Archive | August 2018

Mẹ Maria có nhận ơn Cứu chuộc của Chúa Giêsu không?

1-Làm sao biết được Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha ở trên trời  ?
2- Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không ?
3- Đức Mẹ có nhận ơn cứu chuộc  của Chúa Kitô hay không?

Trả lời:
1. Trong Kinh Tin Kính Nicene   ( đọc ngày Chúa nhật và các ngày Lễ trọng) và  Kinh Tin Kính của các Thánh Tông Đồ, Giáo Hội đều tuyên xưng  Chúa Giê-su Kitô, “ chết, sống lại,  lên trời và ngự  bên  hữu Chúa Cha”.

Lời tuyên xưng này bắt nguồn từ chính lời Chúa Giê su trả lời cho viên thượng tế  Cai pha và  trước toàn thể thượng Hội Đồng  thương tế , kỳ mục và kinh sư Do Thái họp nhau lại  để tìm cách  buộc tội  Chúa với  án tử hình. Viên thượng tế đã hỏi Chúa  xem có phải Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không.

Chúa đã trả lời như sau:  “ Phải chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người  ngự bên hữu  Đấng  Toàn Năng và ngự  giá mây trời mà đến.” ( Mt 26: 64; Mc 14: 62; Lc 22: 69) Như  thế lời tuyên xưng của Giáo Hội về  chỗ ngồi  của Chúa Kitô, bên hữu  Chúa Cha  trên Nước Trời  có nguồn gốc vững chắc  là chính lời Chúa  Giê su đã  nói và được ghi lại trong các Tin Mừng, như bằng chứng trên đây.

2-Tín điều Đức Mẹ là Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?

Trước khi trả lời câu hỏi này, xin được nhắc lại một lần nữa là vào thế kỷ thứ 4 sau Chúa Giáng Sinh, có một linh mục tên là Arius  thuộc  Tòa Thượng Phụ Alexandria ( Ai Cập) đã lạc giáo ( heretic) khi dạy  rằng Chúa Giê-su Kitô có hai bản tính riêng rẽ là nhân tính( humanity) và thần tính ( Divinity) khi xuống trần gian làm Con Người. Vì thế Đức Mẹ Maria chỉ là Mẹ  của Chúa Giêsu  về phần nhân tính  mà thôi.

Quan điểm lạc giáo này đã  bị Công Đồng Nicaea năm 325  A.D lên án  và bác bỏ hoàn toàn vì đi ngược với niềm tin của Giáo Hội về  sự  đồng nhất bản thể của Ba Ngôi Thiên Chúa ( Trinity) và về hai bản tính không tách rời nhau của Chúa Cứu Thế Giêsu.Nghĩa là,  Chúa Giê-su Kitô là Thiên Chúa thật và là Con Người thật, Chúa vừa có Thần tính ( Divinity) như  Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vừa có nhân tính ( humanity)  như  mọi  con người , và hai bản tính này không hề tách rời nhau.

Arius đã lạc giáo khi cho rằng Chúa Kitô có hai bản tính tách rời nhau, nên Mẹ Maria chỉ là  Mẹ Chúa  Giêsu trong phần nhân tính mà thôi. chứ không thể là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos)  như  các Giáo Phụ  dạy  và Giáo Hội sơ khai  đã tin .Quan điểm sai lầm trên đến đầu thế kỷ thứ  5, (428 A.D) lại được tán đồng  bởi  Thượng Phụ Nestorius thành Constantinople, là người cũng cho rằng Đức  Mẹ chỉ là Mẹ phần xác ( nhân tính) của Chúa Giê su-Kitô để  phủ nhận điều các Giáo Phụ từ thời tiên khởi đã dạy rằng : Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa ( Deipara= Theotokos=  God bearer =Đấng cưu mang Thiên Chúa.

Các Công Đồng Nicaea ( 325) và Ê-phê sô  ( 431) đều lên án tư tưởng lạc giáo của Arius và Nestorius để  khẳng định rằng Chúa Giê-su đồng bản tính ( bản thể= substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Lại nữa, Chúa Kitô có hai bản tính không hề tách rời nhau là nhân tính ( Humanity  và Thiên tính ( Divinity). Do đó, Đức Mẹ là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, nên Mẹ được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa=( Deipara=Theotokos= God bearer)  như Giáo Hội đã dạy không sai  lầm

Sau đây là bằng chứng Kinh Thánh : Khi Đức Mẹ đến viếng thăm người  chị em họ là  bà Ê-i-sa-bét ( Elizabeth), thì bà này đã được  tràn đầy Thánh Thần,  liền kêu lớn tiếng  rằng: “Em được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu của Chúa  ( Mother of my Lord) đến với tôi thế này  Lc 43: 39- 43)

Bà Eli-sa-bét chắc chắn đã được Chúa Thánh Thần soi sáng  nên đã thốt ra những lời  trên để ca tụng Đức Mẹ. Như thế đủ cho thấy Giáo Hội ,từ đầu, đã không sai lầm khi tuyên xưng Đức Trinh Nữ Mara là Mẹ Thiên Chúa, vì  là Mẹ thật của Chúa Giê su-Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, đồng bản tính ( bản thể= Substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi một Thiên Chúa ( Holy Trinity).

Nhưng cho dầu với địa vị cao trọng làm vậy, Đức Mẹ cũng không cao hơn Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng  và họn Mẹ làm Mẹ Ngôi Hai. Cho nên,  Mẹ được tôn kính( veneration) ở mức Hyperdulia trong khi Thiên Chúa được tôn thờ  ( adoration) ở mức Latria trong phụng vụ thánh của Giáo Hội.Nghĩa là chúng ta chỉ phải thờ lậy ( adore), ngượi khen, vinh danh  một mình Thiên Chúa mà thôi, chứ không thờ  lậy Đức Mẹ, mà chỉ tôn kính ( venerate)  Mẹ cách đặc biệt ( hyperdulia) hơn các Thánh nam nữ khác,  được tôn kính ở mức Dulia.Do đó, trong thực hành, người tín hữu phải cầu xin Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhờ Đức Mẹ và các Thánh chuyển giúp cầu thay, chứ không cầu xin Mẹ hay bất cứ Thánh Nam nữ nào như nguồn ban phát mọi ơn phúc.Chỉ có Chúa  là  cội nguồn của mọi ơn phúc mà chúng ta phải cầu xin cho được an vui trong cuộc sống trên trần gian này , và nhất là biết  sống  xứng đáng  là con cái của Cha trên trời để được cứu rỗi nhờ công nghiệp Chúa Kitô và sự  phù giúp đắc lực của Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ  đang  vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.

Lại nữa, khi vào nhà thờ hay nhà nguyện nào, thì  phải bái lậy trong tâm tình thờ lậy  Chúa Giê su đang  hiện diện trong nhà tạm ( Tabernacle) trước khi bái kính  ảnh tượng Đức Mẹ , Thánh Cà Giuse, hay Thánh  nam nữ nào khác.Phải nói điều này vì có một số người, khi vào nhà thờ,  đã chạy ngay đến nơi có thánh thượng Đức Mẹ  để cầu xin mà quên bái quỳ thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện thực sự  trong nhà tạm.

Tóm lại, sùng kính Đức Mẹ là việc đạo đức rất tốt đẹp và đáng khuyến khích cho mọi tín hữu, nhưng đừng quên là trên hết phải thờ lậy Thiên Chúa  là Đấng mà Mẹ Maria cũng phải tôn thờ cùng các Thánh nam nữ và các Thiên Thần, mặc dù Mẹ có địa vị cao trọng là Mẹ Chúa Kitô và cũng là Mẹ Thiên Chúa như Giáo Hội dạy.

3. Mẹ Maria có nhận công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không ?

Theo giáo lý của Giáo Hội, chúng ta phải tin  Mẹ được diễm phúc  thụ thai không mắc tội nguyên tổ ( immaculate Conception) và mọi tội khác  như mọi người trong nhân loại, cũng như được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật  đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần như đã nói ở trên. Nhưng Mẹ không cao hơn Chúa và không cùng một bản thể ( substance) với  Ba  Ngôi  Thiên Chúa, nên Mẹ vẫn phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô  như chính Mẹ đã tuyên xưng như sau:

“ Linh hồn tôi ngượi khen Đức Chúa
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi.…” ( My Savior)
( Bài ca Ngượi khen Magnificat, Lc 1: 46-55)

Thánh  giáo phụ  Irenêô cũng dạy rằng: “ Chính Ngài ( Mẹ Maria) , nhờ vâng phục, đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho chính mình và cho toàn thể nhân loại.” ( LG, số 56)

Vì là Mẹ Chúa Kitô, nên Mẹ được diễm phúc khỏi tội tổ tông và mọi tội cá nhân từ  khi được thụ thai cho đến khi về trời cả hồn xác. Mẹ được sinh ra như  mọi tạo vật khác, trừ đặc ân được  giữ gìn khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi để xứng đáng làm Mẹ  Ngôi Lời nhập thể.

Nhưng việc nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu ,Con của Mẹ, không làm thương tổn địa vị cao trọng của Mẹ là Mẹ Ngôi Hai và là Mẹ Thiên Chúa. Ngược lại, Mẹ đã vinh danh Chúa Cứu Thế  Giêsu khi nhận ơn cứu chuộc của Chúa, vì “ ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh ấy mà được cứu độ.” ( Cv 4 :12)

Như thế khi nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô, Mẹ  đã tôn vinh Chúa là Đấng cứu thế duy nhất đã hòa giải con người với Thiên Chúa qua vâng phục và hy sinh chịu chết trên thập giá năm xưa,  mặc dù Mẹ không có tội lỗi nào cần phải được tha thứ nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa.

Chúng ta cảm tạ Mẹ Maria thật nhiều  vì Mẹ đã “ xin vâng” với Thiên Chúa để làm Mẹ Chúa Cứu Thế Giêsu, và cộng tác với Con của Mẹ trong sứ mệnh cứu chuộc  cho nhân loại khỏi phải chết vì tội. Vai trò của  Mẹ thật quan trọng trong Chương Trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô, Con của Mẹ.

Vậy chúng  ta hãy siêng năng chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ nguyện giúp cầu thay cho chúng ta  được mọi ơn cần thiết của Chúa trong cuộc lữ hành về quê Trời giữa bao khốn khó , gian nan vì cản trở  và đánh phá  của ma quỷ ,  cám dỗ của thế gian với đầy rẫy gương xấu, dịp tội và vì  bản chất yếu đuối nơi mỗi người chúng ta, bao lâu  chusg ta còn sống trong thân xác có ngày phải chết đi này.

Lm. Phanxicô Xaviê  Ngô Tôn Huấn

Người Công Giáo cầu nguyện như thế nào?

Nhiều năm trước, một Cha giáo đã dạy các thầy chủng sinh rằng: “Các con hãy nhớ, các con không được phép nhai kẹo cao su trong khi cầu nguyện.” Một trong các thầy chủng sinh liền hỏi lại: “Thưa Cha, chúng ta có được cầu nguyện trong khi nhai kẹo cao su không?” “Tất nhiên là có”, cha giáo trả lời. Các thầy ngạc nhiên vì làm thế nào để có thể thực hành những hướng dẫn mâu thuẫn này.
Người Công Giáo cầu nguyện như thế nào
Người Công Giáo cầu nguyện như thế nào
Mẩu truyện trên đây muốn nói rằng cầu nguyện vừa là một hành động tự thân vừa là cách thức sống của trọn đời sống con người. Cầu nguyện có khi như một nghi thức, có khi không cần như vậy. Cầu nguyện có khi bằng khẩu nguyện, có khi thinh lặng, có khi là hoạt động, có khi là chiêm niệm. Cầu nguyện là trò chuyện với Thiên Chúa. Giống như chúng ta nói chuyện và chia sẻ với những người bạn tốt nhất của mình về những gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta cũng nói chuyện với Thiên Chúa như vậy. Giống như lắng nghe bạn bè tâm sự, chúng ta cũng lắng nghe Thiên Chúa trong một cách thức tương tự.

Như khi chúng ta giao tiếp với nhau, việc cuộc gặp gỡ của chúng ta với Thiên Chúa cũng được thể hiện bằng nhiều cách thức khác nhau. Chúng ta thân thưa với Thiên Chúa bằng lời nói hay các bài thánh ca; bằng trí tưởng tượng hay bằng chính sự thinh lặng của chúng ta. Chúng ta đến với Thiên Chúa qua một nghi lễ chính thức hoặc bằng sự tự phát nào đó. Chúng ta có thể cầu nguyện trong nhà thờ, trong vườn, trên xe, hoặc ngay cả trong lúc tắm rửa. Chúng ta cũng có thể cầu nguyện trên giường. Khi vừa thức dậy, chúng ta dâng ngày mới cho Chúa và tạ ơn Ngài trước khi đi ngủ. Người Công giáo tin rằng, với ý hướng ngay lành, mọi khoảng khắc của ngày sống – những niềm hy vọng, công việc, niềm vui, những nỗi khổ đau – đều có thể trở thành nội dung rất ý nghĩa cho lời cầu nguyện.

Các tín hữu cầu nguyện theo nhiều cách thức khác nhau. Tuy nhiên, trong sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, Giáo Hội dạy chúng ta ba cách phổ biến nhất như sau.

1. Khẩu nguyện

Khẩu nguyện là thưa với Thiên Chúa tất cả những gì đang xảy ra trong tâm trí chúng ta. Khẩu nguyện có thể đơn giản mà tâm tình như “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì một buổi sáng đẹp trời này.” Đó có thể trang nghiêm như khi cử hành Thánh lễ vào một dịp đặc biệt nào đó. Khẩu nguyện cũng có thể mãnh liệt và cấp bách như lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong vườn Giệt-si-ma-ni: “Xin đừng theo Ý Con, nhưng xin cho Ý Cha được thể hiện.”

Hầu hết các tín hữu đều biết đến những lời cầu nguyện truyền thống từ khi thơ bé. Những lời cầu nguyện truyền thống như kinh Vì Dấu Thánh Giá, kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha, và kinh xin ơn thánh hóa bữa ăn. Đó cũng có thể là kinh Dâng Ngày và kinh trước khi đi ngủ. Theo thời gian, nhiều tín hữu đã học thêm những kinh khác như kinh Hãy Nhớ, kinh Lạy Nữ Vương, kinh Lạy Mẹ Thiên Chúa để cầu nguyện vào mỗi thời điểm thích hợp.

Người Công giáo thường cầu nguyện theo nhóm. Khi hai hay nhiều người tụ họp lại với nhau để dâng trọn tâm hồn mình lên Chúa thì lời cầu nguyện của họ được gọi là lời cầu nguyện chung. Những ví dụ về lời cầu nguyện chung là Kinh Mân Côi, những lời cầu nguyện sùng kính bao gồm cả những bài thánh thi và những lời kinh cầu nguyện, những lời cầu nguyện trong lớp học, và quan trọng nhất là Thánh Lễ. Cùng đứng với nhau đọc kinh Tin Kính trong Thánh lễ (“tôi tin kính một Thiên Chúa, là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất…” là một kinh nghiệm mạnh mẽ vừa diễn đạt vừa định hình Đức tin của chúng ta. Mặc dù chúng ta có thể dâng những lời cầu nguyện tương tự trong suốt cuộc đời của chúng ta, nhưng ý nghĩa của những lời nguyện ấy sẽ lớn lên và thay đổi theo những kinh nghiệm sống của chúng ta. Và chắc chắn kinh Lạy Cha mang ý nghĩa rất khác biệt giữa hai người, một người vừa mới chôn cất cha mình với một đứa trẻ mới chỉ có những kinh nghiệm mơ hồ về Thiên Chúa. Những lời cầu nguyện khẩu nguyện không chỉ là “việc trải qua những cảm xúc,” nhưng chúng là dấu chỉ của một niềm tin sống động trong chúng ta.

Trong Thánh Lễ, cha chủ tế mời gọi mỗi người: “Hãy nâng tâm hồn lên.” Khi chúng ta chân thành đáp lại: “Chúng con đang hướng về Chúa”, thì chúng ta biết rằng chúng ta đang thực sự cầu nguyện, vì đó là lời cầu nguyện – nâng tâm hồn lên Thiên Chúa.

2. Suy Niệm

Suy niệm là suy ngẫm hay phản tỉnh về Thiên Chúa. Khi chúng ta suy niệm, chúng ta giữ cho lòng mình tập trung và hướng về Thiên Chúa để có thể nhận ra sự hiện diện của Ngài trong cuộc sống chúng ta, đồng thời đáp lại những gì Ngài đang mời gọi chúng ta thực hiện. Nhiều thứ có thể giúp chúng ta tập trung và khơi nguồn cho trí tưởng tượng khi suy niệm. Chúng ta có thể sử dụng Kinh Thánh, đặc biệt là Tin Mừng; những lời cầu nguyện truyền thống; những tác phẩm các cha linh hướng; những hình ảnh tôn giáo; hoặc lịch sử. Suy niệm còn được gọi là cầu nguyện phản tỉnh, dẫn chúng ta đến cuộc trò chuyện với Thiên Chúa. Hãy nhớ rằng chúng ta đang ở trước sự hiện diện của Thiên Chúa, chúng ta có thể lắng nghe Ngài nói với chúng ta. Chúng ta bước vào không gian và thời gian thánh thiêng của Thiên Chúa và nhận biết rằng Ngài luôn ở bên chúng ta mọi lúc, mọi nơi.

3. Chiêm niệm

Khi chúng ta đắm chìm vào sự hiện diện của Thiên Chúa trong sự an nhiên tự tại thì chúng ta đang cầu nguyện chiêm niệm. Khi chiêm niệm, chúng ta dành thời gian ở với Chúa trong thinh lặng và ý thức rằng Ngài đang ở bên chúng ta. Để hiểu cách thức chiêm niệm như thế nào, chúng ta có thể so sánh chiêm niệm với việc suy nghĩ hoặc chiêm ngắm một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp. Chúng ta ý thức về tất cả những đang trải nghiệm, nhưng phản ứng của chúng ta là thing lặng. Khi kinh nghiệm về Thiên Chúa một cách cá vị, chúng ta sẽ cảm nhận được tình yêu của Ngài và chờ đợi Ngài nói chuyện với chúng ta theo cách riêng của Ngài. Điều quan trọng là dành thời gian để thư giãn và lắng nghe trong sự hiện diện của Chúa, tìm kiếm sự hiệp nhất với Chúa, Đấng hằng yêu thương chúng ta.

Chuyển ngữ: Pr. Nguyễn Văn Đương, S.J.
(dongten.net 13.08.2018/ loyolapress.com)

ÔNG TRÙM CÓ THỜI GIAN PHỤNG VỤ GIÁO HỘI LÂU NHẤT VIỆT NAM

Đó là ông Laurenso Trần Quang Truyện sinh năm 1946 tại Giáo họ Phúc Hải – Quảng Luận. Hiện tại ông trên cương vị Phó Chánh trương Giáo xứ Cựu Viên – GP. Hải Phòng. Ông tham gia Ban hành giáo từ năm 1977 lúc đó 4 giáo họ khu vực Đa Phúc – Hưng Đạo nhà thờ để hoang bà con giáo dân di cư vào Nam từ năm 1954. Với truyền thống gia đình bên nội, bên ngoại của ông từ các cụ và bố đẻ của ông đã làm Trùm và Phó Chánh trương từ những năm 1920 và đã có công xây dựng nhà thờ khang trang thời đó (Cụ nội xây dựng nhà thờ Phúc Hải; Cụ ngoại xây dưng nhà thờ Quảng Luận)
Ông Laurenso Trần Quang Truyện – Phó Chánh trương GX Cựu Viên
Ông Laurenso Trần Quang Truyện – Phó Chánh trương GX Cựu Viên

Trước sự tàn phá của chiến tranh, lịch sử để lại bà con giáo dân lúc đó không có cha xứ, sự sốt sắng bị phai mờ, nhà thờ thì hoang tàn và đổ vỡ. Đúng là có sự ơn Chúa Thánh Thần đã tác động vào ông và lúc đó ông đang làm công việc địa chính của UBND Xã, nhưng ông vững đức tin ông tham gia ban hành giáo và ông đảm nhiệm trùm trưởng giáo họ và quan tâm 4 giáo họ làng bên. Ông luôn duy trì đọc kinh cầu nguyện vào tối thứ 7 và chủ nhật dù chỉ 4 đến 5 cụ già đọc kinh cầu nguyện và duy trì đọc kinh suốt mua Chay.
Mãi đến năm 1988 lúc đó Đức cha Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương – Giám mục GP. Hải Phòng đã giao 4 giáo họ khu vực Đa Phúc – Hưng Đạo về sinh hoạt ở Giáo xứ Lão Phú do các cha Innhaxio Đoàn Thanh Vững và cha AntonMaria Khổng Minh Số chính xứ. Vừa công việc giáo hội và xã hội ông luôn quan tâm 4 giáo họ và cùng cha xứ sửa chữa nhà thờ và động viên những gia đình gốc công giáo mà họ đã xa Chúa và dần họ cũng trở lại với Chúa cùng nhau xây dựng giáo họ và đi vào cuộc sống phúc âm lời Chúa. Dù công việc đo vẽ bản đồ ruộng đất của Xã rất bận rộn nhưng ông vẫn sốt sắng công việc nhà Chúa rất được các Cha xứ tin tưởng vừa Trùm cả, vừa Phó Chánh trương.

Với sự sốt sắng của ông được bà con giáo dân cũng như lương dân tin yêu và nhờ ông xin ơn, điều đặc biệt có gia đình không phải là người công giáo nhưng họ nhờ ông cầu nguyện xin Chúa ban ơn cho họ có con trai và đã thành hiện thực. Có người thấy ông làm trùm lâu đã yêu cầu ông nghỉ làm trùm họ và ông bàn giao nhưng tưởng rằng công việc nhà Chúa dễ làm ai ngờ người đó làm được nửa khoá đã phải nghỉ vì làm mới hiểu biết hết công việc nhà Chúa là thế nào.  Như Thánh Phaolô thư gởi Côrinhtô 15:58, Phaolô nói phục vụ Chúa là  “hãy làm công việc Chúa”, một lời giải thích ngắn gọn, đơn sơ, dễ hiểu, gợi hình, ai cũng hiểu được. Theo Phaolô, phục vụ Chúa có nghĩa đơn giản là “làm công việc Chúa”. Phaolô nói: “Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa”. Làm công việc Chúa bao gồm nhiều lãnh vực không kể ra hết được. Từ việc dạy dỗ, làm gương cho con cái, đến những việc như giảng dạy lời Chúa, đi nói về Chúa cho mọi người, giúp đỡ đức tin anh em, an ủi khi người gặp thử thách hoạn nạn, dâng hiến thì giờ, tiền bạc cho công việc Chúa, thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ v.v… Tất cả những gì chúng ta làm nhằm tôn vinh Chúa, qui vinh hiển cho danh Ngài, đều là làm công việc Chúa cả.

Cho đến nay hơn 40 năm ông vẫn phục vụ nhà Chuá và cũng đã hơn 70 tuổi nhưng vẫn tích cực tham gia cùng Cha xứ Phaolo Nguyễn Văn Đông – Dòng Thánh Thể, ban hành giáo các giáo họ điều hành các hoạt động của giáo xứ mà không biết bao giờ ông nghỉ. Năm 2000 ông vinh dự được Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II ban Bằng Phép Lành Toà Thánh. Với tâm tình công lao công hiến của ông cho giáo hội giờ con cái của ông đều trưởng thành có gia đình và nhà riêng, bà con dân làng luôn ganh tị và khen ngợi ông được Chúa trả công.

Nguyện xin ơn Chúa và Đức trinh nữ Maria cầu bầu cho ông có được sức khoẻ để tiếp tục phục vụ nhà Chúa và cũng như trên cánh đồng truyền giáo, giáo xứ Cựu Viên chúng con. Amen.

Hà Nội, 17/8/2018

Laurenso Trần Quyết 

6 Lời hứa của Thiên Chúa mỗi Kitô hữu nên biết

Biết và khắc ghi Lời Chúa trong lòng thực sự là điều quan trọng đối với các Kitô hữu. Trong những lúc khó khăn, thử thách và tuyệt vọng, Lời Chúa sẽ đem lại cho chúng ta niềm hy vọng.
6 Lời hứa của Thiên Chúa mỗi Kitô hữu nên biết
6 Lời hứa của Thiên Chúa mỗi Kitô hữu nên biết
Kinh Thánh nhắc nhớ chúng ta rằng với đôi mắt đăm đăm hướng về Chúa Kitô, chúng ta có thể vượt qua bất cứ cơn bão tố nào đến trong cuộc đời chúng ta. Nhiều câu chuyện trong Kinh Thánh bảo đảm cho chúng ta rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta và Ngài luôn đón chào chúng ta trở về dưới cánh tay yêu thương của Ngài.

Đừng để ma quỷ đánh cắp niềm vui và sức mạnh trong Chúa của bạn. Hãy nhớ, hãy khắc ghi những Lời sau đây:

1. Thiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn (Đnl 31, 6)

2. Thiên Chúa sẽ luôn luôn bảo vệ bạn. (2 Tx 3, 3)

3. Thiên Chúa sẽ ban thêm sức mạnh cho bạn từng cuộc chiến. (Is 40: 31)

4. Thiên Chúa sẽ ban cho bạn những ơn cần thiết để chịu đựng mọi đau khổ. (2 Cr 12, 9)

5. Thiên Chúa sẽ tha thứ cho bạn ngay cả khi bạn đã phạm tội chống lại Ngài. (1 Ga 1, 9)

6. Thiên Chúa sẽ không bao giờ ngừng yêu thương bạn. (Ep 3, 17-19)

Lạy Thiên Chúa của con, cậy vào lòng thương xót vô biên và lời hứa vĩnh cửu của Chúa, con hy vọng được Chúa thứ tha mọi lỗi lầm con phạm, được Chúa ban cho ân sủng và đời sống vĩnh hằng của Chúa, nhờ công nghiệp Chúa Giêsu Kitô, là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ của con. Amen!

Tác giả: Becky Roach
Chuyển ngữ: Đaminh Phan Quỳnh, SJ
(dongten.net 11.08.2018/ catholic-link.org)