Archive | February 2018

Tại sao không có nữ linh mục?

Mình ngồi đối diện với một ông bạn vô thần. Ở giữa hai người là hai tách cà phê nóng và một gói thuốc Con Mèo. Cà phê là chồng. Thuốc lá là vợ. Cà phê thì đắng. Thuốc lá thì cay. Cả hai “vợ chồng” tạo ra cảm giác say say và làm cho hai ông bạn “vô-hữu” quấn lấy nhau, dìu nhau vào chuyện đạo, lôi nhau vào chuyện đời, nói mãi không thôi… Bỗng ông bạn vô thần thoọc mình một cái.
Tại sao không có nữ linh mục
– Bộ anh không có vợ thiệt hả?

– Bộ anh không tin thiệt hả?

– Không có vợ thì chịu sao nổi?

– Không nổi thì chìm. Chìm thì chết. Nếu không dám chết, thì phải ráng mà nổi.

– Phải công nhận là các anh tu luyện hay thiệt. Ủa… mà sao trong đạo của anh không có nữ linh mục? Như vậy thì có kỳ thị nữ giới, có phân biệt đối xử không?

– Đạo tôi không kỳ thị nữ giới, nhưng có phân biệt đối xử và chủ trương phải phân biệt để đối xử hợp tình và đúng lý.

– Anh nói gì mà kỳ vậy?

– Thủng thẳng. Uống cà phê và “phì phà” đi, vì chuyện đàn bà đàn ông là chuyện của thế giới, là chuyện của loài người. Mà lịch sử loài người thì dài như vô tận.

* Trước hết, đạo của tôi không kỳ thị nữ giới. Bằng chứng là ông Ađam (người đàn ông đầu tiên) khi thấy Eva (người đàn bà đầu tiên) liền tuyên ngôn như xuất thần rằng: “Đây là xương của tôi, đây là thịt của tôi”. Rồi ông còn tuyên bố y như Quốc Hội công bố luật gia đình rằng: “Từ nay, người nam sẽ giã từ cha mẹ để kết hợp với người nữ. Cả hai chỉ còn là một xương một thịt”. Đức Giêsu khẳng định ý kiến ấy của Ađam là ý trời: “Điều gì Thiên Chúa nối kết, loài người không được phân ly”. Tương quan giữa nam và nữ là thế, thì tuyệt vời rồi. Nếu có kỳ thị nam giới hay nữ giới, thì đó là lạc đạo, là ngoại đạo, là người trong đạo đi lạc ra ngoài đạo.

* Bây giờ thì sang vấn đề phân biệt đối xử. Tôi đã khẳng định với anh rằng đạo của tôi chủ trương phải phân biệt, để đối xử hợp tình và đúng lý. Tôi lý giải dài dòng lắm. Anh cứ uống cà phê và hút thuốc đi.

– Vì phân biệt đối xử, nên cha mẹ bắt con trai đi xúc cát, vác đá… lem luốc xấu xí như quỷ sứ. Trong khi đó con gái quét nhà…, lặt rau… lúc nào cũng mượt mà, điệu đà. Rất hợp tình và đúng lý. Con trai không cự nự. Con gái không vùng vằng.
Tại sao không có nữ linh mục? - Ảnh minh hoạ 2
– Vì VNPT phân biệt đối xử, nên cứ thấy công nhân nam ngồi vắt vẻo trên cột điện, giữa trời nắng đổ lửa. Da thì đen đúa. Mồ hôi thì chua lè. Trong khi đó nữ nhân viên thì ngồi trong phòng lạnh, gõ phím vi tính, đóng mộc trên con tem… khỏe ra. Lúc nào cũng tha thướt. Lúc nào cũng thơm phưng phức. Chẳng ai chống đối. Chẳng ai đòi cào bằng công tác giữa nam và nữ.

– Vì nhà nước phân biệt đối xử, nên trên thao trường đổ lửa và trên chiến trường loang máu chỉ thấy đàn ông con trai. Trùng trùng điệp điệp. Trong khi ấy người nữ ở hậu phương vẫn yểu điệu, vẫn duyên dáng, vẫn tỉa tót… Loài người vẫn đồng ý. Lịch sử vẫn đồng thuận. Không ai đòi cào bằng.

– Vì Tạo Hóa phân biệt đối xử, nên chỉ có đàn bà mang bầu, sanh con và cho con bú. Đàn ông thì cứ ngơ ngơ, chẳng biết gì những việc ấy. Thương vợ ột ệt, nếu đàn ông muốn chia sẻ công tác mang bầu với vợ, thì Trời cũng chẳng cho. Đành đi cày sâu cuốc bẫm, dầm mưa dãi nắng và dâng mồ hôi nước mắt cho “xương của tôi và thịt của tôi”. Lịch sử hai triệu năm của loài người vẫn thành hình như thế. Rất êm ả. Đàn bà không chống đối. Đàn ông không đòi đổi công tác.

Tôi nói lòng vòng như vậy đó. Anh chịu chưa?

– Chưa. Anh đánh trống lảng sang chuyện khác rồi. Vấn đề là “Tại sao không có nữ linh mục?”, mà anh không hề đá động tới.

– Có đá rồi, nhưng chưa động tới thôi. Bây giờ thì…
Tại sao không có nữ linh mục? - Ảnh minh hoạ 3
1. Từ xưa tới nay chưa có nữ linh mục. Tại sao?

– Có người bảo rằng vì Đức Giêsu tuyển chọn 12 người đàn ông làm Tông đồ. Còn người nữ chỉ tháp tùng đoàn truyền giáo thôi.

Quả thật Đức Giêsu đã tuyển chọn đoàn Tông đồ toàn là đàn ông. Nhưng Người không hề bảo rằng đàn bà không được làm Tông đồ. Cũng như Người chỉ chọn 12 Tông đồ. Con số 12 dường như có một ý nghĩa quan trọng lắm, nên sau khi đoàn chỉ còn 11 vị, thì Thánh Phêrô yêu cầu bổ sung cho đủ 12. Nhưng không phải vì thế mà Giáo Hội không được phép có hơn 12 giám mục.

Đức Giêsu tuyên bố ơn gọi của Người là đi loan báo Tin Mừng. Suốt đời truyền giáo, Người “đi” chứ không “ở”. Nhưng không phải vì thế mà ngày nay ta không được xây nhà thờ, chủng viện và nhà xứ.

2. Hiện nay đang có một số người đòi hỏi phải có nữ linh mục. Họ còn đấu tranh và cho rằng nếu không cho người nữ làm linh mục thì Giáo Hội kỳ thị nữ giới và đi ngược với phong trào đòi “nam nữ bình quyền”.

Theo ý kiến của tôi, thì vấn đề không phải là “người nữ không được làm linh mục” mà là “người nữ có nên làm linh mục hay không?. Hoặc “chức năng linh mục có phù hợp với phụ nữ hay không?”.

Tại sao không có nữ linh mục? - Ảnh minh hoạ 4
Hiến Chương Quốc Tế Nhân Quyền cũng như Hiến Pháp Việt Nam không hề cấm nam giới làm giáo viên mẫu giáo mầm non. Nhưng trong thực tế chẳng có giáo viên tu mi nào muốn làm nghề ấy. Không phải vì họ không “được làm” mà vì họ sợ không thể “làm được”.

Xin đơn cử một ví dụ: anh là nữ linh mục. Vào đúng 24 giờ: trời tối om om; mưa rơi lất phất; đường làng vắng hoe. Có một cú điện thoại: “Mời mẹ sở đi kẻ liệt gấp. Ông Mỗ đang hấp hối. Xe ôm đang chờ mẹ ở cổng nhà xứ…”. Tôi hỏi thiệt anh, nếu anh là nữ linh mục, anh có dám xách đồ đi ngay không? Nếu anh không đi ngay, thì anh có thi hành chức năng linh mục không?

3. Trong tương lai, có thể có nữ linh mục không? Hãy để tương lai trả lời. Nhưng vẫn phải trung thành với nguyên tắc: “Phải phân biệt để biết đối xử cho hợp tình và đúng lý” và “không được kỳ thị nữ giới cũng như nam giới”. Con người là mẫu số chung, là căn bản. Còn nam hay nữ, màu da hay tiếng nói chỉ là chuyện phụ. Tất cả chỉ là một trong Đức Giêsu Kitô.

Tạp bút của Lm. Piô Ngô Phúc hậu

Thánh Antôn đã chiến đấu với ma quỷ như thế nào?

Thánh Antôn Viện Phụ (cũng gọi là Antôn Ai Cập, Antôn Cả hay Antôn tu rừng) đã được Tin Mừng gợi hứng để bán đi tất cả tài sản và sống một cuộc đời cô tịch trong sa mạc Ai Cập. Ngài thiết lập một cư sở cho mình biệt lập khỏi thế giới, nhưng lại không thể thoát hoàn toàn khỏi các kẻ thù ngoan cố nhất.
Thánh Antôn đã chiến đấu với ma quỷ như thế nào
Bởi vì Thánh Antôn là một người rất thánh thiện và gần gũi với Thiên Chúa, ma quỷ không ngừng tung mọi chiêu nó có ra để chống lại Thánh nhân. Nó không thể dụ dỗ ngài bằng của cải trần thế, thì nó tấn công ngài về tinh thần lẫn thể xác. Thánh Athanasiô đã ghi nhận lại một vài cuộc đối đầu như thế.Sau khi cám dỗ ngài đam mê tiền của thất bại, ma quỷ xui khiến một người đàn ông trẻ đến phá rối Thánh Antôn suốt ngày suốt đêm. Tuy thế, sau mỗi cuộc cám dỗ, Thánh nhân đều thanh tẩy bản thân bằng đức tin, cầu nguyện và chay tịnh.

Thất bại làm cho Thánh nhân mất thanh tịnh, ma quỷ giả dạng làm một cậu trai trẻ và đến hàn huyên cùng ngài. Thánh Antôn nói với nó: “Mày thật là hèn hạ, vì tâm địa mày u tối, còn mày thì yếu đuối như một đứa con nít. Tao sẽ không có vấn đề gì với mày đâu, vì Chúa là Đấng phù trợ tao, và tao sẽ chẳng thèm để ý đến kẻ thù tao làm chi.”

Ma quỷ để ngài yên một thời gian, nhưng không lâu sau nó lại quay lại cám dỗ quyết liệt, với nhiều quỷ hơn. Quỷ dữ thậm chí còn hiện ra và đánh đập thân xác Thánh Antôn, để khiến ngài sợ mà quay lại với thế giới bên ngoài. Kiên định trong đức tin, Thánh Antôn quát mắng ma quỷ: “Tao là Antôn, tao ở đây; tao không chạy trốn mày đâu, cho dù mày có tấn công tạo nhiều hơn, thì cũng chẳng gì có thể chia tách tao khỏi tình yêu của Đức Kitô… Cho dẫu có cả quân đoàn được lập ra để chống tao, tao cũng không sợ.”

Sau mỗi lần ngài bị ma quỷ đánh đập, Thánh Antôn lại được củng cố trong đức tin và được Thiên Chúa đến an ủi. Về sau, ngài dạy các môn đệ của ngài cách đánh bại ma quỷ: “Hãy bảo vệ chính mình bằng dấu Thánh giá, và cứng rắn xao lãng đi, để chúng nó tự chơi với nhau.” Lúc khác, ngài dạy: “Nhưng chúng ta phải sợ hãi những gợi ý của chúng, và tránh đi bằng kinh nguyện, chay tịnh và tin tưởng vào Chúa. Các tấn công của chúng sẽ thất bại ngay.”

Trong bất cứ cơn cám dỗ nào ta đối mặt, Thánh Antôn luôn dạy rằng: đức tin, cầu nguyện, chay tịnh, và dấu Thánh giá là đủ để đánh bại lưới dò của quỷ dữ. Ma quỷ rất mạnh mẽ, nhưng các Thánh luôn luôn và luôn luôn chứng minh rằng nó không hề và không thể nào đối địch nổi với những ai đặt trọn tin tưởng nơi Thiên Chúa toàn năng.

Theo Aleteia
Gioakim Nguyễn lược dịch

Người Công giáo ở Hàn Quốc cam kết chấm dứt nói xấu

Chiến dịch ba tuần nhằm loại bỏ sự càu nhàu để làm thăng tiến ‘cuộc sống với lòng biết ơn, niềm hân hoan và hy vọng’
Người Công giáo ở Hàn Quốc cam kết chấm dứt nói xấu

Giáo dân Nhà thờ Donam ở Hàn Quốc bắt đầu chiến dịch “chấm dứt nói xấu” hôm 28-01 thể theo lời đề nghị của Cha chủ quản Sebastian Joo Kyung-soo.

Mọi người đeo chiếc vòng nhiều màu sắc ở cổ tay và đọc lời cam kết: “Người có đức tin Công giáo phải thể hiện tấm gương tốt cho người khác. Từ nay trở đi, tôi nguyện không nói xấu, không càu nhàu, không chửi tục và sống đời sống biết ơn, vui vẻ và hy vọng”.

Chiến dịch tuân theo hướng dẫn trong thư mục vụ của Đức hồng y Andrew Yeom Soo-jung với chủ đề “Đức tin kết trái qua tình yêu”.

“Không chỉ trợ giúp người khác về vật chất mà còn đem đến hạnh phúc và hy vọng bằng lời nói đẹp hàng ngày, đó cũng là cách thể hiện tình yêu với người khác. Khi nói chuyện với nhau là lúc mọi người cũng thi hành chiến dịch”, cha Joo nói.

“Cho dù là người lãnh đạo hay người có đức tin vững chắc, nếu ông hay bà luôn nói xấu hay càu nhàu thì điều đó phủ nhận những điều tốt đẹp của mình. Khi trong đầu mình lưu lại những sự việc tiêu cực thì ‘niềm hân hoan sống’ không được nảy nở”, Đức Thánh cha Phanxicô từng nhấn mạnh.

Các giáo dân cam kết chấm dứt nói xấu trong vòng 21 ngày. Nếu ai không giữ lời thì sẽ đổi chiếc vòng đeo tay sang tay kia và bắt đầu lại 21 ngày tiếp. Những ai thành công sẽ được cấp chứng nhận và cờ hiệu của Thánh Patrick, thánh bổn mạng của giáo xứ, như là phần thưởng.

Cha Joo nói: “Đức Thánh cha Phanxicô từng nói rằng ‘Những ai loại trừ được tật nói xấu thì đã trên đường nên thánh’. Qua chiến dịch, tôi hy vọng giáo dân Nhà thờ Donam trở thành một cộng đồng sống với lòng biết ơn, niềm hân hoan và hy vọng”.

 

Nguồn tin: UCAN

 

Quý độc giả của Hội Cứu Mạng Thai Nhi có thể tham khảo link Anh Ngữ ở đây:

https://www.ucanews.com/news/south-korean-churchgoers-stop-bad-mouthing/81393

 

Bí Tích Thánh Thể giúp bước vào sự hiệp thông với Chúa và có cuộc sống đời đời

ĐTC Phanxicô đã nói như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi gặp gỡ chung sáng thứ tư hàng tuần hôm qua. Giải thích đoạn Phúc Âm thánh Gioan chương 6 viết rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”, ĐTC cho biết ngài bắt đầu một loạt giáo lý mới về Bí Tích Thánh Thể, là trọng tâm của cuộc sống Giáo Hội. Kitô hữu cần phải hiều biết rõ ràng giá trị và ý nghĩa của Thánh Lễ để luôn sống một cách tràn đầy hơn tương quan của mình với Thiên Chúa. Nêu bật tầm quan trọng của Thánh Lễ ĐTC nói:

Chúng ta không thể quên con số lớn lao tín hữu kitô trên toàn thế giới trong hai ngàn năm lịch sử, đã kháng cự tới chết để bênh vực Thánh Thể, và biết bao nhiêu người cả ngày nay nữa  liều mạng sống để tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật. Vào năm 304 dưới thời hoàng đế Diocleziano bắt đạo, có một nhóm kitô hữu ở Bắc Phi đã bị bắt thình lình trong khi họ đang cử hành Thánh Lễ trong một căn nhà. Trong cuộc hỏi cung quan tổng tài Roma hỏi họ tại sao lại làm điều đó, khi biết nó bị cấm triệt để. Họ đã trả lời: “Không có Chúa Nhật chúng tôi không thể sống được”, có nghĩa là nếu chúng tôi không thể cử hành Thánh Thể, chúng tôi không thể sống, cuộc sống kitô của chúng tôi sẽ chết.

 

Thật thế, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ Ngài rằng: “Nếu anh em không ăn thịt Con Người và không uống máu Người, anh em không có sự sống. Ai ăn thịt Ta và uống Máu ta thì có sự sống vĩnh cửu và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,53-54).

 

Các kitô hữu Bắc Phi này đã bị giết vì cử hành Thánh Thể. Họ đã làm chứng rằng người ta có thể khước từ cuộc sống trần gian vì Thánh Thể, bởi vì Thánh Thể trao ban cho chúng ta sự sống đời đời, bằng cách khiến cho chúng ta thông phần vào chiến thắng của Chúa Kitô trên cái chết. Đây là một chứng tá gọi hỏi chúng ta tất cả, và đòi một câu trả lời liên quan tới ý nghĩa việc từng người trong chúng ta tham dự Hy tế Thánh Lễ và tiến tới Bàn Thánh của Chúa.

 

** Chúng ta đang tìm về suối nguồn “vọt lên nước hằng sống” cho cuộc đời vĩnh cửu, khiến cho cuộc sống chúng ta trở thành một hy lễ tinh thần của việc chúc tụng và tạ ơn, và làm cho chúng ta trở thành một thân thể duy nhất với Chúa Kitô. Đó là ý nghĩa sâu xa của Thánh Thể, có nghĩa là tạ ơn. Thánh Thể, Eucaristia, có nghĩa là tạ ơn: tạ ơn Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần, lôi cuốn chúng ta và biến đổi chúng ta trong sự hiệp thông tình yêu của Ngài.

 

Trong các bài giáo lý tới tôi sẽ trả lời vài câu hỏi quan trọng liên quan tới Thánh Thể và Thánh Lễ, để tái khám phá ra  hay khám phá ra qua mầu nhiệm này của đức tin tình yêu của Thiên Chúa rạng ngời như thế nào.

 

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC nói: Công Đồng Chung Vaticăng II đã được linh hoạt một cách mạnh mẽ bởi ước mong dẫn đưa các kitô hữu tới chỗ hiểu biết sự cao cả của đức tin và vẻ đẹp của việc gặp gỡ Chúa Kitô. Vì thế trước tiên, với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, cần hiện thực một việc canh tân Phụng vụ thích hợp, bởi vì Giáo Hội liên tục sống nhờ Thánh Thể và canh tân nhờ Thánh Thể.

 

Có một đề tài chính mà các Nghị Phụ đã nhấn mạnh đó là việc đào tạo phụng vụ cho các tín hữu, là điều không thể thiếu đối với một việc canh tân đích thực. Và đây cũng chính là mục đích của loạt bài giáo lý chúng ta bắt đầu hôm nay: lớn lên trong việc hiểu biết ơn cao cả Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể. ĐTC định nghĩa Thánh Thể như sau:

 

Thánh Thể là một biến cố tuyệt diệu trong đó Chúa Giêsu Kitô, sự sống của chúng ta, hiện diện. Tham dự Thánh Lễ “là sống một lần nữa cuộc khổ nạn và cái chết cứu chuộc của Chúa. Đó là một sự hiển linh: Chúa hiện diện trên bàn thờ để được hiến dâng cho Thiên Chúa Cha cho ơn cứu độ của thế giới” (Bài giảng Thánh Lễ, Nhà trọ Thánh Marta, 10-2-2014). Chúa ở đó với chúng ta, Ngài hiện diện. Nhưng biết bao lần chúng ta đến đó, chúng ta nhìn các sự việc, chúng ta nói chuyện bép xép với nhau, trong khi linh mục cử hành Thánh Thể… Nhưng chúng ta không cử hành gần Ngài. Nhưng đó là Chúa!

 

Nếu hôm nay tổng thống Cộng hoà hay vài nhân vật rất quan trọng trên thế giới đến đây, thì chắc chắn là mọi người chúng ta sẽ gần gữi ông, sẽ đến chào ông. Nhưng hãy nghĩ coi: khi bạn đi tham dự Thánh Lễ, có Chúa ở đó! Thế mà bạn lại lo ra, quay qua quay lại… Đó là Chúa! Chúng ta phải nghĩ tới điều này! “Thưa cha, vì các thánh lễ nhàm chán quá! – “Mà bạn nói gì thế, rằng Chúa là nhàm chán à!” – “ Không, không. Thánh Lễ không, các linh mục thì có”. Ôi, ước chi các liinh mục hoán cải, nhưng mà Chúa ở đó nhé! Anh chị em đã hiểu chưa? Xin đừng quên điều ấy! Tham dự Thánh Lễ “là sống một lần nữa cuộc khổ nạn và cái chết cứu chuộc của Chúa”

 

** Giờ đây chúng ta hãy đặt cho mình vài câu hỏi đơn sơ. Thí dụ, tại sao ta làm dấu thánh giá và có cử chỉ sám hối ở đầu Thánh Lễ? Một câu hỏi. Và ở đây tôi muốn mở một dấu ngoặc. Anh chị em đã trông thấy các em bé làm dấu thánh giá như thế nào chưa? Bạn không biết chúng làm gì, không biết đó là dấu thánh giá hay hình vẽ gì. Chúng làm như thế này này… Mà phải học chứ, phải dậy cho trẻ em làm dấu thánh giá hẳn hoi, và Thánh Lễ bắt đầu như vậy, cuộc sống bắt đầu như vậy, ngày sống bắt đầu như vậy. Điều này có nghĩa là chúng ta được cứu chuộc với thập giá của Chúa.  Anh chị em hãy nhìn các trẻ em và dậy chúng làm dấu thánh giá hẳn hoi. Và các bài đọc trong Thánh Lễ, tại sao chúng ở đó. Tại sao ngày Chúa Nhật có ba bài đọc và các ngày khác lại chỉ có hai bài đọc thôi? Tại sao chúng ở đó? Bài đọc Thánh Lễ có ý nghĩa gì? Tại sao lại đọc chúng, chúng có liên quan gì?  Hay tại sao tới một lúc nào đó vị linh mục chủ sự buổi cử hành nói: “Hãy nâng tâm hồn lên?”. Ngài không nói hãy giơ điện thoại di động lên để chụp hình nhé! Không. Đây là điều xấu! Và tôi xin nói, tôi rất buồn khi cử hành Thánh Lễ tại quảng trường này hay trong Đền thờ và trông thấy biết bao nhiều điện thoại di động giơ lên, không phải chỉ các tín hữu, mà cả vài linh mục và cả giám mục nữa. Tôi xin anh chị em. Thánh Lễ không phải là một cuộc trình diễn: đó là việc đi gặp gỡ cuộc khổ nạn, sự phục sinh của Chúa. Chính vì thế linh mục mới nói: “Hãy nâng tâm hồn chúng ta lên!”. Điều này có nghĩa là gì? Xin anh chị em hãy nhớ: không phải giơ điện thoại di động lên đâu nhé!

 

Thật rất quan trọng trở về với các nền tảng, tái khám phá ra điều nòng cốt, qua điều chúng ta sờ mó và trông thấy trong việc cử hành các Bí Tích. Lời tông đồ Tôma xin (x.Ga 20,25) được trông thấy và sờ vào các vết đanh trên thân xác Chúa Giêsu, là ước mong, trong một cách thức nào đó có thể “sờ mó” Thiên Chúa để tin nơi Ngài. Điều thánh Tôma xin Chúa là điều chúng ta tất cả cần đến: đó là trông thấy Chúa và sờ mó Chúa và có thể nhận biết Ngài. Các Bí Tích đáp trả lại đòi hỏi ấy của con người. Các Bí Tích, và một cách đặc biệt việc cử hành Thánh Thể, là các dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa, là các con đường đặc ân giúp chúng ta gặp gỡ Ngài.

 

Như thế, qua các bài giáo lý, mà hôm nay chúng ta bắt đầu, tôi muốn cùng anh chị em tái khám phá ra vẻ đẹp dấu ẩn trong việc cử hành Thánh Thể,  và một khi được vén mở nó trao ban ý nghĩa tràn đầy cho cuộc sống của từng người trong chúng ta. Xin Đức Mẹ đồng hành với chúng ta trên đoạn đường mới này.

 

** ĐTC đã chào các đoàn hành hương đến từ Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Libăng, nhất là các bạn trẻ trường Fénelon-Sainte-Marie Paris. Ngài cũng chào các nhóm đến từ Niu dilen, Philippines, Nam Hàn, Canada và Hoa Kỳ. Trong các nhóm nói tiếng Đức ngài chào ca đoàn thiếu nhi nhà thờ chính toà Limburg. Trong các đoàn hành hương đến từ Tây Ban Nha và châu Mỹ Latinh ĐTC chào đặc biệt phái đoàn các tỉnh trưởng Argentina. Ngài cũng chào tín hữu nói tiếng Bồ Đào Nha cách riêng tín hữu giáo phận San Angelo.

 

Chào các đoàn hành hương Ba Lan ĐTC nói Chúa Nhật tới đây HĐGM Ba Lan và hiệp hội Trợ Giúp Giáo Hội đau khổ cử hành Ngày liên đới với Giáo Hội bị bách hại để trợ giúp tinh thần và vật chất cho các kitô hữu vùng Trung Đông. ĐTC cám ơn sáng kiến này và nói: ước chi các lời cầu nguyện và các dâng cúng của anh chị em là một trợ giúp cụ thể và là dấu chỉ của mối dây nốt kết mọi người đau khổ trên thế giới nhân danh Chúa Kitô. Ngài cũng chúc mừng ban biên tập và các thính giả của Đài phát thanh Katowice mừng 90 năm thành lập.

 

Trong số các tín hữu Italia ĐTC đặc biệt chào các tham dự viên các Hội nghị quốc tế của các cha Biển Đức hiến sinh và các nữ tu Cát Minh, cũng như các sư huynh Lasan tham dự khoá huấn luyện tại Roma, và các thừa sai dòng Ngôi Lời tham dự khoá canh tân. Ngài cầu chúc chuyến hành hương Roma củng cố sự hiệp thông của họ với sứ vụ đại đồng của người Kế vị thánh Phêrô. ĐTC cũng chào nhiều đoàn hành hương giáo xứ và các nhóm cầu nguyện Fatima và Lộ Đức tỉnh Afragola, cộng đoàn trị liệu Fanelli di Castellamare di Stabia, và nhóm các công nhân trẻ tuổi.

 

Chào các bạn trẻ, người đau yếu và các đôi tân hôn ngài cầu mong họ lớn lên trong chứng tá kitô cả khi phải sống trong các hoàn cảnh khó khăn; người đau yếu biết dâng mọi khổ đau cho Chúa để yểm trợ biết bao kitô bị bách hại, và các cặp vợ chồng mới cưới biết tín thác nơi sự trợ giúp của Chúa trong cuộc sống gia đình.

 

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành toà thánh ĐTC ban cho mọi người

 

(Linh Tiến Khải, RadioVaticana 08.11.2017)

11/9/2017 8:47:21 AM

Giáo dân học hỏi Kinh Thánh: Việc cần làm ngay!

Woman-Praying-with-Bible

Giáo dân học hỏi Kinh Thánh không phải là một điều mới mẻ. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Công đồng Vaticanô II đã tuyên bố trong Hiến Chế về Mặc Khải, Dei Verbum: “Thánh Công Đồng ân cần và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, nhất là các tu sĩ, hãy đạt đến ‘sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh. ‘Thật vậy, không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô’. Vì thế họ phải siêng năng tìm đến với chính bản văn Kinh Thánh, hoặc nhờ Phụng vụ thánh chứa đựng dồi dào Lời Chúa, hoặc nhờ những lớp học hỏi thích hợp và những phương tiện khác hiện đang được phổ biến khắp nơi với sự chuẩn nhận và quan tâm của các vị Chủ Chăn trong Giáo Hội” (DV 25). Như thế, đối với Công Đồng, việc học hỏi Kinh Thánh là việc của mọi Kitô hữu, của mọi giáo dân. Giáo dân được mời gọi tiếp xúc với chính bản văn Kinh Thánh, qua tham dự phụng vụ Lời Chúa, qua việc đọc Lời Chúa riêng tư, hay qua việc tham dự các khóa học và qua những phương tiện truyền thông khác.

Giám mục là người có nhiệm vụ dạy cho các tín hữu “biết sử dụng cho đúng các Sách Thánh, nhất là Tân Ước và đặc biệt là các sách Tin Mừng” nhờ đó họ có thể “tiếp xúc với Lời Chúa cách an toàn và ích lợi, và thấm nhuần tinh thần Kinh Thánh” (DV 25). “Đọc và học hỏi Sách Thánh” là lời khuyên cuối cùng và quan trọng của Hiến Chế Mặc Khải (DV 26).

Trong Tông Huấn Lời Chúa, Verbum Domini (2010), Đức Bênêđíctô XVI nhắc lại nhiệm vụ này khi nói về Lời Chúa và giáo dân: “Giáo dân cần được đào tạo để biết biện phân ý muốn Thiên Chúa nhờ một cuộc sống thân tình với Lời Thiên Chúa, Lời được đọc và được học hỏi trong Giáo Hội, dưới sự hướng dẫn của các vị Mục tử hợp pháp” (VD 84). Ngài đòi “chúng ta phải giúp người trẻ có sự tín nhiệm và thân quen với Kinh Thánh, để Kinh Thánh trở thành như chiếc la bàn chỉ cho biết con đường phải theo” (VD 104). Đức Bênêđíctô còn nhấn mạnh đến việc “cần phải chuẩn bị chu đáo các linh mục và giáo dân để họ có thể dạy dỗ Dân Thiên Chúa tiếp cận Kinh Thánh một cách chân thực” (VD 73). Ngài cũng nói đến việc giáo dân có thể được học tại các trường dạy Kinh Thánh, hay được giáo phận huấn luyện (VD 75 và 84).

Theo cùng một đường hướng như trên, Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, Evangelii Gaudium (2013) cũng khẳng định: “Việc học hỏi Kinh Thánh phải là một cánh cửa rộng mở cho mọi tín hữu” (EG 175). Đối với Ngài, người loan báo Tin Mừng cần có sự thân mật với Lời Chúa. Bởi đó Ngài kêu gọi: “các giáo phận, giáo xứ và các hội đoàn Công giáo tổ chức các cuộc học hỏi nghiêm túc và thường xuyên về Kinh Thánh, đồng thời khuyến khích các cá nhân và cộng đoàn đọc Kinh Thánh với tâm tình cầu nguyện” (EG 175).

Tại sao phải học hỏi Kinh Thánh?

Có thể nói Giáo Hội Công giáo từ hơn 50 năm nay đã không ngừng muốn cho mọi giáo dân có cơ hội học hỏi Kinh Thánh dưới nhiều hình thức. Phải nhìn nhận rằng đây không phải là điều dễ dàng. Người Công giáo Việt Nam quen đọc kinh lần chuỗi và thực hành những hình thức đạo đức khác. Có người giáo dân nghĩ rằng việc học Kinh Thánh là điều khó, là việc dành riêng cho các linh mục tu sĩ, chính vì thế họ sợ tiếp cận với Sách Thánh. Có người không thấy hứng thú khi đọc Lời Chúa, nên cuốn Tân Ước vẫn nằm yên một chỗ. Có nhóm thích chia sẻ Lời Chúa, nhưng lại không thấy cần tìm hiểu xem bản văn Lời Chúa thật sự muốn nói gì.

Kinh Thánh là Lời của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã lấy sách Đệ-nhị-luật để nói với tên cám dỗ trong hoang địa: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3). Người Công giáo chẳng những được nuôi bằng bàn tiệc Mình Chúa mà còn bằng bàn tiệc Lời Chúa nữa (DV 21). Thiếu một trong hai, là đặt mình trong tình trạng thiếu thốn. Chúng ta đã có nhiều hình thức biểu lộ sự kính trọng đối với Bí Tích Thánh Thể như dọn mình rước lễ, rước kiệu hay chầu Mình Thánh Chúa. Điều đó là tốt, nhưng Công Đồng Vaticanô II nhắc chúng ta: “Giáo Hội đã luôn luôn tôn kính Kinh Thánh như đã tôn kính chính Thánh Thể Chúa” (DV 21). Làm sao bày tỏ sự tôn kính đối với Kinh Thánh nếu không phải là cầm lấy sách Thánh mà đọc, nghiền ngẫm, tìm hiểu ý nghĩa, cầu nguyện với sách Thánh bằng cách suy niệm hay chiêm niệm, và cuối cùng là thực hành Lời Chúa? Có người bảo nếp sống đạo của người Việt còn hời hợt, hình thức, chưa có bề sâu, chưa có nền vững. Điều đó có đúng không? Dựa vào Công Đồng, ta có thể tìm thấy câu trả lời: “Toàn thể việc rao giảng trong Giáo Hội cũng như chính nếp sống đạo của người Kitô hữu phải được Kinh Thánh nuôi dưỡng và hướng dẫn” (DV 21). Chúng ta đã quá quen với câu này: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118,105), nhưng quả thật nhiều người Công giáo ở Việt Nam vẫn còn xa lạ với Lời Chúa.

Để thân quen với Lời chúa, chúng ta cần dành thời gian để học hỏi. Kinh Thánh là một bộ sách cổ, được viết trong nhiều thế kỷ. Ngay bộ Tân Ước cũng đã cách xa chúng ta gần hai ngàn năm. Các tác giả Sách Thánh là những người Do-thái sống trong những thời đại lịch sử khác nhau, sống trong nền văn hóa, xã hội và phụng tự khác chúng ta. Chính vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi gặp những đoạn văn khó hiểu và thậm chí gây sốc trong Kinh Thánh. Vô tri bất mộ, để có “lòng yêu mến nồng nàn và sống động đối với Kinh Thánh” (Hiến Chế về Phụng Vụ số 14) người giáo dân cần học hỏi không ngừng qua các bài dẫn nhập, các sách chú giải, và những khóa học.

Đứng trước sự kiện thời nay xuất hiện nhiều giáo phái phổ biến một cách đọc Kinh Thánh lệch lạc và lèo lái, Đức Bênêđíctô cảnh báo: “Ở đâu các tín hữu không trau dồi cho mình một sự hiểu biết Kinh Thánh phù hợp với đức tin của Giáo Hội và dựa trên Truyền Thống sống động của Giáo Hội, thì ở đó người ta để lại một khoảng trống rỗng mục vụ, là nơi mà các thực tại như các giáo phái có thể gặp được một vùng đất mầu mỡ để bám rễ” (VD 73). Nói cách khác, để tránh bị lôi kéo bởi các giáo phái lầm lạc, phải học Kinh Thánh một cách chính thống trong Giáo Hội.

Khi mừng lễ Ngôi Lời của Thiên Chúa mang lấy thân xác yếu đuối của con người, chúng ta cũng mừng Lời của Thiên Chúa được nói với chúng ta bằng ngôn ngữ loài người để chúng ta có thể hiểu được. Dù ngôn ngữ loài người có nhiều giới hạn và khiếm khuyết, nhưng bộ Kinh Thánh chúng ta đọc và học hỏi vẫn có thể đưa chúng ta đi vào cuộc gặp gỡ và trò chuyện thân tình với chính Thiên Chúa, nhờ đó có sức sống ở đời này và ơn cứu độ đời sau.

(dongten.net 21.01.2018)