hợp án tử đạo của 48 người thiệt mạng trong vụ tấn công khủng bố đã mất hơn 9 tháng để nghiên cứu. Các thông tin về mỗi vị đều khác nhau, và có hai vị mà án tử đạo chỉ có tên và sự hiện diện mà thôi.

Việc Baghdad mất 2/3 dân số Công Giáo trong hai thập niên qua, do họ bị giết hoặc buộc phải chạy trốn, khiến cuộc điều tra trở nên phức tạp hơn. Nhiều thành viên trong các gia đình của những người bị giết, những người thường được phỏng vấn cho án phong thánh, đang sống như những người tị nạn, hoặc không muốn hoặc không thể được nhận diện.

Các nhân chứng đến từ khắp nơi: Lebanon, Pháp, Canada, Úc và cả Baghdad nữa. Hầu hết kể từ đó đã chạy trốn khỏi đất nước của họ, một trong những cái nôi của Kitô giáo. Nhiều người trong số họ nói rằng những kẻ khủng bố, khi bóp cò súng hoặc trước khi kích hoạt thắt lưng chất nổ mà chúng mang theo, đã hét lên “Allahu Akbar”, có nghĩa là “Thiên Chúa vĩ đại”.

Khi quyết định mở án tử đạo, Đức Tổng Giám Mục Yousif Abba, Tổng Giám mục Công Giáo Syriac của Bagdad, đã dự tính chỉ theo đuổi án phong thánh cho hai linh mục, vì Giáo hội đã có đủ thông tin về họ. Nhưng cuối cùng, tất cả đều được bao gồm vì tất cả đều chết vì cùng một nguyên do: Họ đang tham dự Thánh lễ.

Tất cả những người mất mạng đều làm như vậy trong nhà thờ. Nhiều người bị thương nặng và phải nhập viện, nhưng đã sống sót. Ước tính có khoảng 50 người đã ẩn náu trong phòng áo nhà thờ cùng với một linh mục lớn tuổi và một phụ nữ mang thai bị trọng thương trước khi đến nơi ẩn náu an toàn. Một nhóm khoảng 20 người đã tìm thấy nơi ẩn náu ở giếng rửa tội. Họ cũng đã được cứu.

Giới thiệu Giáo hội và đất nước Iraq

Nhân chuyến viếng thăm Iraq của Đức Thánh Cha, Vatican News đã đưa ra một tổng quan về tình trạng Giáo hội và đất nước Iraq.

Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ thực hiện chuyến tông du đầu tiên của một vị Giáo Hoàng đến Iraq từ ngày 5 đến ngày 8 tháng Ba. Chúng tôi xin trình bày một cái nhìn tổng thể về các cộng đồng Kitô Giáo cổ xưa và đa dạng của quốc gia này, hoàn cảnh và những thách đố họ phải đối diện.

Kitô Giáo đã có mặt ở Iraq từ những thời kỳ đầu tiên, như sách Công vụ Tông đồ đã làm chứng. Nguồn gốc của Kitô Giáo tại quốc gia này bắt nguồn từ việc rao giảng của Thánh Tôma Tông đồ và các môn đệ của ngài là Addai và Mari vào thế kỷ thứ nhất sau Chúa Giáng Sinh, kéo dài đến Đông Á. Do đó, theo Kinh Thánh và lịch sử, Iraq là một vùng đất quan trọng đối với tất cả Kitô hữu, những người đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử của Iraq.

Lịch sử bị ngược đãi và phân biệt đối xử

Cộng đồng Kitô Giáo Iraq, ngày nay bao gồm người Chanđê, người Assyriô, người Armenia, người Latinh, người Melkite, Chính thống giáo và người Tin lành, đã bị đánh dấu bởi sự đàn áp và phân biệt đối xử kể từ khi Hồi giáo xuất hiện và thậm chí sau khi Iraq độc lập. Dưới chế độ thế tục của Saddam Hussein, các Kitô hữu đã tìm ra một phương thức cho phép Giáo hội thực hiện các hoạt động của mình, cũng như trong lĩnh vực bác ái. Tuy nhiên, vào thời điểm đó – đặc biệt là sau khi các cuộc chiến tranh liên tiếp bắt đầu vào những năm 1980 – ngày càng nhiều người các tín hữu Kitô Iraq bắt đầu di cư thành lập một số cộng đồng ở nước ngoài.

Những con số lao dốc. Cuộc di cư sau năm 2003 và giữa năm 2014 và 2017

Cuộc di cư lớn nhất xảy ra sau cuộc can thiệp quân sự do Hoa Kỳ dẫn đầu vào năm 2003, do mất an ninh, bạo lực và các cuộc tấn công và đặc biệt từ năm 2014 đến năm 2017, sau khi quân khủng bố Hồi Giáo IS thành lập “Nhà nước Hồi giáo” ở phía bắc Iraq.

Trước Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai, các tín hữu Kitô Iraq ước tính có từ 1 đến 1.4 triệu (khoảng 6% dân số). Kể từ đó, dân số Kitô Giáo đã giảm xuống chỉ còn 300,000 đến 400,000, theo ước tính gần đây nhất của tổ chức tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội Đau Khổ, gọi tắt là ACN.

Từ năm 2003 đến tháng 3 năm 2015, khoảng 1,200 Kitô hữu đã bị giết, bao gồm Đức Tổng Giám Mục Paulos Rahho của tổng giáo phận Mosul nghi lễ Chanđê, người bị sát hại vào năm 2008, 5 linh mục và 48 anh chị em giáo dân bị thánh chiến Hồi Giáo xả súng thảm sát ở Nhà thờ Đức Mẹ Giải Thoát ở Baghdad vào ngày 31 tháng 10 năm 2010 và 62 nhà thờ bị hư hại hoặc phá hủy.

Việc IS chiếm đóng vùng đồng bằng Ninivê, vốn là cái nôi của Kitô Giáo vùng Lưỡng Hà, đã khiến khu vực này của người Kitô Giáo bị xóa sổ theo đúng nghĩa đen. Hơn 100,000 người đã bị buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ cùng với các nhóm thiểu số bị bách hại khác như người Yazidi. Nhiều gia đình trong số này đã tìm thấy nơi ẩn náu trong vùng Kurdistan ở Iraq, cụ thể là ở Ankawa, là khu Kitô Giáo của Erbil, hay trong các trại tị nạn ở Jordan, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ và Libăng, hoặc xin tị nạn ở Âu Châu và các nước khác. Trong những năm gần đây, ít nhất 55,000 Kitô hữu Iraq cũng đã rời Kurdistan. Nhiều nhà thờ và tài sản của Kitô hữu cũng bị phá hủy hoặc hư hại nghiêm trọng. Một phần quan trọng của di sản lịch sử Kitô Giáo đã được Đức Tổng Giám Mục Najib Mikhael Moussa của tổng giáo phận Mosul nghi lễ Chanđê cứu khỏi bị phá hủy. Ngài đã lưu giữ hơn 800 bản thảo lịch sử và vì điều này, vào năm 2020, ngài đã được Liên minh Châu Âu trao tặng Giải thưởng Sakharov.

Tình trạng bất an và chủ nghĩa bè phái là mối đe dọa liên tục đối với những Kitô hữu ở Iraq

Sau thất bại quân sự của Nhà nước Hồi Giáo ở Iraq vào năm 2017, các Kitô hữu Iraq đã dần dần bắt đầu quay trở lại vùng đồng bằng Ninivê, với sự giúp đỡ của Giáo hội hoàn vũ và đặc biệt là của tổ chức tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội Đau Khổ. Ngày nay, gần 45% Kitô hữu của Ninivê đã trở về nhà của họ, trong khi 80% các nhà thờ ở đồng bằng Ninivê đang trong quá trình xây dựng lại, ngoại trừ Mosul, do các vấn đề về giấy tờ hành chính.

Cho đến nay, khoảng 57% các ngôi nhà bị hư hại của các gia đình Kitô hữu trong vùng và nằm trong kế hoạch tái thiết đã được sửa chữa, 35% trong số đó với sự hỗ trợ tài chính của ACN. Tổ chức này cũng đã tạo điều kiện thành lập Ủy ban Tái thiết Ninivê với mục đích khuyến khích các Kitô hữu quay trở lại cộng đồng của họ và bảo đảm cho họ cũng như các nhóm thiểu số khác được bảo vệ.

Tuy nhiên, tình trạng thiếu an ninh và các cuộc quấy rối, đe dọa và các hành động quấy rối liên tục của dân quân địa phương và các nhóm thù địch tiếp tục đe dọa cộng đồng Kitô hữu Iraq, đặc biệt là ở khu vực này. Điều này đã được xác nhận bởi Báo cáo “Cuộc sống sau ISIS: Những thách thức mới đối với Kitô Giáo ở Iraq”, được công bố vào mùa thu năm 2020 bởi ACN, và “Open Doors”, một tổ chức Kitô giúp đỡ những Kitô hữu bị đàn áp trên khắp thế giới. Open Doors cũng đã quảng bá sáng kiến “Trung tâm Hy vọng” ở Iraq.

Khát vọng có đầy đủ quyền công dân ở một Iraq hòa bình và đa nguyên

Tình trạng mất an ninh, bất ổn chính trị, chủ nghĩa bè phái, còn được đi kèm với nạn tham nhũng và khủng hoảng kinh tế, vốn đã trở nên tồi tệ hơn với đại dịch COVID-19, tiếp tục ngăn trở các Kitô hữu quay trở lại hoặc ở lại đất nước mình. Để bảo đảm tương lai của họ ở một Iraq thống nhất và không có thánh chiến, trên hết họ cần được công nhận quyền công dân đầy đủ của mình. Đây là lý do tại sao các Giáo Hội Kitô từ lâu đã khăng khăng đòi một Hiến pháp thế tục và một vai trò tích cực hơn trong đời sống chính trị và xã hội Iraq. Bản Hiến Pháp được thông qua năm 2005 chính thức bảo đảm việc tôn trọng tự do tôn giáo, nhưng Điều 2 lại thực sự xác định Hồi giáo là quốc giáo chính thức và là căn cứ chính yếu để hình thành luật pháp. Hồi giáo tiếp tục là một tôn giáo đặc quyền trong hệ thống Iraq gây bất lợi cho các nhóm thiểu số.

Đức Thượng Phụ Louis Raphaël Sako của Công Giáo nghi lễ Chanđê đã nhiều lần nêu vấn đề này, nhấn mạnh tầm quan trọng của một cuộc đối thoại cởi mở giữa tất cả các bên liên quan để xây dựng một Nhà nước đa nguyên và mạnh mẽ, tôn trọng mọi công dân, bất kể tôn giáo và dân tộc của họ. Điều này cũng được nhắc lại tại Thượng Hội Đồng cuối cùng của Giáo hội Chanđê vào tháng 8 năm 2019, kêu gọi một Nhà nước dựa trên “bình đẳng, công lý, luật pháp” công nhận sự đại diện công bằng cho các Kitô hữu trong các cơ quan chính phủ.

Các Giáo hội Iraq đã tìm thấy sự hỗ trợ về những vấn đề này từ Thủ tướng Mustafa al-Kadhimi. Kể từ khi lên nắm quyền vào ngày 7 tháng 5 năm 2020, ông al-Kadhimi đã nhiều lần bày tỏ mong muốn ngăn chặn cuộc di cư của những người theo Kitô Giáo và lôi kéo họ vào việc xây dựng lại đất nước, nhấn mạnh rằng họ đại diện cho một thành phần quan trọng của xã hội Iraq. Những lời này đã được đi kèm với hành động. Một cử chỉ quan trọng là Quốc hội Iraq gần đây đã tiến hành công nhận Giáng sinh là một ngày lễ chung trên toàn quốc trên cơ sở cố định. Gần đây hơn, ngay cả thủ lĩnh người Shiite là ông Muqtada al Sadr, người đứng đầu Đảng Sadrist đầy quyền lực, đã thể hiện sự sẵn sàng đối thoại với cộng đồng Kitô Giáo Iraq, bằng cách trả lại những tài sản bị các nhóm Shiite đánh cắp trong nhiều năm qua cho chủ sở hữu hợp pháp của họ.

Mối quan tâm của Tòa thánh đối với các Kitô hữu ở Iraq

Hoàn cảnh của các Kitô hữu ở Iraq luôn được Tòa thánh quan tâm đặc biệt, nhất là kể từ sau cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai năm 2003, mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã kịch liệt phản đối, như ngài đã làm vào năm 1991. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 16 tháng Ba, 2003, vị Thánh Giáo Hoàng Ba Lan đã cảnh báo về “những hậu quả to lớn mà một hoạt động quân sự tầm mức quốc tế sẽ gây ra cho người dân Iraq và cho sự cân bằng trong khu vực Trung Đông, và cho các hành động cực đoan có thể xuất phát từ đó”. Đức Giáo Hoàng hoàn toàn nhận thức được những hậu quả mà cuộc xung đột vũ trang lần thứ hai này sẽ gây ra đối với các cộng đồng Kitô Giáo ở Iraq và khắp khu vực.

Việc thành lập Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria vào năm 2014 càng khiến tình hình của họ thêm trầm trọng. Trong bối cảnh này, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã không ngừng nói lên sự gần gũi của mình “với những người Iraq thân yêu”. Mối quan tâm này đã được tái khẳng định bởi Đức Hồng Y Pietro Parolin, nhân chuyến công du tới quốc gia này vào tháng 12 năm 2018. Trong chuyến thăm của mình, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc vượt qua hận thù và bày tỏ lòng biết ơn của Giáo hội đối với chứng tá Kitô của người Iraq mà – ngài nói – đã trở thành “một tấm gương sống động cho tất cả các Kitô hữu trên thế giới”.

Vào ngày 10 tháng 6 năm 2019, trong cuộc họp mặt của các Cơ quan Viện trợ cho các Giáo Hội Đông phương, gọi tắt là ROACO, khi bày tỏ mong muốn đến thăm Iraq vào năm 2020, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại hy vọng rằng Iraq “có thể đối mặt với tương lai thông qua việc theo đuổi lợi ích chung một cách hòa bình và được chia sẻ từ phía tất cả các thành phần của xã hội, bao gồm cả tôn giáo”

Tầm quan trọng của việc duy trì sự hiện diện lịch sử của các tín đồ Kitô Giáo ở quốc gia này và nhu cầu bảo đảm an ninh cho họ và một vị trí trong tương lai của Iraq một lần nữa được nhấn mạnh nhân chuyến thăm chính thức Vatican lần thứ hai của Tổng thống Barham Salih, vào ngày 25 tháng Giêng, 2020, tập trung vào những thách thức mà đất nước phải đối mặt và tầm quan trọng của việc thúc đẩy ổn định và quá trình tái thiết.

Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh về sự cần thiết phải bảo vệ “sự hiện diện của Kitô Giáo” ở Iraq và trong toàn bộ khu vực trong cuộc họp trực tuyến về cuộc khủng hoảng nhân đạo ở Syria và Iraq do Bộ Dịch Vụ Phát Triển Nhân Bản Toàn Diện của Tòa Thánh tổ chức với hàng chục tổ chức phi chính phủ và Công Giáo, vào ngày 10 tháng 12 năm 2020. “Chúng ta phải làm việc để bảo đảm rằng sự hiện diện của Kitô hữu ở những vùng đất này tiếp tục là những gì nó đã luôn là: một dấu chỉ của hòa bình, tiến bộ, phát triển và hòa giải giữa các dân tộc”, Đức Giáo Hoàng đã đưa ra lập trường trên trong một thông điệp video kêu gọi cộng đồng quốc tế khuyến khích sự trở lại của các cộng đồng bị phân tán vì chiến tranh.

Trong bối cảnh đó, việc công bố vào ngày 7 tháng 12 năm 2020 về hành trình tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô đã được Giáo hội Iraq nhiệt liệt hoan nghênh. Chuyến đi của Đức Giáo Hoàng sẽ diễn ra 21 năm sau khi Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bày tỏ mơ ước được đến thăm quốc gia này, nhân dịp hành hương Năm Thánh 2000 của ngài theo bước chân của Tổ Phụ Abraham, Môisê, Chúa Giêsu và Thánh Phaolô. Chuyến đi đã bị hủy bỏ do tình hình chính trị ở Iraq.

Các con số thống kê về quốc gia Iraq

Theo thống kê vào tháng 7, 2020, Iraq có 39,650,000 dân trên một diện tích là 438,317 km2 trong đó có 950 km2 là lãnh hải, xếp thứ 60 trên thế giới. 69.36% dân số sống trong các thành thị và 30.64% sống trong các vùng nông thôn. Tỉ lệ người nhập cư ước tính 1.0% dân số.

Mức độ tham nhũng của các công chức trong bộ máy công quyền (Level of Public Corruption) đứng hàng 166. Để so sánh, các quốc gia có mức độ tham nhũng của các công chức trong bộ máy công quyền cao nhất thế giới, tức là xếp hạng 176 là Bắc Hàn, Yemen, Nam Sudan, và Somalia. Việt Nam đứng hàng 117. Trung Quốc xếp thứ 87.

Trung bình một phụ nữ Iraq có từ 4 đến 5 đứa con.

Số trẻ em không sống quá 5 tuổi lên đến 3.20%

Tuổi thọ trung bình 70 tuổi.

Tỷ lệ biết đọc biết viết là 79.25%

Số người dùng Internet chiếm 11%

Bình quân thu nhập đầu người là 6,500 Mỹ Kim.

Các con số thống kê về Giáo Hội Iraq

Tại Iraq, chúng ta có các Giáo Hội Công Giáo nghi lễ Latinh, Chanđê, Armenia, Syria, và Melkite. Các Giáo Hội Công Giáo nghi lễ Chanđê, Armenia, Syria, và Melkite đều hiệp thông trọn vẹn với Tòa Thánh.

Tổng cộng tại Iraq có 17 giáo phận và tổng giáo phận, trong đó có một tổng giáo phận Công Giáo Latinh ở Baghdad, 10 giáo phận và tổng giáo phận theo nghi lễ Chanđê, bốn giáo phận theo nghi lễ Syria, một giáo phận nghi lễ Armenia, và một giáo phận theo nghi lễ Melkite.

Tổng giáo phận Công Giáo Latinh ở Baghdad do Đức Tổng Giám Mục Jean Benjamin Sleiman, 74 tuổi cai quản bao gồm 3 giáo xứ, với 11 linh mục dòng, 11 linh mục triều, 171 nữ tu và 13 nam tu sĩ không có chức linh mục. Tổng cộng có khoảng 2,500 người Công Giáo.

Theo niên giám 2019 trong đó tính chung tất cả các nghi lễ, tổng cộng có 145 linh mục, 345 nữ tu, 124 giáo xứ. Giáo Hội điều hành 8 bệnh viện Công Giáo.


Source:Vatican News

Iraq: An overview of the Church and of the country’s Christian communities

CÓ CỎ ẨN THÂN

Suy tư:

Một anh ngốc gặp một người thông minh, người thông minh tặng anh ta một cây cỏ và nói:

– “Cây này gọi là cỏ ẩn thân, cầm nó trong tay thì người khác sẽ không thấy anh”.

Anh ngốc cầm cây “cỏ ẩn thân” và lập tức đi vào trong chợ lấy tiền của người khác rồi nghênh ngang mà đi, chủ tiền bắt anh ta đánh cho một trận, anh ngốc la lên:

– “Ông làm sao đánh tôi được vì ông không thấy tôi, bởi vì tôi có cây “cỏ ẩn thân” mà !”

(Tiêu Tán)

Thời đại hiện nay người ta chỉ nghe nói có máy bay tàng hình, tàng hình theo nghĩa kỹ thuật quân sự là con mắt của máy ra đa nhìn không thấy được nó, chứ thật ra nó vẫn bay lù lù ấy mà.

Thời nay “cỏ ẩn thân” thì chỉ có trong những chuyện phim thần thoại và phim khoa học giả tưởng mà thôi.

Thời nay tuy không có “cỏ ẩn thân” để mà đi ăn cắp tiền của người khác, nhưng có một loại “giấy ẩn thân” không những ăn cắp tiền của người dân, mà còn “rút ruột” những công trình lớn nhỏ làm hại quốc gia, làm nghèo đất nước, làm hại cộng đoàn, đó là loại giấy “báo cáo láo”, trong “giấy ẩn thân báo cáo láo” này sự thực thì chỉ có một nhưng lại báo cáo hàng trăm, hàng trăm báo cáo hàng ngàn, hàng ngàn báo cáo hàng triệu.v.v…cứ thế mà báo cáo láo để ăn cắp tiền của người dân, dựa vào “giấy ẩn thân” này để ăn cắp thì cũng sẽ có ngày bị phát hiện, họ là những người ngốc nhất trần gian.

Người Ki-tô hữu tuy không có “cỏ ẩn thân”, nhưng có một nơi ẩn thân kín đáo nhất, kiên cố nhất và an tòan nhất mà ma quỷ và những cám dỗ của nó không làm gì được, đó chính là bí tích Thánh Thể, núp trong tình yêu của Ngài thì ba thù của người Ki-tô hữu là ma quỷ, thế gian và xác thịt làm gì được chứ? Núp trong sự che chở của Chúa Giê-su Thánh Thể thì thế gian làm được gì chứ?

Phúc cho những ai biết ẩn thân trong tình yêu của Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, họ là người khôn ngoan và thông minh nhất trần gian vậy !

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

HÒA THƯỢNG PHÓNG SINH

Con diều hâu truy đuổi con chim sẻ, chim sẻ bay nhảy loạn xạ và chui vào tay áo của hòa thượng, hòa thượng bắt con chim sẻ và nói:

– “A di đà phật, hôm nay ta có thịt ăn rồi”.

Chim sẻ nghe được thì vội vàng nhắm mắt lại không động đậy, hòa thượng nghĩ rằng nó đã chết nên mở tay ra, chim sẻ liền bay mất tiêu.

Hòa thượng nói:

– “A di đà phật, ta phóng sinh cho mày đó !”

(Tiếu Tán)

Suy tư 69:

Người thâm hiểm khi muốn hại ai thì hại cho bằng được, nhưng khi hại không được thì xởi lởi nói lời an ủi cách đạo đức giả, đó là lòng dạ của con chó sói với cô bé quàng khăn đỏ; người đạo đức khi giúp ai thì giúp cho đến cùng, dù cho thất bại vẫn cứ giúp chứ không chê trách người mình giúp, đó là lòng dạ của những người được Thiên Chúa ở cùng.

Con người ta chỉ có một cái lưỡi, nhưng vì tâm hồn ác độc nên một cái lưỡi trở thành hai: uốn cong lên thì nói lời đạo đức giả tạo, uốn cong xuống thì buông lời chửi rủa đủ điều, vì người khác không làm thỏa mãn cái ích kỷ tự tư tự lợi cho mình…

Việc phóng sinh của hòa thượng không phải do lòng thành nhưng là do tâm địa giả dối mà ra, nên dù cho ông ta có phóng sinh cả ngàn con chim sẻ thì vẫn cứ mang nghiệp chướng trong mình.

Người Ki-tô hữu không có “lệ” phóng sinh loài vật, nhưng có một giới răn mới phải tuân giữ đó là yêu thương người thân cận như chính mình, bởi vì khi thực hành đức ái với tha nhân, thì không những chúng ta “phóng sinh” họ phần xác mà thôi, nhưng còn “phóng sinh” phần linh hồn cho họ nữa, nghĩa là họ nhận ra Đ ức Chúa Giê-su trong ngôn hành yêu thương của chúng ta và quy thuận Ngài…

Đó là cuộc “phóng sinh” do Chúa Thánh Thần thúc đẩy giữa một thế giới hổn độn và bất an.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài. csjb.

National Catholic Register: 14 điều người Công Giáo cần biết về bà Kamala Harris

ANIWX5ANFII6VACUFCNO63RYUM

 

Sau khi ông Joe Biden công bố quyết định chọn bà Kamala Harris trong vai trò ứng cử viên phó tổng thống trong liên danh với mình, tờ National Catholic Register trực thuộc hệ thống truyền hình Công Giáo EWTN cho biết Harris là một người phò phá thai và bài Công Giáo đến mức cực đoan.

Dưới đây là 14 điều người Công Giáo cần biết về nhân vật được mệnh danh là “nữ tướng phò phá thai” của Hoa Kỳ.

1. Trong khi phục vụ tại Thượng viện, Harris liên tục được xếp hạng 100% từ Hiệp hội Quốc gia về Bãi bỏ Luật Cấm Phá thai, gọi tắt là NARAL, một tổ chức hô hào phá thai khét tiếng tại Hoa Kỳ.

2. Harris cực đoan đến mức chủ trương mở rộng cái gọi là “nhân quyền về sinh sản” của phụ nữ trong đó cho phép việc phá hủy sự sống trong tử cung trong suốt toàn bộ thời gian mang thai, kể cả tại thời điểm đứa bé sắp được sinh ra.

3. Harris đã đề xuất rằng các tiểu bang có lịch sử hạn chế quyền phá thai cần phải được sự chấp thuận của liên bang trước khi có thể ban hành các luật lệ mới nhằm hạn chế phá thai. Bà ta tuyên bố rằng nếu những biện pháp bảo vệ này không được áp dụng, “phụ nữ sẽ chết” khiến tờ The Washington Post phải tặng cho bà ta bốn “Pinocchios”, tức là bốn nhân vật xạo hết chỗ nói, vì tuyên bố sai trái này. Trong một cuộc tranh luận chính ở Westerville, Ohio, Harris thanh minh thanh nga như sau:

“Có những tiểu bang đã thông qua các dự luật hầu như nhằm ngăn cản phụ nữ tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Và không ngoa chút nào khi nói phụ nữ sẽ chết. Phụ nữ nghèo, phụ nữ da đen sẽ chết vì các cơ quan lập pháp của Đảng Cộng hòa ở nhiều tiểu bang, những người đã mất liên hệ với nước Mỹ đang nói với phụ nữ phải làm gì với cơ thể của họ.”

4. Với tư cách là Bộ trưởng Tư Pháp của California, Kamala Harris đã truy tố các nhà báo phò sinh làm việc cho Trung tâm Tiến bộ Y tế, là những người đã điều tra Planned Parenthood và việc buôn bán các bộ phận cơ thể trẻ sơ sinh bị phá thai, dẫn đến một cuộc điều tra và một cuộc điều trần tại Hạ Viện.

5. Harris cũng đã sử dụng quyền lực của mình với tư cách là Bộ trưởng Tư Pháp để đột kích vào nhà của một trong những nhà báo điều tra nổi tiếng nhất, là anh David Daleiden.

6. Với tư cách là thượng nghị sĩ, Harris ủng hộ dự luật bãi bỏ Tu chính án Hyde, là một biện pháp ngăn chặn nguồn tài trợ liên bang cho việc phá thai và trong lịch sử tu chính án này luôn nhận được sự ủng hộ của cả hai đảng. Harris đã thách thức Biden tại cuộc tranh luận sơ bộ để chọn ra ứng cử viên Tổng thống của đảng Dân chủ vào năm 2019 vì sự ủng hộ lâu năm của ông ta đối với Tu chính án Hyde. Cúi đầu trước áp lực, Biden đã đảo ngược quan điểm của mình vài ngày sau đó.

7. Tại Thượng viện, Harris đã hai lần bỏ phiếu chống lại Đạo luật Bảo Vệ Những Thai Nhi Sống Sót sau một vụ nạo phá thai. Đó là một dự luật yêu cầu các bác sĩ phá thai phải cung cấp dịch vụ chăm sóc tương tự cho những trẻ sơ sinh sống sót sau khi phá thai giống như đối với bất kỳ trẻ sơ sinh nào khác.

8. Năm 2018, trong phiên điều trần của Thượng viện về việc đề cử Brian Buescher làm thẩm phán quận ở Nebraska, Harris đã tấn công Buescher, và cho rằng sự tham gia của anh ta trong Đoàn Hiệp sĩ Kha Luân Bố, là một tổ chức bác ái Công Giáo, khiến anh ta không đủ tư cách phục vụ trong tòa án. Vụ việc này đã khiến toàn bộ Thượng viện phải thông qua đạo luật tố cáo bất kỳ hình thức hạch sách tôn giáo nào đối với các ứng cử viên tư pháp.

9. Brian Buescher không phải là trường hợp duy nhất bị bà Kamala Harris tấn công. Với một lập trường bài Công Giáo kiên định và cực đoan, Harris tìm cách bác bỏ mọi đề cử của Tổng thống Trump liên quan đến người Công Giáo như thể người Công Giáo là có vấn đề, không xứng đáng hay không có khả năng giữ các chức vụ công quyền.

[Chúng ta hãy nhớ lại lời cảnh báo của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger trong Thánh Lễ Khai Mạc Cơ Mật Viện Bầu Giáo Hoàng ngày 18 tháng Tư, 2005.

Ngài nói:

“Có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất.”

Có những kẻ đang mưu toan hình thành một chế độ độc tài như thế. Và nếu chúng thành công, chúng ta lại một lần nữa thấy mình và con cháu mình đứng trước một não trạng phân biệt đối xử với người Công Giáo như chúng ta đã từng phải gánh chịu ở quê nhà khi cộng sản chiếm được Miền Bắc vào năm 1954 và sau đó Miền Nam Việt Nam vào năm 1975.]

10. Ngay khi Dự luật 8 được thông qua vào năm 2008 tại California, nhằm cấm cái gọi là “hôn nhân đồng tính” trong tiểu bang này, Harris công bố chiến dịch của mình cho chức Bộ trưởng Tư Pháp tiểu bang California. Trong khi phục vụ tiểu bang với tư cách là Bộ trưởng Tư Pháp trong sáu năm, Harris không bao giờ bảo vệ lệnh cấm này, bất chấp dự luật đã được ký thành luật. Không những không bảo vệ luật của tiểu bang, bà ta còn vận động cho một phán quyết trong vụ án Hollingsworth kiện Perry để tòa án liên bang làm mất hiệu lực của Dự luật 8 vào năm 2010 để cho phép các kết hiệp đồng giới quay lại ở California.

11. Mặc dù cuộc thăm dò gần đây của công chúng Mỹ cho thấy đa số người Mỹ đồng ý với một số hạn chế về phá thai, Harris khẳng định không nên có bất kỳ hạn chế nào cả, kể cả lệnh cấm phá thai sau 20 tuần tuổi.

12. Vào năm 2015, với tư cách là Bộ trưởng Tư Pháp California, Harris đã giúp hình thành luật được gọi là “Đạo luật về sự kiện sinh sản” buộc các trung tâm trợ giúp các phụ nữ đang mang thai phải đăng các quảng cáo cho các dịch vụ phá thai và đòi tiểu bang California phải cung cấp phá thai miễn phí hoặc chi phí thấp. Hội Đồng Giám Mục Công Giáo tại tiểu bang California phản đối yêu cầu này. Bà ta bị kiện và thua kiện tại Tòa án Tối cao ba năm sau đó.

13. Đạo luật do Harris đồng bảo trợ được gọi là “Đạo luật bình đẳng” vào năm 2018, đặt quyền tự do ngôn luận và bảo vệ lương tâm vào tình thế nguy hiểm. Nó cũng sẽ vô hiệu hóa Đạo luật Khôi phục Tự do Tôn giáo năm 1993, và là một đòn giáng mạnh vào các hoạt động bảo vệ tự do tôn giáo.

14. Harris cũng là đồng tác giả của một dự luật vào năm 2019 được gọi là đạo luật “Không gây hại”, sẽ làm suy yếu các biện pháp bảo vệ hợp lý của Đạo luật Khôi phục quyền tự do tôn giáo. “Đạo luật Không gây hại” cho rằng tự do tôn giáo là “quyền cơ bản của con người”, nhưng, điều đó không thể được sử dụng “làm chiêu bài để phân biệt đối xử”. Chẳng hạn, các sơ Dòng Tiểu Muội Cho Người Nghèo không thể nại đến lý do tôn giáo để không mua bảo hiểm tránh thai vì nó sẽ gây hại cho chính sách bắt buộc mua bảo hiểm tránh thai.