Archive | January 2017

Tân Tổng thống Trump đặt tay trên Kinh Thánh tuyên thệ nhận chức

WASHINGTON DC – Buổi lễ diễn ra trang nghiêm, theo đúng nghi thức. Nhiều gương mặt tiêu biểu đã hiện diện tại buổi lễ Tuyên thệ nhậm chức như các lãnh đạo đảng Cộng hòa là ông Paul Ryan và Kevin McCarthy… Có sự hiện diện của cựu tổng thống Mỹ thứ 39 Jimmy Carter và vợ, tổng thống Mỹ thứ 43 George W. Bush, vợ chồng cựu ứng viên tổng thống Mỹ đảng Dân chủ Hillary Clinton. Các thành viên trong gia đình ông Trump cũng có mặt đầy đủ.

Sau khi các quan chức chủ chốt, lãnh đạo tôn giáo phát biểu, đặc biệt có ĐHY Dolan của TGP New York, ông Mike Pence bước lên bục để tuyên thệ nhậm chức phó tổng thống. Tiếp đó, ông Trump tuyên thệ nhậm chức tổng thống trên cuốn Kinh thánh đặt trên tay của đệ nhất phu nhân Melina.

Tân TT Trump nhắc lại theo lời của chánh án: “Tôi, Donald Trump, trịnh trọng tuyên thệ rằng tôi sẽ đảm đương vị trí tổng thống Mỹ một cách trung thành, và sẽ làm hết khả năng để giữ gìn, duy trì và bảo vệ hiến pháp Mỹ. Chúa giúp đỡ tôi”.

Trong bài phát biểu ngay sau lễ tuyên thệ, Tổng thống Trump khẳng định sẽ “chiến đấu không ngừng nghỉ” để bảo vệ nước Mỹ và sẽ không để người dân Mỹ thất vọng. Ông sẽ làm cho biên cương Hoa Kỳ được an tòan, lo tu bổ đường xá gia thông, mang lại công ăn việc làm cho thợ nhà máy, tận diệt quân khủng bố… Dân chúng Hoa Kỳ sẽ không còn bĩ bỏ quên nữa, và ông tuyên bố: “Các bạn sẽ không bao giờ bị làm ngơ nữa”.

Ông Trump kết thúc bài phát biểu bằng lời hứa đã trở thành thương hiệu: “Biến nước Mỹ vĩ đại trở lại”.

Tổng thống Donald Trump đọc lời thề khi đặt tay trên cuốn Kinh Thánh của gia đình ông và cuốn Kinh Thánh của cố Tổng thống Abraham Lincoln. Chánh Hoa Kỳ John Roberts chủ sự nghi lễ tuyên thệ chop tân Tổng thống Trump.

Ông Alex Stroman, Phó giám đốc truyền thông cho Ủy ban nhậm chức lần thứ 58, khẳng định cuốn Kinh Thánh của Abraham Lincoln được sử dụng trong lễ nhậm chức đầu tiên của tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, gần đây nhất là trong nghi lễ nhậm chức đầu tiên và thứ hai của Tổng thống Obama. cuốn Kinh thánh này giữ tại bộ sưu tập của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.

Cuốn Kinh Thánh của TT Trump, là món qùa mẹ ông đã tặng ông vào năm 1955 sau khi ông tốt nghiệp Trường Tiểu học Giáo lý Chúa Nhật tại New York. Trong một đọan video trước đây ông Trump nói: “Mẹ tôi đã cho tôi Kinh Thánh này từ nhiều năm trước. Trong thực tế, đây có chữ viết của mẹ tôi ngay tại đây. Mẹ viết tên và địa chỉ của tôi, và điều này rất đặc biệt với tôi”. Ông Trump một tín đồ thuộc Giáo Hội Presbyterian, đã nói rằng Kinh Thánh cuốn sách yêu thích của mình, và ông cũng thường xuyên nhắc tới sự kiện này trong các chiến dịch tranh cử.

Việc đặt tay trên Kinh Thánh trong nghi lễ tuyên thệ không phải là đòi hỏi đối với Tổng thống Hoa Kỳ, nhưng đó là một truyền thống trong lễ nhậm chức tổng thống bắt đầu bởi TT George Washington, theo như bà Allison Brown cho biết, một nhà văn Oklahoma dựa trên và biên tập cho Bảo tàng của Kinh Thánh.

Tổng thống đầu tiên George Washington của nước này đã tuyên thệ nhậm chức trên Kinh Thánh đặt tại bàn thờ Nhà họp phái Masonic. Ít nhất bốn vị tổng thống khác đã sử dụng cuốn Kinh thánh mà thường được gọi là bản ấn hành King James, nay được gọi là Kinh Thánh Washington. “TT Washington đã rất ý thức rằng ông đã thiết lập một tiền lệ với tất cả mọi thứ ông đã làm”, bà Brown nói.

Bà Brown cũng phát biểu rằng: Làm lời tuyên thệ trên Kinh Thánh hoặc trên một thứ đồ vật gì quan trọng khác là một hành động cổ xưa. Nó là biểu tượng cho quyền bính, tầm quan trọng và tính trung thực cho những lời tuyên thệ của người tuyên thệ.

Hiến pháp Hoa Kỳ chỉ nói rằng tổng thống mới đắc cử phải thề hay xác nhận lời tuyên thệ tổng thống của chức vụ mình đảm nhận. Nó không đề cập đến Kinh Thánh hay một cuốn sách khác. Vì vậy, một số Tổng thống khác cũng đã chọn một cái gì đó khác hơn là cuốn Kinh thánh Kitô giáo, và một số cũng không dùng thứ gì cả. Tổng thống thứ sáu là John Quincy Adams, một luật sư, đã tuyên thệ trên một cuốn sách pháp luật. TT Teddy Roosevelt đã không sử dụng một cuốn sách sau vụ ám sát William McKinley; và TT Lyndon B. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức trên một cuốn sách lễ Công Giáo Roma tìm thấy trên chiếc Air Force One sau khi TT John F. Kennedy bị ám sát.

Người Công Giáo ăn Tết như thế nào?

 

16179215_650688138452311_4902524112497364468_o

 

Từ xưa đến nay, người Việt vẫn có quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 tết thầy”. Vẫn giữ được phong tục đẹp đó, tuy nhiên, với người Công giáo thì còn thêm cả việc kính nhớ và cầu nguyện cho linh hồn tổ tiên trong những ngày đầu năm.

Không có tục xông đất, những người Giáo dân đón năm mới theo một cách rất riêng. 4h sáng ngày mùng 1 Tết, mặc cho cái lạnh buốt giá rét khắc nghiệt của miền Bắc, tất cả giáo dân Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình) đều dậy rất sớm và có mặt tại nhà thờ để tham dự buổi lễ đầu tiên trong năm mới. Dư âm vui vẻ đón thời khắc giao thừa vẫn còn cộng thêm sự hứng khởi của buổi sớm đầu năm khiến ai ai cũng tới nhà thờ trong tâm trạng ngập tràn niềm vui.

Thời khắc tham dự buổi lễ sớm này đối với người Công giáo vô cùng đặc biệt vì đây chính là giây phút họ muốn dành cho những điều cao trọng nhất. Ngoài ý nghĩa muốn dâng lên cho Thiên Chúa những giây phút đầu tiên trong năm mới thì buổi lễ sớm mùng 1 Tết còn là dịp để tất cả con cháu dâng lời cầu nguyện xin cho linh hồn ông bà tổ tiên sớm được về nơi Thiên Đàng. Đây cũng chính là thời điểm để mọi người gặp gỡ, chúc tụng nhau những điều tốt đẹp, may mắn và an lành. Bởi vậy, có thể nói rằng, đây chính là một trong những buổi lễ mang nhiều ý nghĩa nhất trong đời sống Kitô giáo.

Nếu như những người không theo đạo Công giáo coi tục hái lộc, xông đất đầu năm rất quan trọng thì với những giáo dân, việc tham dự buổi lễ này là một hành động mang ý nghĩa rất quan trọng. Khi tham dự buổi lễ này, các giáo dân cũng được rút lộc tại nhà thờ. “Lộc” ở đây chính là những lời Chúa mang ý nghĩa tốt lành, các giáo dân sẽ mang “Lộc” này về để tại vị trí trang trọng trong nhà, coi đó như là lời dạy của Chúa về cách sống trong năm mới.

tet-cong-giao-1.jpg

Một trong những “lộc xuân” mà mỗi người Giáo dân sẽ “hái”
và lấy đó làm câu thực hành cho mình trong suốt năm mới.

Không tới thăm mộ của tổ tiên vào Tiết Thanh Minh, người Công Giáo có riêng một ngày lễ để nhớ tới những người đã khuất, đó chính là ngày “Nhận Tiên Nhân” thường diễn ra vào ngày mùng 3, 4 Tết. Vào ngày này, các con cháu trong gia tộc bao gồm dâu rể nội ngoại tụ họp tại đất Thánh (nghĩa địa) để sửa sang mộ phần cho ông bà cha mẹ. Không có quan niệm “trần sao, âm vậy” nên thay vì gửi xuống ông bà tổ tiên những vật dụng tiện nghi như quần áo, vàng mã, nhà cửa… thì các giáo dân gửi tới tổ tiên mình những lời cầu nguyện để cầu mong các linh hồn sớm được tha thứ những tội lỗi đã phạm trên trần gian để được về nơi Thiên Đàng.

tet-cong-giao-2.jpg

Cả dòng họ tập trung về nghĩa địa, sửa sang mộ phần cho tổ tiên
và cùng đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn ông bà sớm về Thiên Đàng.

Theo niềm tin Công giáo, 2 người đi tới hôn nhân là do ý định của Thiên Chúa và được Người chúc phúc. Chính vì được Thiên Chúa kết hợp nên hai người này sẽ mãi mãi là vợ chồng và cuộc hôn nhân của họ mang tính bền vững. Cũng vì mang ý nghĩa tốt đẹp này nên đôi vợ chồng mới cưới bao giờ cũng nhận được nhiều lời chúc phúc nhất. Cái Tết của họ sẽ được gọi là “Tết mới”. Trong “Tết mới”, cả hai vợ chồng sẽ cùng nhau mang “lễ vật” đi chúc Tết những bậc cao tuổi và người thân trong dòng họ.

Lễ vật ở đây chỉ đơn giản là chiếc bánh chưng xanh và chai rượu, những đồ vật thể hiện thành quả của sự lao động. Người được chúc Tết cũng sẽ nhận lễ vật của đôi vợ chồng mới cưới nhưng sau đó họ sẽ trao lại cho cặp tân lang tân nương. Đồng thời, đôi vợ chồng mới sẽ được mừng tuổi, đồng tiền ở đây không quan trọng nhiều hay ít mà nó mang ý nghĩa đặc biệt: mong hai vợ chồng có vốn làm ăn để xây dựng một tổ ấm mới.

Thuý – một nàng dâu mới theo đạo, lần đầu tiên dự cái Tết Công giáo tại nhà chồng tâm sự rằng “Tôi đã rất lo lắng và bỡ ngỡ vì những gì tôi nghĩ về cái Tết ở nhà chồng thật khác biệt. Tuy nhiên, mấy ngày Tết ở đây rất đặc biệt và cũng là một trải nghiệm thú vị. Đây là lần đầu tiên tôi biết đến “Tết mới”, cũng là lần đầu tiên được mừng tuổi dù đã lớn đến thế này”…

Có thể nói rằng, dù đón Tết theo những cách rất riêng và đặc biệt, cái Tết của người Công giáo mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng. Tết không chỉ là thời gian để mọi người cùng nghỉ ngơi, gặp gỡ, chúc tụng nhau những điều an lành trong năm mới. Tết còn là thời điểm để người Công giáo thể hiện chữ Hiếu của mình với ông bà tổ tiên, là lúc những đôi vợ chồng mới cưới nhận thấy rằng cuộc hôn nhân của mình quan trọng và ý nghĩa thế nào. Thiết nghĩ, đây cũng chính là những nét đẹp ý nghĩa đóng góp vào sự đặc sắc của văn hoá dân tộc…

Mai Tân, Khampha.vn

Sứ điệp Lộ Đức và Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm

Biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức đã đạt tới cao điểm của nó vào ngày 25.3.1858, vào ngày Lễ Truyền Tin(1), ngày Đức Mẹ tự giới thiệu: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai!” Đó là lần thứ 16 trong 18 lần Đức Mẹ hiện ra cùng thiếu nữ Bernadette Soubirous ở hang núi Massabielle, miền Nam Pháp.
vr3.jpg
1. Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội

Biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức đã đạt tới cao điểm của nó vào ngày 25.3.1858, vào ngày Lễ Truyền Tin(1), ngày Đức Mẹ tự giới thiệu: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai!” Đó là lần thứ 16 trong 18 lần Đức Mẹ hiện ra cùng thiếu nữ Bernadette Soubirous ở hang núi Massabielle, miền Nam Pháp.

Thánh địa Lộ Đức, nơi Đức Mẹ đã hiện ra với thánh nữ Bernadette năm 1858

Quả vậy, trước câu hỏi của Bernadette: “Thưa Mademoiselle, xin cô vui lòng cho con biết cô là ai?”, Đức Maria đã mở rộng hai tay ra hướng về trái đất. Sau đó Đức Mẹ lại chấp hai tay trên ngực, ngước mắt lên trời và nói bằng thổ ngữ địa phương của vùng đó vào lúc bấy giờ: “Que soy era Immaculada Councepciou” – Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai! Và Bernadette – tuy đã 14 tuổi, nhưng chưa rước lễ lần đầu và hầu như chưa học giáo lý gì cả – không hề hiểu được câu nói của “Madame trắng” kia. Dĩ nhiên khi đi xem lễ các ngày Chúa Nhật, Bernadette chắc chắn đã được nghe nói về ơn Vô Nhiễm Thai của Mẹ Thiên Chúa, nhưng em không hiểu được các bài giảng bằng tiếng Pháp. Hơn nữa, ý niệm “Vô Nhiễm Thai” đối với em cả là một điều bất khả tri giống như mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi vậy.

Sau biến cố hiện ra của Đức Mẹ, Bernadette đã phải nhắc đi nhắc lại câu nói “Que soy era Immaculada Councepciou” cho Vị Linh mục Quản Xứ của em cũng như các cơ quan chính quyền, nhưng đối với em câu nói đó cũng giống như một câu bùa chú, không thể hiểu được. Cha Peyramale, vị Quản Xứ lúc bấy giờ, rất ngạc nhiên về kiểu nói khác thường này, vì lúc bấy giờ người ta thường chỉ nói “sự vô nhiễm thai của Đức Maria” hay “Đức Maria vô nhiễm”, chứ không một ai xưng tụng Đức Mẹ bằng tước hiệu “Đấng Vô Nhiễm Thai” cả. Chỉ về sau vị Quản Xứ mới hiểu ra được rằng kiểu nói đó là một minh chứng hùng hồn cho sự tinh tuyền tuyệt đối của Mẹ Thiên Chúa và việc Mẹ được cưu mang không hề vương vấn tội nguyên tổ. Chính tính chất đặc biệt của câu nói “Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai” đối với vị Quản Xứ – người vào lúc đầu hoàn toàn nghi ngờ về tính cách chính xác của việc Đức Mẹ hiện ra – đã trở thành luận cứ cho sự khả tín của sứ điệp trời cao, bởi vì bé gái thị kiến chưa đủ khả năng để hiểu được câu nói khó hiểu và bất bình thường đó.

Sứ điệp Lộ Đức gắn bó chặt chẽ với đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Mẹ, mà trước đó bốn năm – năm 1854 – đã được ĐTC Piô IX long trọng công bố thành tín điều. Như vậy, qua lời tự nhận mình là Đấng Vô Nhiễm Thai, Đức Mẹ đã gián tiếp chuẩn y quyền giáo huấn vô ngô của Đức Giáo Hoàng Roma, mà Công đồng chung Vatican I vào năm 1870 đã khẳng định như một giáo huấn bó buộc. Đức Piô XII trong Thông điệp dịp kỷ niệm 100 năm biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, đã cho rằng: “Chắc chắn lời phán quyết vô ngộ của Đức Giáo Hoàng Roma, của Đấng diễn giải chính thức của chân lý mặc khải, không cần đến sự chuẩn y của trời cao hầu trở thành có giá trị cho đức tin của các tín hữu. Nhưng dân Kitô giáo và các chủ chăn của mình đã cảm thấy vô cùng xúc động và biết ơn khi câu trả lời của trời cao được phát ra trên môi miệng Bernadette: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai!”

Nhưng lý do nào đã khiến Mẹ Thiên Chúa – qua biến cố hiện ra với Bernadette vào ngày 25.3.1858 – chuẩn y tín điều đã được Đức Piô IX công bố?

2. Sự diễn biến lịch sử của tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm

Ở đây chúng ta không bàn về sự can thiệp của trời cao, nhưng chúng ta chỉ dựa theo lý do về lịch sử các tín điều và về tình trạng tinh thần đặc biệt vào giữa thế kỷ 19. Chúng ta có thê bắt đầu với một cái nhìn vào sự phát triển có tính cách lịch sử của định tín. Thật ra chưa có một tín điều nào đã phải trải qua một thời gian nghiên cứu và đầy tranh cãi lâu như tín điều Vô Nhiêm Thai của Đức Maria. Nguyên tắc nền tảng của tín điều là sự mặc khải được dựa trên sự liên kết chặt chẽ của Mẹ Thiên Chúa với chương trình cứu độ của Đức Kitô.

Theo “Tiền Phúc Âm” – (Protoevangelium), thì Thân Mẫu Đấng Messia là kẻ thù của “con rắn” (St 3,15) và vì thế Người không bị đặt dưới quyền lực của ma quỷ qua tội nguyên tổ được. Trong lời truyền tin của Thiên thần, Đức Mẹ đã được xưng nhận là Đấng đầy ơn phúc (x. Lc 1,28), Đấng được chính Thiên Chúa kén chọn để giao cho sứ mệnh làm Mẹ Con Một của Người. Từ nền tảng Kinh Thánh này, các thánh Giáo Phụ đã tuyên xưng Đức Mẹ ngay từ thế ký II là “Êvà mới” bên cạnh Đức Kitô, A-dong mới. Đức tin và sự vâng phục của Đức Mẹ đã quân bình được điều Eva gây ra do sự bất phục tòng của bà. Sự công bố long trọng tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa” tại Công đồng Ephesus năm 431 đã kêu mời sự tin nhận Đức Maria là Đấng “hoàn toàn tinh tuyền” và Đấng “hoàn toàn thánh thiện”.

Từ thế kỷ VI, Giáo Hội mừng kính Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời – xuất phát từ phía đông đế quốc Roma – Nhờ vào sự liên kết đặc biệt của Người với công trình cứu chuộc của Đức Kitô, Đức Maria không thể bị rơi vào vòng hư nát của thể xác phàm nhân, mà tội A-dong đã gây ra. Sự so sánh Êvà-Maria, lời ngợi khen Mẹ Thiên Chúa và việc cử hành việc Đức Mẹ được rước về Trời là nền tảng cho sự phát biểu về nguồn gốc thánh thiện của Đức Maria trong Giáo Hội Đông Phương. Bằng chứng thứ nhất về tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được tìm thấy trong một bài giảng của Đức Giám Mục Theotechnus thành Livias (ngày nay thuộc nước Gio-đan) vào thế kỷ thứ VI(2).
LoDuc-Bernadette.jpg

Thiếu nữ Bernadette (14 tuổi) đã được nhìn thấy Đức Mẹ

Trong khi đó ở Tây phương, lời phát biểu của thánh Augustinô (429) lại mang tính cách khác. Khi phát biểu về Đức Maria, thánh nhân không muốn đề cập đến vấn đề tội lỗi, mặc dù quan điểm thánh nhân về vấn đề tội nguyên tổ nơi Đức Maria cũng không “tích cực” lắm(3). Từ thế kỷ VIII, Giáo Hội Đông Phương theo lễ nghi Hy Lạp mừng Lễ Đức Mẹ được cưu mang trong cung lòng thánh nữ Anna vào ngày 9 tháng 12. Từ thế kỷ XI Lễ này cũng được bắt đầu mừng ở Tây Phương theo lễ nghi La-tinh, khởi đầu từ Anh Quốc. Đan sĩ Eadmer thuộc Dòng Biển Đức, một học trò của thánh Anselm Canterbury (Tk. XII), là nhà thần học đầu tiên đã đề cập rõ ràng về sự thụ thai hoàn toàn không vướng mắc nguyên tội của Mẹ Thiên Chúa.

Trong khi đó, đa số các nhà thần học thời Trung cồ, đặc biệt thánh Tôma Aquinô và thánh Bonaventura, đã không đồng ý quan điểm như thế về Vô Nhiễm Thai của Đức Maria, nhưng cho rằng Đức Mẹ đã được thánh hóa ngay lập tức khi được cưu mang trong cung lòng thân mẫu Mẹ, vì theo các ngài, là một thành phần nhân loại, Đức Maria cũng cần sự cứu rỗi của Đức Kitô. Nghĩa là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi nào đó, Đức Maria cũng vướng mắc tội nguyên tổ.

Điểm đột phá thần học rõ ràng và dứt khoát nhất về đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Maria là do Duns Scotus (+1308), nhà thần học người Anh thuộc Dòng Phan-xi-cô, phát động. Ông dựa trên tư tưởng “tiền cứu rỗi”, qua đó Đức Maria – nhờ vào công nghiệp cứu chuộc của đức Kitô trong tương lại – đã hoàn toàn được gìn giữ khỏi nguyên tội ngay trước khi Mẹ được thụ thai.

Dựa vào thế giá thánh Tôma Aquinô, các nhà thần học Dòng Đa-minh đã trong một thời gian dài gắt gao chống lại sự xác tín lan tràn rộng rãi trong Giáo Hội chủ trương rằng Đức Mẹ đã được thụ thai mà không hề vương vấn nguyên tội; vì theo họ, nếu chủ trương như thế thì Đức Mẹ không được hưởng ơn cứu độ của Đức Kitô. Nhưng ngay trong hàng ngũ các thầy Dòng Đa-minh con số những người ủng hộ quan điểm “Immaculata Conception” mỗi ngày mỗi tăng. Từ thế kỷ XIV, các phân khoa thần học của các đại học danh tiếng ở Âu Châu – khởi đầu từ đại học Sorbonne ở Paris (Pháp), cũng như đại học Köln, Mains (Đức) và Wien (Áo), v.v… – chỉ cấp văn bằng đại học cho những sinh viên đồng thuận với giáo huấn Đức Mẹ Vô Nhiễm. Sự định nghĩa có tính cách tín lý về sự Vô Nhiễm Thai của Đức Maria đã được đề xuất trong Công đồng Basel năm 1439, nhưng về sau vì không được đa số các nghị phụ đồng ý nên Đức Giáo Hoàng tuyên bố vô hiệu lực. Nhưng từ thế kỷ XV trở đi, các Đức Giáo Hoàng đều cổ vũ mỗi ngày một hơn việc tổ chức mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Do đó, vào năm 1708, Đức Clemens XI đã cho mừng khắp nơi trong toàn Giáo Hội. Dĩ nhiên, Sách Lễ Dòng Đa-minh có bản văn riêng, và trong đó ghi: “sự giải thoát của Đức Maria khỏi nguyên tội sau khi linh hồn được phó vào trong thể xác”. Nhưng cuối cùng, vào năm 1842, câu văn này hoàn toàn bị loại bỏ. Bề Trên Cả Dòng Đa-minh xin phép cho Dòng của ngài cũng được mừng kính Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm cùng với toàn thể Giáo Hội.

Về phía Tòa Thánh luôn luôn ủng hộ sự xác tín phổ cập trong Giáo Hội về đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Maria. Đức Giáo Hoàng Sixtus IV nghiêm cấm tất cả những chống đối cho rằng giao huấn về sự Vô Nhiễm Thai của Đức Maria là lạc đạo. Còn thánh Giáo Hoàng Piô V, một thầy Dòng Đa-minh, cấm đưa giáo huấn ra bàn cãi một cách công khai, ngoại trừ ở các đại học. Năm 1661 Đức Giáo Hoàng Alexandre VII đã ban hành một Sắc Chỉ nêu lên những yếu tố quan trọng, như một chuẩn bị cho định tín năm 1854.

Vào đầu thế kỷ XIX tín điều vẫn còn bị chống đối nơi một số người thuộc phái Jansénistes (phái Khắc Khổ) ở Pháp, bởi vì theo họ thì sự phát triển thần học của Giáo Hội đã được khép lại với thời thượng cổ (thánh Augustinô). Phái Jansénistes ngày xưa cũng có thể so sánh với một số các nhà thần học ngày nay đã giới hạn việc phát triển các tín điều lại trong thiên niên kỷ thứ nhất mà thôi. Nhưng đại đa số trong Hội đồng Giám Mục Đức và các phân khoa thần học trong vùng lãnh thổ nói tiếng Đức – dĩ nhiên không hẳn vì lý do đại kết Kitô giáo – đã tỏ thái độ hoàn toàn lạnh nhạt với khuynh hướng của các nhà thần học đó.

Bởi vậy, khi giáo sư thần học Georg Hermes (đh. Köln/Đức) và các học trò của ông tuyên truyền sự hoài nghi về đặc sủng vô nhiễm thai của Đức Maria, thì vào năm 1837 Đức Tổng Giám Mục Köln đã đòi buộc các Linh mục trong Giáo phận của ngài phải tuyên tín giáo huấn đó trên giấy tờ hẳn hoi. Ngoài ra, việc công bố cách long trọng tín điều đã được cổ vũ nhờ lời đề nghị của thánh Leonhard Porto Maurizio (1751) triệu tập một “Công đồng bằng văn thư”, tức Đức Thánh Cha thăm dò ý kiến của các Giám Mục trên thế giới. Trong thế ký XVII và XVIII, các vua Tây Ban Nha luôn luôn cố gắng vận động ban hành tín điều.

Vào năm 1840, 51 Giám Mục người Pháp đã đệ trình Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XVI thỉnh nguyện thư xin ban hành thành tín điều. Và sau đó các Giám Mục khác cũng đồng thuận như vậy. Ngoài ra, từ năm 1834 một số lớn các vị Hồng Y, Giám Mục và các Dòng Tu (kể cả Dòng Đa-minh) đã xin Đức Grêgôriô đưa tĩnh từ “vô nhiễm” vào trong Kinh Tiền Tụng ngày Lễ Đức Maria được cưu mang và vào trong Kinh Cầu Đức Bà: “Nữ Vương chẳng hề mắc tội tổ tông”, một điều mà các thầy Dòng Phan-xi-cô đã làm từ lâu. Đến năm 1847 thì các sách phụng vụ do Đức Piô X ban hành đều có thêm vào trong Kinh Tiền Tụng va Kinh Cầu Đức Bà tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Hiện tượng này đã làm sống động lại tinh thần sống đạo sốt sắng trong Giáo Hội Công Giáo, mà những biến động bất ổn của thời phục hưng cũng như cuộc cách mạng Pháp làm vùi lấp đi. Kho tàng truyền thống của Giáo Hội đặc biệt về Đức Kitô và Đức Maria lại được tái khám phá. Nhiều Dòng Tu mới thành lập đã đề cao lòng sùng kính Đức Mẹ. Biến cố chủ chốt chính là biến cố Đức Mẹ hiện ra cùng thánh nữ Catharina Labouré ở đường “Rue du Bac” ở Paris (1830), trong đó Đức Mẹ đã tự giới thiệu trên bức “Ảnh Đức Mẹ Ban Ơn” với Lời Kinh: “Lạy Đức Maria Vô Nhiễm, xin cầu cho chúng con những kẻ chạy đến nương ẩn nơi Mẹ.” Ngoài ra còn có vô số tác phẩm thần học đã đóng góp vào công cuộc soạn sửa cho định tín về Đức Mẹ Vô Nhiễm, trong đó phải kể trước hết công trình đặc khảo của Linh mục Dòng Tên Giovanni Perrone năm 1847.

Từ năm 1848 các Ủy Ban Toà Thánh đã chính thức bắt đầu nghiên cứu vấn đề. Năm 1849, Đức Giáo Hoàng IX đã yêu cầu các Đức Giám Mục trên khắp thế giới cho biết ý kiến về định tín có thể sẽ được công bố. Trong số 603 vị trả lời, có 546 vị ủng hộ việc đưa đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Maria đặt thành tín điều. Trong số 57 vị Giám Mục còn lại, thì chỉ có 8 vị là hoàn toàn chống lại việc ban bố tín điều; số các vị còn lại hoặc giữ thái độ trung lập hoặc cho rằng việc lập thành tín điều là quá vội vàng. Dĩ nhiên, tất cả các Giám Mục đều chứng nhận rằng Dân Chúa khắp nơi xác tín rất sâu xa về sự Vô Nhiễm Thai của Đức Maria.
3. Nội dung ý nghĩa của tín điều

Cuối cùng, vào ngày 8.12.1854, qua Sắc Chỉ “Ineffablis Deus”, tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai đã được long trọng công bố: “Do quyền năng của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, của hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô và do quyền năng của Ta, Ta giải thích, tuyên bố và minh định rằng giáo huấn cho rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria nhờ ơn thánh và lòng ưu ái đặc biệt của Thiên Chúa Toàn Năng dựa vào công nghiệp Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại, đã được giữ gìn tinh tuyền trước vết nhơ tội nguyên tổ, được Thiên Chúa mặc khải và vì thế đòi buộc mọi tín hữu phải tin một cách chắc chắn và bền vững”(4).

Tín điều nhấn mạnh đến việc Đức Maria được gìn giữ hoàn toàn trước tội nguyên tổ. Sắc lệnh của Công đồng Trient về tội nguyên tổ đã định nghĩa: “Tội lỗi là sự chết của linh hồn” (peccatum, quod mors est animae)(5). Sự ghi nhận này người ta có thể tìm gặp trong Công Nghị Orange II năm 529(6) và trong các tác phẩm của thánh Augustinô. Các Giáo Phụ Hy-lạp cũng đồng một quan điểm như thế về hậu quả của tội nguyên tổ. Khác với Luther, một thầy Dòng Augustin và là cha đẻ của hệ phái Tin Lành ở Đức, Công đồng Trient phân biệt giữa tội nguyên tổ và khuynh hướng phạm tội (concupiscence), điều mà thánh Phaolô thỉnh thoảng cũng gọi là “tội”(7), nhưng đó không phải là “tội thực sự”, nhưng là khuynh hướng “do tội gây ra và hướng chiều về tội”(8). Tridentinum cho rằng tội riêng của con cháu A-dong là hậu quả của ảnh hưởng tội nguyên tổ, là “sự di truyền của A-dong”, và cuộc sống xum họp thân giao với thiên Chúa trên Thiên đàng được đánh dấu bằng ý niệm “sự công chính và thánh thiện”(9), điều mà thánh Phaolô cũng đề cập trong Thư Êphêsô (4,24) như là tình trạng của những người đã được chịu Phép Thánh Tẩy.

Điều quan trọng đáng ghi nhận ở đây là tính cách đặc biệt về việc gìn giữ khỏi tội nguyên tổ “nhờ ơn thánh và lòng ưu ái đặc biệt của Thiên Chúa Toàn Năng” (singulari omnipotentis Dei gratia et privilegio)(10). Ở đây, người ta tự hỏi: Phải chăng đặc sủng này chỉ dành cho một mình Đức Maria mà thôi? Sắc Chỉ “Ineffabilis Deus” đã khẳng định rõ ràng là đặc sủng đó chỉ dành cho Mẹ Thiên Chúa mà thôi, và ngoài Đức Maria không một tạo vật nào được hưởng đặc sủng đó. Tuy nhiên, Đức Piô IX đã không công bố dự kiến xác định tính cách đặc thù tuyệt đối của việc Đức Mẹ Vô Nhiễm. Vì lý do đó, nên những ý kiến ngông cuồng quá khích cho rằng cả Thánh Giuse cũng được ơn vô nhiễm thai, đã không bị kết án một cách công khai.

Nhưng trong Thông điệp “Fulgens Corona” dịp kỷ niệm 100 năm tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm (1953), Đức Piô XII đã tuyên bố rõ ràng rằng ơn Vô Nhiễm là “đặc ân duy nhất không được dành cho bất cứ ai khác ngoài Đức Maria ra.” Cuối cùng, bản văn của tín điều đã nhấn mạnh rằng việc Đức Maria được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ là “nhờ vào công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại”.

Như thế, Đức Maria không bị loại trừ khỏi sự cứu rỗi, nhưng là hiện thực một cách trọn vẹn nhất công trình cứu độ của Đức Kitô. Vì thế, Sắc Chỉ “Ineffabilis Deus” đã nhấn mạnh: “Rất Thánh Trinh Nữ Maria và Mẹ Thiên Chúa, nhờ vào công nghiệp của Chúa Cứu Thế, đã không hề bị vướng mắc tội nguyên tổ, nhưng đã được gìn giữ khỏi vết nhơ tội nguyên tổ ngay trước được cưu mang”.

Bởi vậy, biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức được coi là ấn tín của trời cao chuyẩn y ơn vô ngộ của Đức Giáo Hoàng, mặc dù định tín đã được “Công đồng bằng văn thư” của các Đức Giám Mục trên thế giới nhất trí ủng hộ. Đồng thời biến cố Đức Mẹ hiện ra cũng là một cú đòn đánh vào những trào lưu thế tục chống báng Thiên Chúa và Giáo Hội do các ảnh hưởng thời phục hưng để lại. Trong một bài báo vào năm 1870, giáo sư thần học tín lý Mathias Joseph Scheeben, đại học Köln, đã gọi ơn vô ngộ của Đức Giáo Hoàng mà Công đồng Vatican I xác định, và tín điều về Đức Mẹ được Đức Piô IX công bố trước đó là hai “phương dược chính chữa lành cho những sai lầm cơ bản của thời đại chúng ta hôm nay: Chủ nghĩa tự nhiên, cùng với chủ nghĩa duy trí và chủ nghĩa tự do”(11).

Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm đồng thời còn là sao mai của ơn thánh trên bầu trời của thế kỷ XIX, là ngôi sao đã loan báo trước “mặt trời ơn thánh xuất hiện trong xác phàm”; còn “ngai toà vô ngộ của Đấng Kế Vị Đức Kitô” là “sao hôm phản chiếu lại trọn vẹn ánh sáng của mặt trời chân lý vĩnh cửu đã lặn khỏi mặt đất”, hầu ngăn chặn không để bóng tối vô đạo trở lại trên nhân loại nữa(12). Theo giáo sư Scheeben, hai ngôi sao đã nhận lãnh được “ánh sáng từ Đức Kitô, mặt trời ơn thánh và mặt trời chân lý”(13). Cả hai tín điều trình bày tính cách siêu nhiên của Kitô giáo một cách rõ ràng cụ thể. Với hai ngôi sao sáng chói đó, những tín hữu Công Giáo có thể chiến thắng được “hoả ngục và tinh thần thế tục” đang tự huỷ diệt “trong sự tự phụ về bản chất, lý trí và sự tự do của mình”. Bởi vì, chủ nghĩa tự do cũng đã thấm nhiễm vào nhiều người Công Giáo, nhất là tại Đức, nên một sự suy niệm sâu xa về tính chất siêu nhiên của Kitô giáo là một điều hết sức quan trọng (14).
4. Nội dung sứ điệp Đức Mẹ Lộ Đức

Nếu tại Lộ Đức, Đức Mẹ đã tự giới thiệu là “Đấng Vô Nhiễm”, là Trinh Nữ và Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội, thì đó không phải là một sứ điệp lẻ loi riêng biệt, nhưng là tột đỉnh của toàn diện biến cố Lộ Đức. Khởi đầu là lời kêu mời ăn năn sám hối và quay trở về cùng Thiên Chúa. Điều đó được đánh dấu trước hết bằng những đòi hỏi khẩn thiết của Đức Maria vào ngày 24 tháng 2.:

– “Hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội”

– “Hãy cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho những kẻ tội lỗi được ơn ăn năn trở lại!”

Và Đức Mẹ nói riêng cùng Bernadette:

– “Con hãy cúi mình xuống và hãy hôn mặt đất như là một việc đền bù cho các kẻ có tội.”

Sự tinh tuyền không chút bợn nhơ của Đức Maria là một hình ảnh đầy hy vọng chống lại tội lỗi đã từng hạ nhục con người và đồng thời đưa dẫn con người bước đi trên một con đường dốc đầy nguy hiểm. Và tận cùng của con đường này là sự tiêu diệt đời đời, nếu con người không hồi tâm ăn năn trở về cùng Thiên Chúa. Lời kêu mời sám hối phù hợp với lời rao giảng của Đức Giêsu: “Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!” (Mc 1,15). Nơi Đức Maria, hình ảnh con người còn mang đầy tính chất nguyên thuỷ của nó như Thiên Chúa muốn, tức không vướng mắc tội lỗi. Nơi Mẹ, “Êvà mới”, lại tỏa sáng ơn Thiên đàng và đạt tới sự viên mãn trọn vẹn. Chân lý về Đức Maria như là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội đã củng cố sự can đảm của chúng ta, hầu cùng với ơn Chúa chúng ta có thể thoát khỏi được sự dữ và sống trong niềm hân hoan của Thiên Chúa.

Sứ điệp sám hối vào ngày 25 tháng 2 liên kết chặt chẽ với sự đòi hỏi: “Con hãy đi đến nguồn nước, hãy múc nuớc mà uống và hãy tắm rửa trong đó! Con hãy ăn các cây cỏ mà con tìm thấy mọc ở nơi đó!”

Để làm cho nguồn nước có thể phun chảy lên được, Bernadette đã phải lấy tay đào đất đầy bùn và sau nhiều lần tìm cách làm cho nước chảy ra từ cái vũng đất do em đào lên, Bernadette đã làm bẩn cả mặt mũi. Nhưng khi em bắt đầu ăn các cỏ dại mọc gần đó, nhiều người đã cho em là điên khùng. Nhưng em đã chấp nhận sự hiểu lầm đó của mọi người như của lễ đền bù và cầu nguyện cho kẻ có tội biết ăn năn trở lại.

Còn việc tắm rửa trong nước từ nguồn nước mà Đức Mẹ làm cho vọt chảy lên qua trung gian của Bernadette, nhắc nhủ đến Phép Rửa ăn năn sám hối của Gioan Tẩy Giả, Đấng đã đến để dọn đường cho Đức Giêsu trong lòng con người. Nước là tượng trưng cho sự tinh luyện cần thiết khỏi tội lỗi, nhưng đồng thời cũng là biểu hiệu của sự sống mới trong ơn thánh, một sự sống được ban cho nhờ Bí tích Rửa Tội. Ai đi hành hương Lộ Đức, sẽ canh tân lại ơn Rửa Tội, nhất là khi người đó chịu Bí tích Thống Hối. Nước là biểu hiệu cho sự sống sung mãn của ơn thánh phù hợp với cuộc sống thần linh mà Đức Maria đã được nhận lãnh ngay từ trước khi Mẹ được cưu mang, nhờ vào công cuộc cứu chuộc trong tương lai của Đức Giêsu, Con Mẹ. Trong đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Maria, mục đích sự ăn năn trở lại của chúng ta tỏa sáng lên, tức trở thành những con người mới, được Đức Kitô cứu rỗi.
5. Những biểu hiệu đặc trưng của Đức Mẹ Lộ Đức

Chính biến cố hiện ra của Đức Maria cũng cho thấy rằng đặc sủng Vô Nhiễm Thai đã rực sáng lên trong vẻ đẹp thiêng liêng của Thiên đàng. Mẹ Thiên Chúa đã hiện ra với Bernadette như một thiếu nữ trẻ, mĩm cười và được bao bọc bởi một luồng ánh sáng huyền nhiệm. Đức Mẹ mặc áo trắng với dây thắt lưng màu xanh da trời, trên tay mang một tràng chuỗi Mân Côi màu trắng, trên hai chân điểm hai nụ hoa hồng màu vàng cùng mầu với dây tràng chuỗi Mân Côi. Tâm hồn Đức Maria đầy tràn ơn thánh – vì Mẹ được vô nhiễm nguyên tội – đã toả ra qua sự kiều diễm bên ngoài của Mẹ, đó điều mà Bernadette đã ghi nhận được một cách rõ ràng.

Màu áo trắng Đức Maria mặc trên mình muốn nói lên sự tinh tuyền thuần khiến của con người Mẹ, không hề vướng mắc bất cứ vết nhơ tội lỗi nào, nhưng đồng thời cũng nói lên rằng Mẹ đã hiện đến từ Trời Cao. Trong Kinh Thánh Tân Ước, màu “áo trắng” là tượng trưng cho sự hiển dung của Đức Giêsu và đồng thời cũng là biểu hiệu cuộc sống thánh thiện tinh tuyền của các Thiên thần và các thánh trên Thiên đàng. Tiếp đến, màu trắng, mầu của ánh sáng tinh tuyền, là dấu hiệu của tính cách siêu thoát cao thượng và của niềm hân hoan, của sự tinh tuyền và của sự vinh hiển vĩnh cửu. Vì thế, mầu trắng là mầu phù hợp với Đức Maria nhất, Đấng được cưu mang vô nhiễm nguyên tội và là Đấng đã được đón nhận vào trong sư vinh hiển của Thiên đàng. Tiếp đến, mầu xanh dương cũng là một mầu tượng trưng cho Trời. Còn vàng là một dấu hiệu của sự cao quý nội tâm và phẩm hàm vương đế. Phẩm hàm vương đế và sự tham dự vào niềm hân hoan Thiên đàng đặt nền tảng trên đặc sủng độc nhất vô nhị của Mẹ, đó là Mẹ được cưu mang mà không hề bị nhiễm mắc nguyên tội và sự cộng tác bản thân của Mẹ vào trong công trình cứu chuộc của Ngôi Hai Thiên Chúa.

Còn hoa hồng cũng là một biểu tượng nói lên sự Vô Nhiễm Thai. Hơn nữa, hoa hồng cũng là biểu tượng quen thuộc trong thời thượng cổ nơi nhà thi sĩ và là Giáo Phụ La-tinh Sedulius Caelius vào thế kỷ V. Bài thơ thời danh của ngài về “Con Chiên Phục Sinh” (Paschale carmen) được coi như việc diễn giải Kinh Thánh bằng thơ thành công nhất của thời hậu cổ đại. Sedulius ước mong không chỉ những Kitô hữu, nhưng cả những người ngoại giáo biết làm cho con đường đức tin chân chính trở nên êm ái dễ chịu bằng tính chất yêu kiều đáng yêu của những vần thơ. Dựa vào công trình cứu độ của Đức Kitô, Sedulius cũng đưa ra một sự đối chiếu giữa Êvà và Đức Maria. Trong đó, ông trình bày Đức Maria như một bông hồng dịu dàng, tuy trổ sinh giữa những gai nhọn, nhưng vẻ kiềi diễm của Mẹ không hề bị sây sát thương tổn gì cả. Và như là Êvà mới Mẹ đã thanh tẩy những lầm lỗi của bà Êvà qua việc sinh hạ Đức Kitô(15). Sự tinh tuyền vẹn toàn của “Êvà mới” được coi như sự trang bị cần thiết để cộng tác vào công trình cứu độ của Đức Kitô. Trên thực tế, Đức Maria đã được nhận lãnh ơn thánh của Đức Kitô ngay trước khi sự sống của Mẹ được bắt đầu hình thành trong cung lòng thân mẫu Mẹ, hầu về sau trong vai trò là Mẹ Thiên Chúa và là Người đồng công cứu chuộc của Đức Kitô, Mẹ có thể cứu giúp được “mọi con cái Êvà đang bị lưu đày”. Vậy, mục đích của ơn Vô Nhiễm chính là sự trang bị ơn thánh cho sự cộng tác của Đức Maria trong chương trình cứu độ của Đức Kitô.

Lời Kinh Thánh nói về “bông hồng giữa bụi gai” quả là một sự trình bày có tính cách thi vị tuyệt vời về sự tinh tuyền thanh khiết của Đức Maria. Ngoài ra, trong nghệ thuật thời Kitô giáo sơ khai, hoa hồng được biểu tượng là hình ảnh của Thiên đàng. Vẻ dịu dàng đáng yêu và sự sung mãn huy hoàng của nó còn làm cho hoa hồng thành hình ảnh của sự huyền nhiệm. “Hoa hồng mầu nhiệm” (Rosa mystica) cũng là một tước hiệu quen thuộc để xưng tụng Đức Maria trong Kinh Cầu Đức Bà. Trong Sách Huấn Ca hình ảnh Đức Maria cũng được nhắc tới, khi nói về Đức Khôn Ngoan – được trình bày có tính cách biểu tượng như hình ảnh người phụ nữ – mọc lên tươi xinh “như khóm hồng ở Giê-ri-cô” (Hc 24,14, bản Vulgata: quasi plantatio rosae in Jericho).

Sau cùng, một dấu chỉ về sự Vô Nhiễm Nguyên Tội còn biểu hiện ra trong ngày Truyền Tin, 25 tháng 3, ngày Thiên Chúa loan báo cho Đức Maria về chương trình giáng thế làm người của Đức Kitô, và trong đó Mẹ giữ vai trò chủ động khi Mẹ tự nguyện chấp thuận bằng hai tiếng “xin vâng” việc thụ thai Con Một Thiên Chúa do quyền năng Chúa Thánh Thần. Vì cũng chính Chúa Thánh Thần, Đấng đã gìn giữ Mẹ khỏi vết nhơ tội nguyên tổ ngay trước khi Mẹ được cưu mang. Như vậy, cả hai thực tại – đặc sủng vô nhiễm và việc thụ thai Con Thiên Chúa – hoàn toàn liên hệ mật thiết với nhau, vì cùng do sự tác động của Chúa Thánh Thần.

Qua tiếng “xin vâng” của mình, Đức Maria xuất hiện như “Êvà mới” thực sự. Vì những gì bà Êvà đã “trói buộc lại” qua sự bất tuân phục của mình, thì Maria, “Êvà mới”, lại “tháo gỡ ra” qua sự tuân phục của mình. Đức Maria, “Êvà mới”, luôn đứng bên cạnh Đức Kitô, “A-dong mới”, Đấng đã chiến thắng được Sa-tan và tội lỗi.

Vậy, tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm là một minh chứng hùng hồn về tâm hồn “đầy ơn phúc” của Đức Maria (Lc 1,28). Nhưng sự đầy ơn phúc không gì khác hơn là mặt trái tích cực của cuộc sống không hề bị vướng mắc vào vết nhơ của tội nguyên tổ. Vì thế, lời tự giới thiệu của Đức Maria: “Ta là Đấng Vô Nhiễm” phù hợp một cách tuyệt diệu với ngày công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa, ngày Lễ Truyền Tin.

1. xem R. Laurentin, Les apparitions de Lourdes, 1966, tái bản 2002.

2. xem M. Hauke, Urstand, Fall und Erbsünde, 2007, trang 135-146.

3. xem G. Söll, Mariologie 1978, S.M. Cechin, L’Immaculata Concezione, 2003

4. Denzinger-Hünermann (DH) 2803.

5. DH 1512.

6. DH 372.

7. xem Rm 6,12-15; 7,7.14-20.

8. DH 1515.

9. DH 1512

10. DH 2803.

11. Das oekumenische Konzil vom Jahre 1869, Bd. II, Regensburg 1870, trang 507.

12. Immakulata und päpstliche Unfehlbarkeit. Sedes Sapientiae und Cathedra Sapientiae. Neu herausgegeben von J. Schmitz, Paderborn 1954, trang 20tt.

13. cùng chỗ như trên, 21.

14. cùng chỗ như trên, 22tt.

15. Carmen 2,28-34: PL 19,595tt

(Kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức: 1858-2008)

Lm Nguyễn Hữu Thy

Tâm Thư Sinh Viên Nhật Gởi Thế Hệ Trẻ Việt Nam

Một bạn trẻ người Nhật từng du học ở Việt Nam vừa có bài viết gửi giới trẻ Việt Nam khiến dư luận xôn xao.
Việt Nam – nhà giàu và những đứa con chưa ngoan

Tôi đang là một du học sinh Nhật, có hơn 4 năm sinh sống tại Việt Nam. Với ngần ấy thời gian, tôi đã kịp hiểu một đạo lý giản đơn của người Việt: “Sự thật mất lòng”. Song không vì thế mà tôi sẽ ngoảnh ngơ trước những điều chưa hay, chưa đẹp ở đây. Hy vọng những gì mình viết ra, không gì ngoài sự thật, như một ly cà phê ngon tặng cho mảnh đất này, tuy đắng nhưng sẽ giúp người ta thoát khỏi cơn ngủ gục – ngủ gật trước những giá trị ảo và vô tình để những giá trị thật bị mai một.

Tôi có một nước Nhật để tự hào

Tôi tự hào vì nơi tôi lớn lên, không có rừng vàng biển bạc. Song, “trong đêm tối nhất, người ta mới thấy được, đâu là ngôi sao sáng nhất”. Thế đấy, với một xứ sở thua thiệt về mọi mặt, nghèo tài nguyên, hàng năm gánh chịu sự đe dọa của hàng trăm trận động đất lớn nhỏ lại oằn mình gánh chịu vết thương chiến tranh nặng nề, vươn lên là cách duy nhất để nhân dân Nhật tồn tại và cho cả thế giới biết “có một nước Nhật như thế”.

 

Tôi tự hào vì đất nước tôi không có bề dày văn hiến lâu đời nên chúng tôi sẵn sàng học hỏi và tiếp nhận tinh hoa mà các dân tộc khác “chia sẻ”. Từ trong trứng nước, mỗi đứa trẻ đã được học cách cúi chào trước người khác. Cái cúi chào ấy là đại diện cho hệ tư tưởng của cả một dân tộc biết trọng thị, khiêm nhường nhưng tự trọng cao ngời.

Tôi tự hào vì đất nước tôi được thử thách nhiều hơn bất kỳ ai. Khi thảm họa động đất sóng thần kép diễn ra, cả thế giới gần như “chấn động”. Chấn động vì giữa hoang tàn, đổ nát, đói khổ và biệt lập, người ta chỉ nhìn thấy từng dòng người kiên nhẫn xếp hàng nhận cứu trợ và cúi đầu từ tốn cảm ơn. Không có cảnh hôi của, lên giá, cướp bóc, bạo lực nào diễn ra giữa sự cùng khổ. Chỉ chưa đầy một năm sau khi hàng loạt thành phố bị xóa sổ hoàn toàn, sự sống lại bắt đầu hồi sinh như chưa từng có biến cố nào đã xảy ra. Thế đấy, không có những thành tích to lớn để nói về nước Nhật nhưng thương hiệu “made in Japan”, là thương hiệu uy tín vượt trên mọi khuôn khổ, tiêu chuẩn khắt khe, được toàn cầu tôn trọng nhất mà tôi từng biết.

Bạn cũng có một nước Việt để tự hào

Nói Việt Nam là một “nhà giàu”, quả là không ngoa. Giàu tài nguyên, giàu truyền thống, giàu văn hóa… Nhưng con cháu của nhà giàu, sẽ phải đối mặt với những vấn đề nan giải của nhà giàu. Và không phải ai cũng biết cách sống có trách nhiệm trong sự giàu có ấy.

Thật đáng tự hào nếu bạn được lớn lên ở một đất nước được thiên nhiên ưu đãi với rừng vàng biển bạc. Đáng xấu hổ nếu xem đó là khoản thừa kế kếch xù, không bao giờ cạn. Thật tiếc đó lại là những gì tôi thấy. Tại các thành phố, chỉ cần nhà mình sạch sẽ là được, ngoài phạm vi ngôi nhà, bẩn đến đâu, không ai quan tâm. Ở các nhà máy, nếu không biết dồn rác thải ở đâu, họ sẽ cho chúng ra ngoài đường, sông suối, biển cả vì đó là “tài sản quốc gia” – đã có quốc gia lo, không phải việc của mỗi người dân. Tại một đất nước mà 80% dân số sống bằng nghề nông, đất đai, nước ngầm hầu như đã bị nhiễm độc, đến nỗi, người ta nói vui trong năm nữa thôi sẽ là thời đại của ung thư vì ăn gì cũng độc, không ít thì nhiều, không thể khác. Vì sao nên nỗi?

Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường. Thật buồn vì đó cũng là điều tôi thấy mỗi ngày.

Hãy chỉ cho tôi thấy rằng tôi đã sai nếu nói: Người Việt không biết xếp hàng, xếp hàng chỉ dành cho học sinh tiểu học; người Việt không biết tự hào về người Việt, nếu không thì Flappy Bird đã không phải chết yểu đau đớn; người Việt chửi hay còn hơn hát, cứ xách ba lô ra tới thủ đô một chuyến thì sẽ được mục sở thị; người Việt vẫn còn luyến tiếc văn hóa làng xã, giai cấp nếu không phải thế thì họ đã không đứng thẳng người chửi đổng và cúi rạp mình trước quyền lực bất công mà chẳng dám lên tiếng; người Việt có đôi mắt siêu hạng nhất vì nhìn đâu cũng thấy cơ hội để mánh mung, lọc lừa.

Tôi chưa từng thấy đất nước nào mà các bậc mẹ cha dạy dỗ con cháu cố gắng học hành để sau này là bác sỹ, phi công, thuyền trưởng… mà xuất phát không vì đam mê mà vì phong bì nhiều, đút lót dễ, giàu sang mấy hồi… Vì đâu nên nỗi?

Người Việt có một nền di sản độc đáo, một nguồn sức mạnh vô cùng to lớn, ai cũng nhìn thấy, chỉ có người Việt là không thấy hoặc từ chối nhìn thấy. Vì sao nên nỗi?

Tôi đang nhìn thấy một thế hệ, họ không còn biết phải tin vào điều gì, thậm chí còn không dám tin vào chính mình. “Là một người Việt – khó lắm! Thật vậy sao?”

(Nguồn: Đất Việt)

vr1.jpg

Mời quí vị đọc:

Lá thư Hồi-Âm của một người trẻ đang sống và lớn lên ở Việt Nam

Bạn thân mến,

Lâu lắm rồi giới trẻ chúng tôi mới nhận được một bài viết nói lên sự thật ở đất nước tôi, dù sự thật ấy làm chúng tôi hết sức đau buồn.

Xin cám ơn bạn. Ở đất nước tôi có câu “sự thật mất lòng” nhưng cũng có câu “thương cho roi cho vọt”, “thuốc đắng đả tật”.

Bức thư của bạn đã làm thức dậy trong tôi niềm tự ái dân tộc lâu nay được ru ngủ bởi những bài học giáo điều từ nhà trường như “Chúng ta tự hào là một nước nhỏ đã đánh thắng hai cường quốc Pháp và Mỹ”.

Bạn đã nói đúng: “Tôi đang nhìn thấy một thế hệ, họ không còn biết phải tin vào điều gì, thậm chí còn không dám tin vào chính mình. Là một người Việt, khó lắm. Thật vậy sao?”

Bạn biết đặt câu hỏi như thế là bạn đã có câu trả lời rồi. Những gì tôi viết sau đây chỉ là những lời tâm tình của một người trẻ thiếu niềm tin, với một người bạn đến từ một đất nước vững tin vào dân tộc mình, vào chính bản thân mình.

Bạn nói đúng. So với nước Nhật, nước Việt chúng tôi đẹp lắm. Đối với tôi không có tấm bản đồ của nước nào đẹp như tấm bản đồ của nước tôi. Tấm bản đồ ấy thon thả đánh một đường cong tuyệt đẹp bên bờ Thái Bình Dương ấm áp. Trên đất nước tôi không thiếu một thứ gì cho sự trù phú của một dân tộc .

Nhưng chúng tôi thiếu một thứ. Đó là Tự Do, Dân Chủ.

Lịch sử của chúng tôi là lịch sử của một dân tộc buồn.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Người đã từng nhận được đĩa vàng tại đất nước Nhật của các bạn năm 1970 (bán được trên 2 triệu bản) với bài hát “Ngủ Đi Con” đã từng khóc cho đất nước mình như sau:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Hai mươi Năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ là nước Việt buồn
”.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong “hai mươi Năm nội chiến từng ngày” ông sống tại miền nam Việt Nam nên nỗi đau của ông còn nhẹ hơn nỗi đau của người miền Bắc chúng tôi. Ông còn có hạnh phúc được tự do sáng tác, tự do gào khóc cho một đất nước bị chiến tranh xâu xé, được “đi trên đồi hoang hát trên những xác người” được mô tả người mẹ điên vì đứa con “chết hai lần thịt xương nát tan”.

Nếu ông sống ở miền Bắc ông đã bị cấm sáng tác những bài hát như thế hoặc nếu âm thầm sáng tác ông sẽ viết như sau:

“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Bảy mươi năm Cộng Sản đọa đày
Gia tài của mẹ, để lại cho con
Gia tài của mẹ là nước Việt Buồn

Bị đô hộ bởi một nước Tàu tự coi mình là bá chủ ở phương Bắc, bị một trăm năm Pháp thuộc . Một ít thời gian không bị ngoại bang đô hộ chúng tôi không có minh quân như Minh Trị Thiên Hoàng ở nước bạn. Huống gì thay vào đó chúng tôi bị cái xui là một trong những nước hiếm họi bị thống trị bởi một chế độ bị coi là quái vật của thế kỷ.

Tại sao người Việt tham vặt.

Vì họ đã từng đói kinh khủng.Trong cuộc chiến tranh gọi là chống Mỹ chống Pháp người dân miền Bắc chúng tôi đã đói đến độ mất cả tình người. Vì một ký đường, một cái lốp xe đạp, vài lạng thịt người ta tố cáo nhau, chơi xấu nhau dù trước đó họ là người trí thức.

Cho nên ăn cắp là chuyện bình thường.

Tôi cũng xin nhắc cho bạn , năm 1945 hàng triệu người Việt miền Bắc đã chết đói vì một lý do có liên quan đến người Nhật các bạn đấy. Xin bạn tìm hiểu phần này trong lịch sử quân Phiệt Nhật ở Việt Nam. Tất nhiên người Việt vẫn nhớ câu “nghèo cho sạch, rách cho thơm” nhưng “thượng bất chính , hạ tắc loạn”.

Khi chấm dứt chiến tranh. Người Việt biết họ phải tự cứu đói mình chứ không ai khác. Kẻ có quyền hành tranh dành nhau rừng vàng biển bac, kẻ nghèo xúm lại hôi của những xe chở hàng bị lật nhào .

Thật là nhục nhã, thật là đau lòng.

Bạn bảo rằng ở nước bạn người dân giữ gìn vệ sinh công cộng rất tốt. Còn ở Việt Nam cái gì dơ bẩn đem đổ ra đường. Đúng vậy. Nhưng Tự Do , Dân Chủ đã ăn vào máu của các bạn để các bạn ý thức rõ đây là đất nước của mình. Còn chúng tôi? Chúng tôi chưa thấy nước Việt thực sự là của mình.

Ngày trước Nước Việt là của Vua , Có khi nước Việt thuộc Tàu, rồi nước Việt thuộc Pháp, rồi nước Việt là của Đảng Cộng Sản. Ruộng của cha ông để lại đã từng trở thành của của hợp tác xã, rồi ruộng là của nhà nước chỉ cho dân mượn trong một thời gian nhất định. Đất là của nhà nước nếu bị quy hoạch người dân phải lìa bỏ ngôi nhà bao năm yêu dấu của mình để ra đi.

Cái gì không phải là của mình thì người dân không cảm thấy cần phải gìn giữ. Nhưng sự mất mát đau lòng nhất trên đất nước chúng tôi là mất văn hóa và không còn nhuệ khí. Biết làm sao được khi chúng tôi được dạy để trở thành công cụ chứ không được dạy để làm người.

Tiếc thay bản chất thông minh còn sót lại đã cho chúng tôi nhận ra chúng tôi đang bị dối gạt. Nhất là trong những giờ học về lịch sử, văn chương.

Lớp trẻ chúng tôi đã mất niềm tin và tìm vui trong những trò rẻ tiền trên TV trên đường phố. Nhớ năm nào nước của bạn cất công đem hoa anh đào qua Hà Nội cho người Hà Nội chúng tôi thưởng ngoạn. Và thanh niên Hà Nội đã nhào vô chụp giựt , bẻ nát cả hoa lẫn cành , chà đạp lên chính một nơi gọi là “ngàn năm Thăng Long văn hiến”.

Nhục thật bạn ạ. Nhưng lớp trẻ chúng tôi hầu như đang lạc lối, thiếu người dẫn đường thật sự chân thành thương yêu chúng tôi, thương yêu đất nước ngàn năm tang thương , đau khổ.

Thật buồn khi hàng ngày đọc trên báo bạn thấy giới trẻ nước tôi hầu như chỉ biết chạy theo một tương lai hạnh phúc dựa trên sắc đẹp và hàng hiệu. Họ không biết rằng nước Hàn có những hot girls, hot boys mà họ say mê còn là một quốc gia cực kỳ kỷ luật trong học hành, lao động.

Bạn nói đúng. Ngay cả bố mẹ chúng tôi thay vì nói với chúng tôi “con hãy chọn nghề nào làm cuộc sống con hạnh phúc nhất” thì họ chỉ muốn chúng tôi làm những công việc , ngồi vào những cái ghế có thể thu lợi tối đa dù là bất chính.

Chính cha mẹ đã chi tiền để con mình được làm tiếp viên hàng không, nhân viên hải quan, công an giao thông… với hy vọng tiền thu được dù bất minh sẽ nhiều hơn bội phần.

Một số người trẻ đã quên rằng bên cạnh các ca sĩ cặp với đại gia có nhà trăm tỉ, đi xe mười tỉ còn có bà mẹ cột hai con cùng nhảy sông tự tử vì nghèo đói. Mới đây mẹ 44 tuổi và con 24 tuổi cùng nhảy cầu tự tử vì không có tiền đóng viện phí cho con. Và ngày càng có nhiều bà mẹ tự sát vì cùng quẩn sau khi đất nước thái bình gần 40 năm.

Bạn ơi. Một ngày nào chúng tôi thực sự có tự do, dân chủ chúng ta sẽ sòng phẳng nói chuyện cùng nhau. Còn bây giờ thì :

trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
”.

Dù sao cũng biết ơn bạn đã dám nói ra những sự thật dù có mất lòng.

Và chính bạn đã giúp tôi mạnh dạn nói ra những sự thật mà lâu nay tôi không biết tỏ cùng ai.

Thân ái.

Tiểu My

Các vụ Đức Mẹ hiện ra

Khi tìm hiểu về Đức Mẹ, chúng ta không thể không đề cập đến các vụ Đức Mẹ hiện ra đó đây trên thế giới. Trong lịch sử dài hơn 2.000 năm của Kitô giáo có hàng ngàn vụ Đức Mẹ hiện ra, đó đây trên thế giới, nhưng chỉ có một số ít được Giáo Hội chính thức công nhận. Nhiều vụ hiện ra khác tuy không được chính thức công nhận, nhưng Giáo Hội cho phép tín hữu sùng kính và lui tới hành hương.
Các vụ Đức Mẹ hiện ra
Các vụ Đức Mẹ hiện ra

Rất nhiều đền thánh hay trung tâm hành hương nổi tiếng trên thế giới đã được xây cất kính nhớ các biến cố  Đức Trinh Nữ Maria hiện ra. Chẳng hạn như tại Lourdes miền nam nước Pháp, Đức Đức Mẹ đã hiện ra với chị Bernadette Soubiroux năm 1858, và tại Fatima bên Bồ Đào Nha với ba trẻ mục đồng Lucia, Giacinta và Phanxicô năm 1917. Bên Mỹ châu Latinh biến cố Đức Mẹ hiện ra trên đồi Tepeyac bên Mehicô năm 1531 với ông Juan Diego Cuauhtlatoatzin, một thổ dân Aztec, làm nảy sinh ra đền thánh Đức Bà Guadalupe. Năm 1717 Đức Mẹ không hiện ra tại Aparecida bên Brasil, nhưng một nhóm dân chài đã tìm thấy một tượng Đức Mẹ nổi tiếng làm phép lạ làm nảy sinh ra đền thánh vĩ đại như chúng ta thấy hiện nay.

Các đền thánh nổi tiếng này hằng năm thu hút hàng triệu tín hữu và du khách hành hương đến cầu nguyện và   kính viếng: 12 triệu tại Aparecida, 7 triệu tại Guadalupe,  hơn 7 triệu tại Fatima, 5  triệu tại Lourdes.

Tại Việt Nam Đức Mẹ đã hiện ra với một số tín hữu bị bách hại chạy trốn vào rừng La Vang năm 1798. Đức Mẹ cũng hiện ra che chở tín hữu tại Trà Kiệu, khi họ bị 4.000 quân Văn Thân vây hãm năm 1855.

Tại Roma đêm mùng 4 rạng ngày mùng 5 tháng tám năm  352 Đức Mẹ hiện ra với ĐGH Liberio và với nhà quyền quý Giovanni, xin xây một nhà thờ kính Mẹ. Khi ĐGH hỏi: “Mẹ muốn xây ở đâu?”, thì Đức Mẹ trả lời sáng ngày mai con thấy tuyết rơi ở đâu thì xây nhà thờ ở đó”. Quả nhiên sáng mùng 5 tháng 8 năm 352 tuyết rơi ngay giữ mùa hè trên đồi Esquilino, và ĐGH đã cho xây Đền Thờ Đức Bà Cả ở đó. Gọi là Đức Bà Cả vì nó là đền thờ lớn nhất đầu tiên kính Đức Mẹ bên Tây Phương. Nhưng vì sự tích tuyết rơi nên đền thờ cũng còn được gọi là Đền thờ Đức Bà xuống tuyết. Hiện nay vào mỗi ngày mùng 5 tháng 8  lễ kính Đức Bà xuống tuyết vẫn được cử hành long trọng tại đây. Đền thờ cũng còn được gọi là đền thờ máng cỏ, vì có giữ hai thanh gỗ lấy ở máng cỏ Bếtlêhem.

** Tại Tre Fontane ở ngoại ô Roma ngày 12 tháng 4 năm 1947 Đức Mẹ cũng hiện ra với ông Bruno Cornacchiola và ba đứa con nhỏ của ông. Ông Bruno sinh năm 1913 và qua đời năm 2001. Ông đã  từng tham chiến bên Tây Ban Nha và bị một binh sĩ gốc Đức lôi kéo theo Tin Lành Adventist và chống Giáo Hội công giáo. Ngày 12 tháng 4 năm 1947 ông đưa ba con đến ngọn đồi nhỏ ở Tre Fontane để chuẩn bị một diễn văn đả kích  giáo lý của Giáo Hội Công Giáo liên quan tới sự trọn đời đồng trinh của Đức Maria, sự vô nhiêm nguyên tội và hồn xác lên trời. Gianfranco, đứa con trai bé nhất của ông, chơi chạy theo trái banh lọt vào trong một hang đá. Ông tìm thấy con qùy gỗi xuất thần trước hang đá miệng lẩm bẩm :”Bà Đẹp”. Hai đứa con khác cũng xuất thần quỳ xuống. Ông vào trong hang đá và trông thấy Đức Maria mặc áo trắng, thắt lưng mầu hồng có áo choàng xanh, tay ôm cuốn Thánh Kinh, biểu tượng cho sự mạc khải và nói với ông: “Ta là Đức Trinh Nữ của sự mạc khải. Con bách hại Ta. Bây giờ đủ rồi! Hãy vào trong chuồng chiên. Điều Thiên Chúa hứa là không thể thay đổi: chín thứ sáu kính Thánh Tâm mà vì tình yêu vợ ngưòi vợ trung thành của con đã thôi thúc con làm trước khi con vĩnh viễn theo con đường của lầm lạc, đã cứu con”. Khi nghe vậy, ông Bruno cảm thấy niềm vui sâu thăm trong tâm hồn, và ngửi thấy một mùi thơm êm dịu trong hang đá. Trước khi từ biệt Đức Mẹ cho ông một dấu chỉ để ông không còn nghi ngờ nguồn gốc thiên linh của thị kiến: đó là cuộc găp gỡ của ông với một linh mục. Và sự việc đã xảy ra như Đức Mẹ báo trước. Sau khi khước từ sai lầm, ông lại được tiếp nhận vào cộng đoàn công giáo.  Ông cũng kể là đã trông thấy Đức Mẹ hiện ra trong các ngày mùng 6, 23 và 30 tháng 5 năm đó.  Ngày mùng 9 tháng 12 năm 1949 khi gặp ĐGH Piô XII ông đã xưng thú là mưởi năm trước, khi từ cuộc nội chiến  bên Tây Ban Nha về, ông đã có dự tính giết ngài. Theo miêu tả của ông một bức tượng đã được tạc và đặt trong hang đá. Cũng có một bảng khắc lời ông nói ghi nhớ biến cố Đức Mẹ hiện ra ngày 12 tháng 4 năm 1947. Tuy không được Giáo Hội chính thức công nhận, nhưng năm 1956 ĐGH Pio XII cho phép xây một nhà nguyện nhỏ kính Đức Mẹ và giao cho các tu sĩ Phanxicô viện tu trông coi. Năm 1997 ĐGH Gioan Phaolô II chấp thuận tên gọi nơi đây là “Thánh Maria của Ngàn năm thứ ba ở Tre Fontane”. Đã có rất nhiều tín hữu nhận đưọc các ơn lành với hàng ngàn tấm bảng tạ ơn Đức Mẹ.

** Thật ra, Đức Mẹ ra hiện ra tại rất nhiều nơi trên thế giới, và các vụ hiện ra đó đã đưọc thu thập trong hai cuốn sách dầy. Chúng chứng tỏ cho thấy tình yêu thương của Đức Maria Mẹ Thiên Chúa đối với tín hữu và con cái loài người. Đức Mẹ có thể hiện ra  với một người hay nhiều người. Các vụ hiện ra có thể xảy ra một lần hay nhiều lần, tại những nơi chốn và thời điểm khác nhau. Thông thường chúng mang tên nới chốn xảy ra, hay từ tên do Đức Mẹ tỏ lộ cho trong lần hiện ra đó, hoặc từ khía cạnh được miêu tả. Đây là hiện tượng rất thường xảy ra trong lịch sử của Kitô giáo kể từ thế kỷ thứ IV và gia tăng mạnh mẽ trong thế kỷ XIX, và nhất là trong thế kỷ XX.

Theo từ điển Công giáo việc Đức Mẹ hiện ra là một thị kiến mà một hay nhiều người cho rằng họ đã trông thấy Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu Kitô, trong cử chỉ hướng tới họ với lời nói hay cử chỉ.  Trong trường hợp trong đó các khẳng định được trình bầy không có thực tại hay hình ảnh, mà chỉ có trong hình thức các lời loan báo thôi, thì từ diễn tả đúng đắn nhất là kiểu nói, như xảy ra trong các kinh nghiệm thần bí, liên quan tới các sứ giả khác với Đức Maria.

Say đây là một số vụ Đức Mẹ hiện ra đã được Giáo Hội chính thức chấp nhận: Đức Bà Canh Giữ tại Genova tây bắc Italia năm 1490; Đức Bà Guadalupe bên Mêhicô năm 1531; Đức Bà Laus bên Pháp trong các năm 1664-1718; Đức Bà cứu giúp Champion bên Hoa Kỳ năm 1859; Đức Bà Aparecida bên Brasil năm 1717; các vụ hiện ra với bà thánh Caterina Labouré bên Paris năm 1830 cũng gọi là Đức Bà Mề đai phép lạ; Đức Bà Phép Lạ hiện ra với Alphonse Marie Ratisbone tại Roma năm 1842; Đức Bà La Salette bên Pháp năm 1846; Đức Bà Lộ Đức bên Pháp năm 1858; Đức Bà Pontmain bên Pháp năm 1871; Đức Bà Gietrzwald bên Ba Lan năm 1877; Đức Bà Knock bên Ailen năm 1879; Đức Bà Fatima bên Bồ Đào Nha năm 1917; Đức Bà Beauraing bên Bỉ năm 1932-1933; Đức Trinh Nữ người nghèo tại Banneux bên Bỉ năm 1933; Đức Bà của mọi dân tộc tại Amsterdam bên Hoà Lan 1945-1959; Đức Bà Akita bên Nhật Bản năm 1973; Đức Maria Trinh Nữ và là Mẹ Hoà Giải mọi dân tộc và quốc gia tại Finca Betanaia bên Venezuela năm 1976; Đức Bà Kibeho bên Rwanda năm 1981; Đức Bà Mân Côi của thánh Nicolas bên Argentina năm 1983.

** Ngoài ra Giáo Hội cũng chính thức thừa nhận các vụ hiện ra sau đây: Nữ Vương các Thánh hay phép lạ thánh Ciriaco tại Ancona trung Italia năm 1796; Đức Bà làm phép lạ tại Taggia năm 1855; Đức Bà khóc tại Siracusa trên đảo Sicilia nam Italia năm 1953.

Liên quan tới các vụ Đức Mẹ hiện ra với thánh nữ Caterina Labouré năm 1830 tại Rue du Bac bên Paris, đã không thể có chứng tá của chị, nhưng bắt đầu từ thời ĐGH Gregorio XVI Giáo Hội có thái độ thuận tiện đối với Mề Đai làm phép lạ.

Có nhiều vụ hiện ra khác nữa tuy không được Giáo Hội chính thức thừa nhận, nhưng được phép sùng kính Đức Mẹ. Trong đó có Đức Bà Caravaggio bên Italia năm 1432; Thánh Maria tại Parete vùng Liveri Napoli, nam Italia năm 1514; Đức Bà các Thiên Thần tại Arcola năm 1556;  Đức Bà Coromoto bên Venezuela năm 1652; Đức Bà của Lòng Thương Xót tại Rimini năm 1850; Đức Maria Rất Thánh Sầu Bi tại Castelpetroso Italia năm 1888; Đức Trinh Nữ Sầu Bi bên Quito năm 1906; Đức Bà Đá Tảng tại Belpasso 1981-1986.

 

Ngày 25 tháng 2 năm 1978 Bộ Giáo Lý Đức Tin đã công bố tài liệu “Các điều lệ việc tiến hành phán xử các vụ hiện ra hay các mặc khải trong đó có các khoản sau đây: ĐGM sở tại  có thể bắt đầu một tiến trình do sáng kiến riêng của mình hay vi lởi xin của một tin hữu để điều tra các sự kiện liên quan tới một vụ hiện ra. Giám Mục có thể không xem xét vụ hiện ra nếu muốn, đặc biệt khi nghĩ rằng câu chuyện sẽ không đi đến đâu. Hội Đồng Giám Mục có thể can thiệp nếu Giám Mục sở tại yêu cầu, hay nếu biến cố trở thành quan trọng trên bình diện quốc gia, hay ít nhất trên bình diện rộng rãi hơn một giáo phận. Cả Toà Thánh cũng có thể can thiệp, nếu có lời xin của chính Giám Mục sở tại, hay do lởi thỉnh cẩu của một nhớm tín hữu, hay do sáng kiến của Toà Thánh muốn điều tra vụ hiện ra.

TMH 495

Linh Tiến Khải

Nguồn tin: Vatican