Archive | January 2016

Tại sao phải làm tới ba dấu thánh giá trước khi nghe Tin Mừng?

Đáp:

Khi linh mục loan báo sẽ đọc bài Tin Mừng nào đó (Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mát-thêu, thánh Mác-cô, thánh Lu-ca hay thánh Gio-an), chúng ta tuần tự làm một dấu thánh giá trên trán, một trên môi miệng và một trên ngực. Tập tục này có từ thế kỷ thứ XI và mang nhiều ý nghĩa phong phú.

Làm ba dấu thánh giá như thế để xin Chúa ban ơn và chúc lành cho chúng ta.

Qua dấu thánh giá trên trán, trên môi và trên ngực, chúng ta cầu xin cho lời Tin Mừng, mà chúng ta sắp nghe, thấm nhập trọn vẹn trong con người, bám rễ sâu trong trí khôn và trong tâm hồn của chúng ta. Chúng ta cũng xin cho trí tuệ của mình được soi sáng để thông hiểu Lời Chúa và cho tâm hồn được sưởi ấm để đón nhận Tin Mừng.

Khi làm ba dấu thánh giá, chúng ta có thể đọc thầm lời nguyện như sau: “Xin Lời Chúa mở rộng lòng trí con, cho miệng lưỡi con biết công bố Lời Ngài, cho con biết giữ Lời Ngài trong tâm hồn con và thực thi Lời Ngài”.

(Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Bổng lễ (tiền xin lễ) để làm gì ?

Đáp:

Tất cả mọi thánh lễ được cử hành đều dành cho toàn thế giới, như Chúa Giêsu đã phán: “Mình Thầy bị phó nộp vì các con. Máu Thầy đổ ra để nhiều người được tha tội” (Lc 22, 19-20 và Mt 26, 26-28). Vì thế trong thánh lễ, Giáo hội cầu nguyện cho hết mọi người: hàng giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân cũng như cho những người đã qua đời. Tuy nhiên, vị chủ tế vẫn có thể kết hợp các ý nguyện chung này với một ý cầu nguyện riêng của tín hữu.

Thánh lễ vô giá. Nhưng ngay từ thời Giáo hội sơ khai, các tín hữu đã muốn chứng tỏ rằng việc tham dự thánh lễ bao gồm toàn vẹn bản thân, cũng như chính Chúa Kitô đã trao hiến trọn vẹn thân Người. Vì thế họ đã đem đến dâng hoặc bằng hiện vật (bánh, rượu, đèn nến…), khởi đầu cho việc kiệu rước lễ vật trong thánh lễ, hoặc bằng tiền để trang trải những chi phí phụng tự, giúp cho linh mục có điều kiện sinh sống, trang trải các hoạt động của Giáo hội. Đó là ý nghĩa lễ vật của họ khi họ ủy thác cho vị linh mục một ý chỉ nào đó.

Từ đó phát sinh “tiền xin lễ” khá phổ biến kể từ thế kỷ thứ XII. Các tòa giám mục tùy ý ấn định giá bổng lễ nhưng phải hợp với khả năng của mọi người. Vì lo rằng việc xin lễ có thể phát sinh những hình thức thương mại, nên nhiều người chủ trương dẹp bỏ thói quen này. Nhưng các hoạt động của Giáo hội cũng như của hàng giáo sĩ đều dựa vào những đóng góp tự nguyện của giáo dân, trong đó có việc dâng bổng lễ. Vì thế trong thực tế, thật khó mà xem thường phần đóng góp qúy báu này của giáo dân.

(Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Tại sao ngôn ngữ phụng vụ không thích nghi với ngôn ngữ ngày nay?

Ngôn ngữ phụng vụ phải thích nghi sao cho mọi tín hữu hiểu được, không phải chỉ dành riêng cho một nhóm người riêng biệt nào đó, qua chức vụ hay nhờ học tập nhiều mới thấu hiểu được. Vả lại thánh lễ biểu hiện sự hiệp thông của mọi tín hữu trong Chúa Kitô.

Nhưng mỗi người phải có một thời gian học hỏi mới có thể hiểu được một ngôn ngữ nào đó. Thí dụ: chúng ta không thể làm cho một người nào đó hiểu về ngôn ngữ của các lập trình trên máy vi tính, trong khi người đó chưa sử dụng máy vi tính bao giờ cả! Hoặc là, chúng ta không thể buộc người nào đó chưa từng chơi bóng đá phải hiểu ngay được bài tường thuật truyền hình về giải bóng tròn thế giới! Về ngôn ngữ phụng vụ cũng vậy thôi.

Cầu nguyện theo Kitô giáo không phải chỉ nói lên nguyện vọng của mình với Thiên Chúa. Nhưng lời cầu nguyện còn làm cho chúng ta liên kết với Thiên Chúa, vì qua lời cầu nguyện của chính Chúa Kitô, qua lời nói và việc làm của Người, mà người tín hữu lặp lại như lời cầu nguyện của chính mình vậy.

Chúng ta có được hướng dẫn thực sự trong việc cầu nguyện, trong việc đọc Kinh Thánh không? Chúng ta có tiếp tục đào sâu giáo lý sơ cấp mà chúng ta đã được học lúc còn bé thơ không?

(Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Tại sao buộc đi lễ ngày Chúa nhật?

imagesCA5U66VL
Đáp:

Ngày nay, nhiều tín hữu nhiệt thành không thích kiểu nói “buộc đi lễ ngày Chúa nhật”. Họ khó chấp nhận việc dâng lễ ngày Chúa nhật như là một bổn phận phải giữ! Thật vậy, người ta thường nói đến Kitô giáo với những bổn phận phải chu toàn.

Những kiểu nói “luật buộc”, “bổn phận” đúng ra nên được hiểu như là những dấu hiệu báo động: chúng không chỉ định một lý tưởng phải vươn tới, nhưng chỉ là một nhắc nhở lòng trung thành cần phải giữ và phát triển.

Khi đức tin sống động, thì không cần phải nói đến việc buộc giữ ngày Chúa nhật. Nếu yêu mến Chúa Kitô thì chúng ta không thể không đáp lại lời mời gọi của Người. Khi đang đói và được người ta dọn một bữa ăn thịnh soạn, hỏi rằng chúng ta có thực sự bị bắt buộc ăn hay không? Nếu chúng ta khao khát hạnh phúc và bình an, thì chỉ có Chúa Kitô mới có thể làm cho chúng ta thỏa lòng. Vậy có bị bắt buộc phải tiếp đón Chúa Kitô khi Người mời gọi chúng ta đến dự tiệc Thánh Thể của Người không? Tham dự thánh lễ không phải là dịp để chúng ta lấy lại sức cho đời sống thường nhật của chúng ta hay sao?

Trước câu hỏi: “Có buộc đi lễ các ngày Chúa nhật hay không?”, câu trả lời sẽ là “có” cho những ai không mắc ngăn trở thật sự để đến tham dự thánh lễ.

Vả lại, Giáo hội khuyên nhủ các tín hữu cử hành thánh lễ hằng ngày. Tham dự thánh lễ mỗi ngày là thông phần hoàn toàn với hành vi phụng vụ của Giáo hội để dâng lên bàn thờ tất cả đời sống và lịch sử của con người. Đối với các tín hữu có thể đi nhà thờ được, thánh lễ hằng ngày đặt sự phục sinh của Chúa Kitô ngay giữa các hoạt động trong ngày của họ: nghề nghiệp, gia đình, xã hội, v.v…

Trong mối quan hệ của chúng ta đối với Thiên Chúa, khi chúng ta bắt đầu tính toán để khỏi làm hơn bổn phận đòi hỏi, làm vừa vặn cho đúng luật buộc, khi chúng ta cố “mặc cả” về điều “được phép” và “điều cấm đoán” để tìm ra những điều dễ làm hơn, khi chúng ta muốn tìm ơn cứu rỗi “rẻ tiền”, thì lúc đó chúng ta nên xét lại tình trạng sức khỏe đức tin của chúng ta !

(Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Điều chỉnh Nghi thức Tam nhật Vượt qua: Từ nay nữ giới cũng được Rửa chân trong Thánh lễ Tiệc ly

Vrl1

 

WHĐ (22.01.2016) – Ngày 20 tháng Mười Hai 2014, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi thư cho Đức hồng y Robert Sarah, Bộ trưởng Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích, về Nghi thức Rửa chân trong Tam nhật Vượt qua.

Trong thư, Đức Thánh Cha viết:

“Sau khi suy xét kỹ lưỡng, tôi đi đến quyết định thay đổi phần chữ đỏ trong Sách Lễ Roma. Từ nay trở đi, những người được các mục tử chọn rửa chân không nhất thiết phải là quý ông hoặc trẻ nam, nhưng có thể từ mọi thành phần trong dân Chúa. Điều cần thiết là người được chọn phải được giải thích một cách thích đáng về ý nghĩa của nghi thức”.

Tiếp nhận chỉ thị của Đức giáo hoàng, ngày 6-01-2016 vừa qua, Đức hồng y Robert Sarah, Bộ trưởng Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích, đã ký Sắc lệnh “In Missa in Cena Domini” (Thánh lễ Tiệc ly), về việc điều chỉnh Nghi thức Rửa chân trong Thánh lễ Tiệc ly.

Điểm chính trong Sắc lệnh là:

“Để những người tham dự hiểu được đầy đủ ý nghĩa của nghi thức, Đức giáo hoàng Phanxicô đã xem xét việc điều chỉnh đối với phần chữ đỏ được ghi trong Sách Lễ Roma (trang 300, số 11) là: “Linh mục chọn các vị nam giới…”, nay được điều chỉnh như sau: “Linh mục chọn ra  những người từ dân Chúa…” (…), như vậy các mục tử có thể chọn một nhóm nhỏ nói lên sự đa dạng và hiệp nhất các thành phần của dân Chúa duy nhất. Những người được rửa chân có thể là nam giới và nữ giới, người trẻ và người già, người mạnh khỏe và người đau yếu, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân”.

Thành Thi

Những ai có thể lãnh nhận Bí tích Xức dầu bệnh nhân?

Dẫn nhập

Mỗi năm vào dịp Ngày Quốc Tế Các Bệnh Nhân, đồng thời cũng là ngày lễ kính Đức Mẹ Lộ Đức, ngày 11.02, tại một số giáo xứ, Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân thường được cử hành đồng thời cho nhiều anh chị em bệnh nhân. Việc cử hành cách tập thể như vậy thật có ý nghĩa không chỉ về phương diện tâm lý nhưng nhất là về phương diện phụng vụ. Về phương diện tâm lý, sự gặp gỡ với những anh chị em khác trong cùng hoàn cảnh sẽ giúp mỗi bệnh nhân được nâng đỡ rất nhiều về mặt tinh thần, vì thấy mình không lẻ loi trong cuộc chiến chống lại bệnh tật. Về mặt phụng vụ, việc cử hành mang tính tập thể diễn tả thật đẹp chiều kích Hội Thánh, sự hiệp thông, sự liên đới với nhau trong việc kết hợp với cuộc Vượt Qua của Đức Kitô. Và do đó Hội Thánh khuyến khích cách cử hành này khi có thể (NT 83) [1].

Tuy nhiên, trong những truờng hợp này, việc cử hành cũng cần phải hết sức cẩn trọng để Bí tích này không đuợc ban cho những người khỏe mạnh và nhất là những bệnh nhân ngoài Kitô giáo. Tại sao phải như thế? Nói cách khác, theo giáo huấn của Hội Thánh, những ai có thể lãnh nhận Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân? Hơn nữa, giáo lý của Hội Thánh cũng dạy: “các Bí tích mang lại hoa trái nơi những người lãnh nhận có sự chuẩn bị nội tâm cần thiết” (GLTC 1131) [2]. Như vậy, đâu là sự chuẩn bị nội tâm cần thiết cho việc lãnh nhận Bí tích này?

Đối diện với vấn đề này, chúng ta xin mạn phép góp một vài suy nghĩ liên quan đến người lãnh nhận Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, với ước mong để việc cử hành và việc sống Bí tích này đạt được nhiều hoa trái thiêng liêng. Chúng ta sẽ khởi đi từ giáo huấn của Thánh Kinh, đến Thánh Truyền và sẽ dừng lại với giáo huấn hôm nay của Hội Thánh.

I. Giáo huấn của Thánh Kinh

Nền tảng đầu tiên của các Bí tích hệ tại nơi mặc khải Thánh Kinh. Với Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, một trong những mặc khải ấy thể hiện nơi thư thánh Giacôbê: “Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha” (Gc 5,13c-15).

Chúng ta chỉ đề cập đến câu đầu tiên của bức thư này. Theo văn mạch, thánh Giacôbê đang viết đoạn thư này cho cộng đoàn Kitô giáo. Do vậy cụm từ ai trong anh em muốn nói đến một người Kitô hữu. Từ ngữ đau yếu được hiểu thế nào? Theo đa số các nhà chú giải, từ đau yếu được dùng ở đây để chỉ sự đau yếu về mặt thể lý; từ ngữ ấy được dùng để chỉ những người bệnh nặng, bệnh liệt giường. Thánh Kinh Tân Ước cũng đã sử dụng từ đau yếu này tổng cộng 35 lần để chỉ những trường hợp bệnh nhân được khiêng đến với Đức Giêsu [3].

Như vậy, theo mặc khải của Thánh Kinh, người lãnh nhận Bí tích này cần có hai điều kiện: 1/người Kitô hữu; 2/vì hiệu quả của Bí tích này là để bệnh nhân được Chúa nâng dậy, nên người lãnh nhận phải là người bệnh nặng về mặt thể lý.

II. Giáo huấn của Thánh Truyền

Nếu các Bí tích có nền tảng đầu tiên là mặc khải của Thánh Kinh; thì nền tảng thứ hai không thể thiếu của các Bí tích là mặc khải của Thiên Chúa được thể hiện qua Thánh Truyền. Với Thánh Truyền của Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, chúng ta tạm chia ba giai đoạn sau:

2.2. Giai đoạn I: từ thế kỷ II đến thế kỷ VII

Vào thế kỷ III (khoảng năm 215), tác phẩm Truyền Thống Tông Đồ được coi là của thánh Hyppôlytô vẫn xác định người lãnh nhận Bí tích này phải là người đau yếu về mặt thể lý, vì hiệu quả chính yếu của Bí tích này là để “mang đến sức mạnh cho những ai lãnh nhận và mang đến sức khỏe cho những ai sử dụng” [4]. Hai trăm năm sau, tư tưởng ấy được lập lại bởi Đức Giáo Hoàng Innocent I trong thư gởi cho Decentius de Gubbio vào ngày 19.03.416. Trong bức thư này, Đức Giáo Hoàng vẫn xác định Bí tích này chỉ được ban cho những ai đau yếu về mặt thể lý, nhưng Ngài thêm vào một qui định mới: những người đang trong thời kỳ thống hối thì không thể lãnh nhận Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân (DS 216) [5]. Trong giai đoạn này còn có tác phẩm Những Bài Giảng Của Giám Mục Césaire d’Arles (năm 470-543). Tác giả vẫn xác định người lãnh nhận Bí tích này là người đau yếu về thể lý, nhưng cũng xuất hiện ý tưởng mới: “các bạn thấy rằng ai trong cơn đau bệnh đến nhà thờ sẽ xứng đáng lãnh nhận sức khỏe thân xác và ơn tha thứ tội lỗi” [6]. Nói cách khác, đối với tác giả, Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân vừa có hiệu quả về mặt thể lý, vừa có hiệu quả thiêng liêng là tha thứ tội lỗi.

Như vậy, đến thế kỷ VII, giáo huấn của thánh Giacôbê vẫn được Hội Thánh duy trì: Bí tích Xức Dầu chỉ được ban cho các bệnh nhân Kitô hữu, vì hiệu quả chính yếu của Bí tích này là ban sức mạnh cho những ai lãnh nhận. Tuy nhiên, ở giai đoạn này cũng bắt đầu xuất hiện khó khăn: làm sao dung hòa quan điểm của Đức Giáo Hoàng Innocent I (không thể ban Bí tích Xức Dầu cho các tội nhân) và quan điểm của Đức Giám Mục Césaire d’Arles (Bí tích này cũng ban ơn tha tội). Cần một giai đoạn mới ra đời để giải quyết vấn đề này.

2.2. Giai đoạn II: từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XII

Bước sang thế kỷ VIII, Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân được Hội Thánh qui định: chỉ được cử hành bởi Linh Mục (và Giám Mục) [7]. Do đó, các sách Phụng Vụ bắt đầu ghép nghi thức Bí tích Xức Dầu với nghi thức trao Của Ăn Đàng và với nghi thức Bí tích Thống Hối, vì cả ba nghi thức đều do Linh Mục cử hành cho cùng bệnh nhân. Thứ tự cử hành gồm bốn bước: 1/ Linh mục nghe hối nhân xưng tội; 2/ ban Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân; 3/ ban ơn giao hòa của Bí tích Thống Hối; 4/ trao Của Ăn Đàng. Sở dĩ phải theo thứ tự này vì phải đảm bảo ý nghĩa của việc sám hối vào thời ấy: hối nhân sau khi xưng tội phải trải qua thời gian thống hối, trước khi lãnh ơn giao hòa, quãng thời gian biểu trưng ấy được tận dụng để ban Bí tích Xức Dầu [8].

Việc thực hành với thứ tự như vậy bắt đầu gặp khó khăn với Công Đồng Pavie năm 850. Dựa vào bức thư của Đức Giáo Hoàng Innocent I ngày 19.03.416 (DS 216), Công Đồng Pavie quyết định không ban Bí tích Xức Dầu cho những ai chưa lãnh nhận ơn giao hòa (DS 620). Do đó, người ta đã phải thay đổi thứ tự cử hành hiện thời. Từ nay, bốn bước cử hành sẽ theo thứ tự mới: 1/ Linh mục nghe hối nhân xưng tội; 2/ ban ơn giao hòa; 3/ trao Của Ăn Đàng; 4/ ban Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Vì được cử hành sau cùng, trước khi Bệnh nhân qua đời, nên Bí tích Xức Dầu dần dần bị coi như Bí tích chuẩn bị cho sự chết. Do đó, người lãnh nhận Bí tích này cũng dần dần được hiểu là người hấp hối chứ không chỉ bệnh nặng.

Như vậy, cho đến thế kỷ XII, Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân vẫn chỉ được dành cho người bệnh về mặt thể lý vì hiệu quả của Bí tích này vẫn là ban sức mạnh phần xác. Tuy nhiên, bắt đầu có sự thay đổi: người lãnh nhận Bí tích Xức Dầu không còn thuần túy là người bệnh nặng về thể lý, nhưng phải là người đang hấp hối. Các Công Đồng chung có chuẩn nhận không?

2.3. Giai đoạn III: từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XX

Trong giai đoạn này, có hai Công Đồng chung đề cập đến người lãnh nhận Bí tích:

1/ Công Đồng Florence (năm 1439) trong Décret pour les Arméniens đã định tín: “Bí tích thứ năm là Bí tích Xức Dầu Cuối Cùng (l’extrême – onction) với chất thể là dầu Oliu được Đức Giám Mục làm phép. Bí tích này chỉ được ban cho những bệnh nhân sắp lìa cõi thế. […] Về hiệu quả, Bí tích này là sự chữa trị cho tâm hồn. Tuy nhiên, nếu hữu ích cho linh hồn, Bí tích này cũng chữa trị phần xác” (DS 1324-1325). Như vậy, Công Đồng Florence đã chuẩn nhận tư tưởng đương thời: Bí tích này chỉ được ban cho những ai sắp lìa cõi thế. Hiệu quả chính của Bí tích là chữa trị tâm hồn, còn việc chữa lành phần xác chỉ tùy thuộc.

2/ Công Đồng Tridentinô (năm 1545-1563) định tín: “Bí tích này được trao ban cho những bệnh nhân, nhất là những ai lâm vào tình trạng nguy tử; vì thế Bí tích này cũng được gọi tên là Bí tích của những người sắp ra đi” (DS 1698). Như vậy, có một khác biệt nhỏ với Công Đồng Florence, Công Đồng Tridentinô phân biệt giữa người bệnh và người nguy tử, cả hai đều có thể lãnh nhận Bí tích này.

Nhận định: dù có thay đổi về cách gọi tên Bí tích, hai Công Đồng chung trong giai đoạn này vẫn luôn trung thành với truyền thống và đã định tín: vì hiệu quả của Bí tích là sự chữa lành phần hồn và phần xác, nên người lãnh nhận Bí tích này phải là người bệnh nhân Kitô hữu và thậm chí phải là người hấp hối. Giáo Huấn hôm nay có theo sát giáo huấn này không?

III. Giáo huấn hôm nay của Hội Thánh

Từ Công Đồng Vatican II, có hai mảng giáo huấn quan trọng sau đây:

A/ Hiến Chế Phụng Vụ của Công Đồng Vatican II dạy: “Bí tích Xức Dầu Cuối Cùng hay đúng hơn còn có thể gọi là Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân không phải chỉ là Bí tích dành riêng cho những người hấp hối. Do đó, thời gian thuận tiện để nhận Bí tích này chắc chắn là lúc tín hữu bắt đầu nguy tử vì bệnh tật hay già yếu” (PV 73) [9]. Như vậy, Công Đồng Vatican II đang canh tân điều Công Đồng Florence đã nói trước đó: từ nay sẽ là Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, vì người lãnh nhận là người bệnh (hoặc già yếu) chứ không hẳn là người hấp hối.

B/ Theo định hướng của Công Đồng Vatican II, Bộ Phụng Tự khi ban hành Nghi Thức Xức Dầu Bệnh Nhân và việc săn sóc họ theo mục vụ, vào ngày 07.12.1972, và đã qui định 6 trường hợp như sau về người lãnh nhận Bí tích này (NT 8-15):

1/ Bí tích này có thể ban lại nếu sau khi lãnh nhận Bí tích, bệnh nhân bình phục và sau đó lại bệnh trở lại; hay nếu trong cùng một căn bệnh kéo dài lâu, tình trạng nguy cập trở nên trầm trọng hơn.

2/ Bí tích này có thể ban cho bệnh nhân trước khi giải phẫu vì căn bệnh nguy hiểm.

3/ Bí tích này có thể ban cho người già cả khi sức lực đã yếu nhiều, dù không có bệnh nguy ngập.

4/ Bí tích này có thể ban cho trẻ em đến thời kỳ biết sử dụng trí khôn.

5/ Bí tích này có thể ban cho những bệnh nhân tuy dù đã bất tỉnh hoặc mất trí, miễn là khi họ còn tỉnh táo, với tư cách là những người có đức tin, có thể họ xin chịu Bí tích này.

6/ Đối với bệnh nhân đã chết, Linh Mục chỉ cầu xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho họ; và Linh Mục không ban Bí tích Xức Dầu cho họ. Còn nếu hồ nghi không biết bệnh nhân chết thật chưa, thì có thể ban Bí tích này với điều kiện.

Nhận định: giáo huấn ngày hôm nay của Hội Thánh về Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân không phải tự nhiên mà có. Giáo Huấn ấy được dệt nên từ nền tảng Thánh Kinh, Thánh Truyền. Đó là điều Hội Thánh đã sống và đã cử hành dưới tác động của Chúa Thánh Thần trong suốt hai ngàn năm qua.

Kết luận

Suốt hai ngàn năm qua điều kiện của người lãnh nhận Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân vẫn luôn thể hiện tính Duy Nhất trong giáo huấn của Hội Thánh. Điều kiện để Bí tích thành sự : 1/người lãnh nhận phải là người Kitô hữu (nghĩa là đã được Rửa Tội, vì Bí tích Rửa Tội là cửa ngõ của tất cả các Bí tích khác); 2/phải là người bệnh nặng về mặt thể lý (hoặc là người già yếu). Và để việc lãnh nhận được hợp pháp, người lãnh nhận cần: 1/ đến tuổi khôn; 2/ ở trong tình trạng ân sủng (xưng tội trước khi lãnh nhận Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân).

Như thế, vì mục đích và ý nghĩa riêng của mình, Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân không thể ban cho những bệnh nhân ngoài Kitô giáo, không thể ban cho những ai còn khoẻ mạnh. Thậm chí Bí tích này cũng không thể ban cho những ai sắp lâm vào cơn nguy tử nhưng không phải vì bệnh tật, ví dụ các người lính sắp ra trận hoặc những người sắp phải ra pháp trường… (trong những trường hợp này chỉ cần giải tội và ban Mình Thánh Chúa).

Để kết thúc, chúng ta mượn lời giáo huấn của Hội Thánh để tóm kết ý nghĩa của Bí tích này: “Qua việc xức dầu bệnh nhân và lời cầu nguyện của các Linh Mục, toàn thể Hội Thánh phó thác các bệnh nhân cho Chúa chịu nạn và vinh hiển để Người nâng đỡ và cứu chữa họ; hơn nữa, Hội Thánh còn khuyên bảo họ tự nguyện kết hợp với cuộc khổ nạn và sự chết của Đức Kitô, để mưu ích cho dân Thiên Chúa” (GLTC 1499).

20.03.2012
Linh Mục Giuse Đỗ Xuân Vinh
Đại Chủng Viện Thánh Giuse – Saigon

 

——————————————

[1] Bộ Phụng Tự, Nghi thức xức dầu Bệnh nhân và việc săn sóc họ theo mục vụ, 07.12.1972. Bản dịch của Ủy Ban Giám Mục về Phụng Vụ, Saigon, 1974, chúng ta viết tắt NT.

[2] Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, ban hành ngày 11.10.1992, do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Bản dịch của Hội Đồng giám mục Việt Nam, Ủy ban giáo lý đức tin, nxb Tôn Giáo, 2010, viết tắt GLTC.

[3] Hai trong số các tác giả mà chúng ta dựa vào: 1/B. Sesboüé, “L’onction des malades, tendresse de Dieu envers l’humanité souffrante”, in Invitation à croire. Des sacrements crédibles et désirables, Paris, Cerf, 2009, tr. 231-232 ; 2/ C. Ortemann, Le sacrement des malades. Histoire et signification, Paris, Ed. du Chalet, 1971, tr. 14-19.

[4] Hippolyte de Rome, La Tradition Apostolique, Paris, Cerf, 1946, coll. “Source Chrétienne”, n°11bis, Introduction, traduction et notes par B. Botte, tr. 34.

[5] Denzinger, Symboles et définitions de la foi catholique, Paris, Cerf, 1996, viết tắt DS.

[6] Césaire d’Arles, Sermons au peuple, Paris, Cerf, 1971, coll. “Source Chrétienne”, n° 175, Introduction, traduction par M-J. Delage, tr. 423.

[7] Cho đến thế kỷ VII, Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân có thể được cử hành bởi Giám Mục, bởi Linh Mục, bởi Phó Tế và thậm chí có thể bởi giáo dân. Nhưng từ thế kỷ VIII, nhất là do ảnh hưởng bởi cuộc canh tân của Hoàng Đế Charlemagne (768-814), hàng loạt Công Đồng qui định chỉ có Linh Mục (lẽ tất nhiên bao hàm Giám Mục) mới được cử hành Bí tích này: Capitulaire de Charlemagne (năm 769, canon 10); Concile de Chalon-sur-Saône (năm 813, canon 48); Concile d’Aix-la-Chapelle (năm 836, canon 5); Concile de Mayence (năm 847, canon 26).

[8] Chúng ta tham khảo J-P. Revel, Traité des sacrements. VI. L’onction des malades. Rédemption de la chair et par la chair. Paris, Cerf, 2009, tr. 77-88.

[9] Hiến Chế Phụng Vụ của Công Đồng Vatican II: Sacrosanctum Concilium, chúng ta viết tắt PV.

Dự lễ qua đài truyền hình hoặc truyền thanh có được coi là tham dự thánh lễ thật sự hay không?

Đáp:

Thánh lễ trên đài truyền hình hoặc truyền thanh là một thánh lễ đích thật, vì được truyền trực tiếp từ một giáo xứ hay một dòng tu. Nhưng đài truyền hình và truyền thanh không truyền hết được tất cả các phần và chi tiết của thánh lễ.

Thánh lễ được truyền hình và truyền thanh có những lợi điểm nhưng cũng có những giới hạn. Các phương tiện truyền thông này giúp cho những ai (bệnh nhân chẳng hạn) không thể đi đến nhà thờ có thể cầu nguyện trong sự hiệp thông với một cộng đoàn và liên kết với toàn thể Hội thánh. Họ được nghe các bài Sách Thánh Chúa nhật và nghe bài giảng chú giải thực dụng của Lời Chúa. Vả lại, các tín hữu, nơi mà thánh lễ được truyền hình hoặc truyền thanh, cũng có ý thức trong việc lôi kéo, khuyến khích lòng thành và đạo đức của những ai đang phải sống cô quạnh để họ hiệp thông với Hội thánh qua phương tiện truyền thông.

Nhưng thánh lễ qua đài truyền hình hoặc truyền thanh không thể thay thế việc đến nhà thờ tham dự thánh lễ. Không phải việc xét dự lễ như thế có được xem như đã giữ luật buộc dự lễ ngày Chúa nhật hay chưa, bởi những người không thể di chuyển được vì do bệnh tật, do phải sống xa nhà thờ hay do thời tiết cản trở, đều không buộc phải đi lễ ngày Chúa nhật. Như thế, chúng ta không có lý do gì ngồi ở nhà, thực hiện điều mà đáng lẽ chúng ta phải làm ở nhà thờ.

Yếu tố đầu tiên của mọi bí tích, đó là cộng đoàn tín hữu đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, và trong lời cầu nguyện, trong lúc nghe Lời Chúa và trong tình bác ái huynh đệ, họ cùng nhau cử hành sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu Kitô.

(Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Thiên Chúa yêu thích sự bé bỏng của chúng ta

Trong thánh lễ, có sự tham dự của 9 Hồng Y thuộc Hội đồng Tư Vấn cho Đức Thánh Cha. Vừa qua, các vị đã bắt đầu cuộc họp lần thứ 10 của mình với Đức Thánh Cha. Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng lòng thương xót giống như sự vỗ về hay một cái ôm ấm ấp của cha mẹ để trao ban sự ủi an và an toàn cho con cái.

 

Được gợi hứng từ bài đọc một trích sách tiên tri Isaia, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ rằng: “Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu và giàu tình thương. Thiên Chúa đã chọn dân của Ngài không phải vì dân đông đảo và mạnh mẽ, nhưng vì là dân nhỏ nhất trong tất cả các dân, dân đau khổ nhất trong tất cả các dân.

 

Thiên Chúa tiếp tục yêu mến sự khốn khổ này. Ngài yêu chính sự nhỏ bé của con cái Israel. Trong cuộc đối thoại với dân của mình, Thiên Chúa đã khẳng định: ‘Người ta sẽ nhận ra tình yêu, một tình yêu dịu dàng, một tình yêu như người cha, người mẹ vỗ về đứa con lúc đêm khuya khi nó giật mình thức giấc sợ hãi vì ác mộng. Và người cha, người mẹ ấy sẽ trấn an nó: ‘Cha mẹ luôn ở bên cạnh con. Cứ bình tĩnh, đừng hoảng sợ.’ Tất cả chúng ta đều biết sự âu yếm của cha mẹ khi con trẻ bồn chồn vì nỗi sợ hãi: ‘Đừng sợ, cha mẹ ở đây. Cha mẹ yêu sự bé bỏng của con. Sự bé bỏng của con làm cha mẹ say mê.’ Thậm chí, cha mẹ có thể nói : ‘Đừng sợ hãi tội lỗi của con. Ta yêu con nhiều lắm. Ta ở đây để tha thứ cho con.’ Và như thế, đó chính là lòng thương xót của Thiên Chúa.

 

Một vị thánh chắc chắn đã làm rất nhiều việc đền tội nhưng Thiên Chúa luôn đòi hỏi nhiều hơn, đến mức vị thánh ấy phải thân thưa với Chúa rằng mình chẳng có gì để dâng cho Chúa nữa. Và khi ấy Thiên Chúa bảo rằng: ‘Hãy dâng cho Cha tội lỗi của con.’ Thật vậy, Thiên Chúa rất mong muốn được cất những yếu đuối, tội lỗi, mỏi mệt ra khỏi chúng ta. Đức Giêsu biết bao lần đã nói điều này: ‘Hãy đến với Ta, hỡi tất cả các con đang vất vả nặng nề, mệt mỏi. Cha sẽ cho các con được nghỉ ngơi. Ta là Chúa, Thiên Chúa của các con, là Đấng luôn giữ các con bên mình. Đừng sợ hãi. Cha sẽ ban cho con sức mạnh. Hãy dâng lại cho Cha tất cả. Cha sẽ tha thứ và ban bình an cho con.’

 

Chúng ta rất hồi hộp khi một chuyện gì đó bị trục trặc. Chúng ta la hét om sòm. Chúng ta mất kiên nhẫn…Nhưng Thiên Chúa lại nói : ‘Bình tĩnh đi con, dù con đã phạm tội tày đình, vâng, nhưng cứ hãy bình tĩnh. Đừng sợ hãi, cha tha thứ cho con. Hãy dâng lỗi lầm ấy cho cha”. Đây là ý nghĩa của điều mà chúng ta vẫn nhắc đến trong Thánh Vịnh: ‘Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu và giàu tình xót thương.’ Mặc dù chúng ta rất nhỏ bé nhưng Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta tất cả. Ngài chỉ xin lại những đau khổ của chúng ta, sự bé bỏng của chúng ta, tội lỗi của chúng ta, để có thể ôm ấp chúng ta vào lòng, để vỗ về chúng ta mà thôi.”

 

Cuối cùng, Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng như sau: “Chúng ta hãy nài xin Chúa để Ngài khơi dậy trong mỗi người chúng ta và tất cả mọi dân nước niềm tin vào tình phụ tử, vào lòng thương của Thiên Chúa. Chính niềm tin vào tình yêu thương phụ tử và lòng thương xót của Thiên Chúa sẽ khiến chúng ta có thêm chút động lòng trắc ẩn khi đối diện với tha nhân.”

 

(Chuyển ngữ: Tiến Khải & Anh Phương, dongten.net 12.12.2015)

Lưu ý về tình trạng phát tán trên mạng nhiều bài phát biểu giả danh Đức Thánh Cha

duc-phanxico-co-ten-trong-danh-sach-100-tu-tuong-gia-lon-cua-the-gioi

 

Il Sismografo, trang blog tôn giáo tại Ý, mới đây đã đăng bài viết về tình trạng phát tán trên mạng nhiều bài phát biểu giả danh Đức Thánh Cha.

Nhận được thông tin này từ Il Sismografo, cơ quan thông tấn Vatican Insider News (La Stampa) đã đăng bài “Nhiều bài phát biểu giả danh Đức Thánh Cha lưu truyền trên mạng”.

Toàn văn bài viết nói trên của Vatican Insider News:

“Thật dễ dàng tìm thấy những câu, các phát biểu suy nghĩ và những lời cầu nguyện về hoà bình, tình yêu và gia đình, dù nói rõ của Đức Thánh Cha, nhưng thật ra là giả mạo. Il Sismografo, trang blog Ý chuyên cập nhật các hoạt động của Toà Thánh, hôm qua (02-01-2016) đã nhận được cả một khối lượng lớn các e-mail, hỏi có một bản văn được cho là của Đức Thánh Cha Phanxicô không biết có đúng như vậy không. Bản văn nêu trong thắc mắc, được nói là phần lớn lấy từ phát biểu của Đức Thánh Cha tại Thượng Hội đồng Giám mục thứ 14 mới đây về gia đình. Il Sismografo cho biết, từ khi Đức Phanxicô được bầu làm giáo hoàng, trên mạng bắt đầu lan truyền nhiều câu nói, lời cầu nguyện, phát biểu được gán cho ngài, nhưng chỉ cần đọc lướt qua cũng đủ thấy là giả mạo. Trường hợp được nêu trên cũng vậy, những suy tư được gán cho Đức giáo hoàng về gia đình, tình bạn, sự sống, những mối quan hệ con người, và nhiều vấn đề đại loại như thế, đều không có cơ sở và không thấy có trong giáo huấn của ngài. Lẽ tất nhiên, không tìm thấy những tuyên bố này trong sáu bài huấn từ của ngài tại Thượng Hội đồng Giám mục mới đây, hoặc trong bất cứ bản văn chính thức nào khác.

Il Sismografo đã đăng tất cả phát biểu của Đức Thánh Cha, kèm theo phát biểu giả mạo được gán cho là của Đức Thánh Cha, phát biểu giả mạo này được lưu truyền trên mạng với nhan đề “Đừng bao giờ hy sinh hạnh phúc, vì cuộc đời là một trò vui”. Có những suy nghĩ được gán cho Đức Thánh Cha, như: “Bạn có thể mắc sai sót, cảm thấy lo buồn và có khi bối rối, nhưng đừng bao giờ quên rằng đời bạn là công việc lớn lao nhất trên trần gian. Chỉ mình bạn mới ngăn nó không tụt dốc thôi. Vì vậy có nhiều người trân trọng, ngưỡng mộ và yêu mến bạn. Tôi muốn bạn nhớ rằng hạnh phúc không phải là có một bầu trời không bão tố, một con đường không có tai nạn xe cộ, một công việc nhàn hạ, những mối quan hệ chẳng có gì phải phàn nàn. Hạnh phúc là biết tìm kiếm sức mạnh trong sự tha thứ, niềm hy vọng qua tranh đấu, được an toàn khi gặp sợ hãi, yêu thương khi gặp bất đồng. Hạnh phúc không chỉ là biết trân trọng một nụ cười, mà còn biết suy gẫm về bất hoà. Không chỉ vui mừng khi thành công mà còn biết học hỏi từ những thất bại. Không chỉ phấn khởi khi được tán thưởng mà còn cả những lúc chẳng được ai đoái hoài”.
Thành Thi

 

http://tgpsaigon.net/

Phép lạ khiến cho “Obi Wan Kenobi” trở lại đạo Công giáo

Một điều mà nhiều người chưa biết về ông, là ở tuổi 42, ông đã trở lại đạo Công giáo, phần nào nhờ một phép lạ.

Obi-Wan-Kenobi

Guinness sinh năm 1914 tại Luân Đôn, trong một gia đình tan vỡ. Ông chưa bao giờ biết mặt cha mình và lớn lên trong cảnh nghèo. Dù được nhận phép thêm sức trong đức tin Anh giáo ở tuổi 16, nhưng ông vẫn không thực sự chắc về niềm tin của mình nơi đạo. Qua những năm về sau, ông đi quanh khắp từ Giáo hội Trưởng lão, chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa Marx, Phật giáo, và thậm chí còn dự vài buổi hội của phái Quaker. Nhưng là một công dân Anh mẫu mực của những năm đầu thế kỷ XX, ông không màng đến Công giáo.

Khi ông đang tập vai trong vở Hamlet, một linh mục Anh giáo đến gần giải thích với ông rằng ông đang lầm đường, và chỉ cho ông con đường đúng đắn. Cuộc gặp gỡ này có một tác động trên tâm hồn ông, và ông lấy lại được lòng ham thích nơi Anh giáo.

Ông còn đi xa hơn trong đức tin Anh giáo, giữa cuộc biến loạn của Thế chiến II. Nhưng đến năm 1945, ở tuổi 40, ông có một cảm nghiệm khác mở ông ra với Công giáo.

Lúc đó ông đang ở Pháp để quay bộ phim Cha Brown, tác phẩm dựa trên nhân vật linh mục có tài phá án của G. K. Chesterton. Ông đang đóng một vai phụ, và ăn mặc như một linh mục Công giáo. Khi bước ra đường trong bộ áo linh mục, một em bé thấy ông và tưởng nhầm ông là linh mục Công giáo thiệt. Bé chạy đến, nắm lấy tay ông đầy tin tưởng, và đi với ông hết đoạn đường.

Sự tin tưởng và tình cảm của đứa trẻ cho vị linh mục Công giáo, đã có tác động sâu sắc nơi ông, và khiến ông bắt đầu nghiêm túc nghĩ đến Công giáo. Về sau ông giải thích:

‘Cứ tiếp tục đi, tôi suy ngẫm rằng một Giáo hội có thể khiến cho một đứa trẻ tin tưởng đến thế, có thể tạo ra các linh mục dù chưa quen biết nhưng dễ gần đến thế, thì hẳn không phải là một giáo hội mưu đồ như người ta thường nói. Và tôi bắt đầu đánh sập dần dần những định kiến mà tôi đã được dạy, đã được hấp thụ từ lâu nay.’

Không lâu sau, con trai Mathew của ông bị bệnh bại liệt và gần hấp hối. Tuyệt vọng và tìm kiếm sự giúp đỡ của Chúa, ông bắt đầu đến một nhà thờ Công giáo để cầu nguyện.

Ông hứa với Chúa, nếu Chúa chữa lành cho Mathew, thì ông sẽ để con mình theo đạo Công giáo nếu bé muốn.

Và dù cho bác sỹ hết sức bi quan, nhưng như phép lạ, bé Mathew đã lành bệnh. Nên Guinness và vợ cho con mình theo học ở một trường dòng Tên. Và vài năm sau, ông, và vợ, và con mình, cả nhà đều trở lại Công giáo.

Sir Guinness vẫn là một tín hữu Công giáo trung thành cho đến tận cuối đời, năm 2000.

(J.B. Thái Hòa chuyển dịch, phanxico.vn 12.12.2015/ Church Pop)