Archive | September 2015

Người Công giáo Hoa Kỳ đang quan ngại về quyền tự do tôn giáo của mình

DTC_HoaKy1

9g15 sáng 23-09-2015 (giờ Washington D.C.), ngày đầu tiên chính thức tiến hành những hoạt động trong chuyến tông du sáu ngày tại Hoa Kỳ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến Nhà Trắng tại thủ đô Washington D.C. chào thăm Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.

Sau đây là toàn văn bài diễn văn của Đức Thánh Cha tại Nhà Trắng.

* * *

Thưa Tổng thống,

Tôi hết lòng cảm ơn ngài đã nhân danh toàn thể nhân dân Hoa Kỳ đón tiếp tôi. Là con trong một gia đình di dân, tôi vui mừng được làm khách đến thăm đất nước này, một đất nước chủ yếu do các gia đình di dân xây đắp nên. Tôi đặt hy vọng vào những ngày gặp gỡ và đối thoại này, qua đó tôi mong sẽ được lắng nghe và chia sẻ nhiều về hy vọng và mơ ước của nhân dân Hoa Kỳ.

Trong chuyến viếng thăm này, tôi được vinh dự phát biểu tại Quốc hội, ở đây, với tư cách là người anh em của đất nước này, tôi mong gửi những lời khích lệ đến những người được mời gọi thực thi sứ mệnh chính trị đưa quốc gia đi đến tương lai trong sự trung tín với những nguyên lý lập quốc. Tôi cũng sẽ đi Philadelphia tham dự Đại hội Thế giới Các Gia đình lần thứ VIII, để tôn vinh và nâng đỡ những định chế của hôn nhân và gia đình, vào chính thời điểm nghiêm trọng trong lịch sử nền văn minh của chúng ta.

Thưa Tổng thống,

Cùng với những người đồng hương của mình, người Công giáo Hoa Kỳ đang dấn thân xây dựng một xã hội khoan dung và hoà nhập, để bảo vệ những quyền của các cá nhân và cộng đồng, và loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử bất công. Cùng với đông đảo những người thiện chí khác, người Công giáo Hoa Kỳ cũng đang lưu tâm rằng những nỗ lực xây dựng xã hội theo một trật tự công bằng và sáng suốt phải tôn trọng những mối quan tâm sâu xa nhất và quyền được tự do tôn giáo của họ. Quyền tự do này là một trong những di sản quý báu nhất của Hoa Kỳ. Và, như các anh em giám mục Hoa Kỳ của tôi đã nhắc nhở chúng ta, tất cả mọi người đều được kêu gọi phải thận trọng, chính xác như những công dân tốt, để giữ gìn và bảo vệ quyền tự do này trước mọi đe dọa hoặc mọi điều có thể gây phương hại.

Thưa Tổng thống,

Tôi ủng hộ sáng kiến hạn chế ô nhiễm môi trường do Tổng thống đưa ra. Đây là điều khẩn cấp và dường như tôi thấy rõ sự thay đổi khí hậu là một vấn đề không để lại cho thế hệ sau được nữa. Về việc chăm sóc “ngôi nhà chung” của chúng ta, chúng ta đang sống ở một thời điểm lịch sử nghiêm trọng. Chúng ta vẫn còn thời gian để thực hiện những thay đổi cần thiết để mang lại “một sự phát triển bền vững và toàn diện, vì chúng ta biết mọi sự đều có thể thay đổi được” (Laudato Si’, 13). Một sự thay đổi như thế đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận nghiêm túc và có trách nhiệm không những về loại thế giới chúng ta để lại cho con cháu, mà còn cho hàng triệu người đang sống dưới một hệ thống không đếm xỉa đến họ. Ngôi nhà chung của chúng ta thuộc về nhóm bị loại trừ đang kêu thấu trời và hôm nay đang đập mạnh cửa nhà chúng ta, các thành phố và xã hội chúng ta. Mượn lời Mục sư Martin Luther King, chúng ta có thể nói rằng mình đã từng lỗi hẹn trả nợ theo giấy đòi và bây giờ là lúc phải trả món nợ đó.

Nhờ đức tin, chúng tôi biết “Đấng Tạo hoá không bỏ rơi chúng ta; Ngài không bao giờ từ bỏ chương trình yêu thương của Ngài hoặc ân hận vì đã dựng nên chúng ta. Nhân loại vẫn còn khả năng cộng tác với nhau xây dựng ngôi nhà chung” (Laudato Si’, 13). Là những Kitô hữu được niềm xác tín này thúc đẩy, chúng tôi muốn dấn thân chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta một cách ý thức và có trách nhiệm.

Thưa Tổng thống,

Những nỗ lực gần đây đã được thực hiện nhằm hàn gắn những mối tương quan đã bị đổ vỡ và mở ra những cánh cửa mới trong gia đình nhân loại chúng ta, cho thấy những bước tích cực đi theo con đường hoà giải, công lý và tự do. Tôi mong tất cả mọi người nam nữ có thiện chí của đất nước lớn lao này ủng hộ những nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm bảo vệ tầng lớp dễ bị tổn thương trong thế giới chúng ta và thúc đẩy những mô hình phát triển mang tính căn bản và toàn diện, nhờ đó anh chị em chúng ta ở khắp mọi nơi có thể nhận biết những ân phúc hoà bình và thịnh vượng Chúa muốn ban cho mọi con cái của Ngài.

Thưa Tổng thống,

Một lần nữa tôi cảm ơn Tổng thống đã chào đón tôi, và tôi đặt nhiều kỳ vọng vào những ngày lưu lại quý quốc. Xin Thiên Chúa chúc lành cho đất nước Hoa Kỳ!

Thành Thi chuyển ngữ

Nguồn: WHĐ

Một Số Tác Phẩm Được Truyền Cảm Hứng Từ Bức Hình Em Bé Người Syrian Aylan Kurdi Nằm Sấp Ở Bãi Biển

Người sử dụng Internet trong những tuần vừa qua đã sáng tạo một số bức vẽ (bằng tay và photoshop) được truyền cảm hứng từ bức hình cái chết của em bé người Syrian tên Aylan Kurdi nằm sấp trên bãi biển. Em cùng các anh em trai của mình đã chết trên con đường tỵ nạn bằng đường biển cùng gia đình. Cha em may mắn sống sót.

Bebe1

bebe4

bebe2

Xin Bấm Vào Link dưới đây để xem được nhiều tác phẩm hơn:

http://www.dailymail.co.uk/news/article-3220746/God-little-angel-world-shows-grief-anger-death-tragic-Syrian-toddler-Aylan.html

Hình ảnh hôn nhân và gia đình

Hai bạn thanh niên nam nữ tìm gặp được nhau, sau thời gian quen biết tìm hiểu nhau, họ nói với nhau lời „ưng thuận“ muốn cùng nhau sống chung dưới một mái nhà trên cùng một con đường đời sống.

Ngày thành hôn, họ tay trong tay cùng nhau đi đến thánh đường. Trước bàn thờ Thiên Chúa và trước Cộng đoàn Giáo Hội, họ công khai nói với nhau lời „ ưng thuận“ nhận nhau làm vợ chồng suốt cả đời sống cho tới chết.

Vậy đâu là ý nghĩa lời ưng thuận hai vợ chồng người nói với nhau, và mang dẫn đến hiệu qủa gì về mặt đạo đức?

„ Lời ưng thuận của hai vợ chồng trao cho nhau bao trùm toàn thể bình diện không gian đời sống con người. Lời ưng thuận đó trong bối cảnh toàn diện tạo ra không gian cho lòng trung thành. Chỉ trong không gian này lòng tin tưởng có thể lớn mạnh, và từ đó kiến tạo một tương lai cũng như làm nảy sinh hoa trái của tình yêu là những người con.

Sự tự do của lời ưng thuận nói lên dấu chỉ cao qúy của sự tự do không do động lực của sự đi tìm kiếm theo sở thích lòng ham muốn chóng qua. Nhưng nhiều hơn thế nữa, đó là khả năng đi đến quyết định trao tặng hiến dâng trọn vẹn, và khi tự trao tặng hiến dâng họ tìm lại được chính mình.

Lời ưng thuận hôn nhân của người nam và nữ trao cho nhau tạo nên không gian cho tương lai bản tính chân thực của mỗi người, và đồng thời cũng là không gian cho món qùa tặng là một sự sống mới nẩy sinh. Do vậy lời ưng thuận vợ chồng trao cho nhau phải là lời ưng thuận mang tính cách cá nhân cùng công khai. Với Lời ưng thuận đó hai vợ chồng chấp nhận công khai trách nhiệm về sự trung thành với nhau cho tương lai gia đình được bảo đảm. Không ai trong chúng ta chỉ cho mình, nhưng tận trong thâm tâm được kêu gọi đảm nhận trách nhiệm riêng của mình cách công khai.

Hôn nhân như một cơ chế không là sự can thiệp vào nội bộ chống lại luật lệ trong xã hội hay quyền hành đặt để một hình thái đời sống từ bên ngoài hay lãnh vực cá nhân riêng tư. Hôn nhân nhiều hơn là quyền lợi đòi hỏi riêng tư cá biệt của khế ước hôn nhân tình yêu và sự sâu thẳm của cá nhân con người.“ ( Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI. Diễn từ ngày mục vụ về Gia đình trong Giáo phận Roma, 6.6.2005.)

Khi hai người nam nữ đã trao cho nhau lời ưng thuận làm vợ chồng với nhau, họ cũng muốn nói lên:

Chiều phía từ người chồng hướng về vợ mình:

1. Người chồng nhìn nhận vợ mình, người bạn đường đời mình, như đã thành hình.
2. Người cHồng Yêu thương vợ mình như vợ mình là với thân xác hình dáng cùng tính tình như trong lúc hiện tại
3. Người chồng vui mừng hãnh diện về vợ mình, với những thay đổi về thân xác hình dáng cùng tính tình trong tương lai.

Rồi từ chiều người vợ hướng về chồng mình:

1. Người vợ nhìn nhận chồng mình, người bạn đường đời mình, như đã thành hình.
2. Người vợ yêu thương chồng mình như chồng mình là với thân xác hình dáng cùng tính tình, như trong lúc hiện tại
3. Người vợ vui mừng hãnh diện về chồng mình với những thay đổi về thân xác hình hài cùng tính tình trong tương lai.

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

Nhận định về phong trào ”Sứ Điệp Từ Trời”

question-mark-sign

Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên toàn thế giới. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã nghe nói hoặc đã từng đọc qua các “Sứ điệp từ trời”. Điều đó ít nhất cũng cho thấy tầm ảnh hưởng và tính chất thu hút của phong trào mới này. Điều đáng nói là có nhiều người đã tin và đang góp phần quảng bá cho các “Sứ điệp trời”. Riêng tại Việt Nam, phong trào “Sứ điệp từ trời” cũng đang rộ lên như một hiện tượng đáng quan ngại. Tại nhiều giáo xứ, người ta thấy xuất hiện các hội cầu nguyện Mân Côi, nhưng thực chất là hội quảng bá các “Sứ điệp từ trời”. Điểm nổi bật của các hội này là thái độ chống Đức Giáo Hoàng, và đây cũng là một trong các chủ đề thường gặp trong các “Sứ điệp từ trời”. Nhiều tín hữu đã “lỡ” đọc các “Sứ điệp từ trời” thì cảm thấy hoang mang vì rơi vào cảnh “tiến thoái lưỡng nan”. Nếu không tiếp tục đọc thì sẽ có nguy cơ bị án phạt như các sứ điệp đã đe dọa, còn nếu tiếp tục thì không biết các sứ điệp sẽ dẫn mình tới đâu. Bởi vậy, sau khi đã tìm hiểu các “Sứ điệp từ trời” và tham khảo một số bài viết được phổ biến trên mạng internet, chúng tôi muốn viết bài nghiên cứu này như một sự góp phần soi sáng vấn đề, và cũng để cung cấp ít nhiều tư liệu cho những vị có thẩm quyền hầu có thể thẩm định vấn đề cách khách quan.

Trong phần trích dẫn các sứ điệp, đôi khi vì yêu cầu chính xác của văn bản, chúng tôi phải dịch lại từ nguyên bản tiếng Anh thay vì lấy từ trang <> bằng tiếng Việt.

I. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ PHONG TRÀO “SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI”

1. Người sáng lập phong trào “Sứ điệp từ trời” là ai?

Phong trào “Sứ điệp từ trời” gắn với một cái tên mà hiện nay đã trở thành nổi tiếng: “Maria Lòng Chúa Thương Xót”[1]. Đây chính là người sáng lập phong trào. Thoạt đầu, hầu như không ai biết được được đích xác Maria Lòng Chúa Thương Xót là ai. Trên trang mạng chính thức của phong trào, nhân vật này đã tự giới thiệu mình là một phụ nữ Châu Âu, theo đạo Công Giáo, đã có gia đình, và là một doanh nhân. Theo bà, tên gọi “Maria Lòng Chúa Thương Xót” không phải tên thật, mà chỉ là một biệt danh. Bà cho biết rằng Chúa Giêsu muốn bà giữ kín danh tánh để bảo đảm sự an toàn cho gia đình, cũng như để người ta chỉ tập trung vào các sứ điệp mà thôi. Dầu vậy, cũng có người đã cố tìm hiểu xem bà là ai; và hiện nay người ta đã xác định được khá chắc chắn rằng bà là một phụ nữ Ái Nhĩ Lan, hiện sống tại thành phố Dublin. Thậm chí có người còn biết rõ tên tuổi thực của bà.

Theo Maria Lòng Chúa Thương Xót, Chúa Giêsu đã tỏ cho bà biết rằng bà là vị Sứ Giả thứ bảy, tức vị Thiên Sứ thứ bảy, được phái đến để mặc khải cho thế gian nội dung của các Ấn trong sách Khải Huyền. Đây là những Ấn mà chỉ mình Con Chiên Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, mới có quyền mở. Chính Ngài sẽ lần lượt mở các Ấn đó; và mỗi lần mở Ấn nào thì Ngài đều mặc khải cho bà để bà thông đạt lại cho người khác. Cũng vì vậy, Đức Giêsu đã xác định với bà rằng bà là vị ngôn sứ của thời cuối cùng (Sứ điệp ngày 13-07-2012).

Kể từ tháng 11 năm 2010, bà Maria Lòng Chúa Thương Xót đã liên tục nhận được các sứ điệp từ trời. Các sứ điệp này chủ yếu do Chúa Giêsu tỏ cho biết, nhưng cũng có khi do Chúa Cha hoặc do Đức Trinh Nữ Maria. Tính đến nay đã có hơn 1.100 sứ điệp khác nhau. Nội dung chính của các sứ điệp xoay quanh việc cảnh cáo thế giới tội lỗi, kêu gọi ăn năn hối cải, và tiên báo sự gần kề của ngày Chúa trở lại. Theo bà Maria, các sứ điệp nhằm chuẩn bị cho thế giới sẵn sàng chờ đón ngày Chúa trở lại, sau khi đã trải qua thời kỳ cảnh cáo và thanh luyện. Cho đến nay, bà vẫn không ngừng nhận được các sứ điệp mới.

2. Việc quảng bá Phong trào Sứ điệp từ trời

Nhờ vào các phương tiện thông tin đại chúng, cho đến nay phong trào Sứ điệp từ trời đã được quảng bá rộng rãi trên toàn thế giới. Trang FaceBook “Chúa Giêsu đối với nhân loại” (Jesus to Mankind) của bà Maria Lòng Chúa Thương Xót đã thu hút khá nhiều người đọc. Tính đến nay, bà đã nhận được hơn 17.000 ý kiến yêu thích. Ngoài ra, bà còn lập trang mạng <> để quảng bá các sứ điệp của mình. Có một nhóm thiện nguyện viên người Việt đã dịch trang mạng này sang tiếng Việt và cập nhật liên tục, với tên gọi <>. Các sứ điệp đã công bố còn được sưu tập lại và xuất bản thành sách. Cho đến nay đã có ba tập sách (I, II và III) lần lượt được xuất bản với tựa đề “Sách sự thật” (The Book of Truth).

Nhờ trang mạng bằng tiếng Việt nói trên, ngay tại Việt Nam, có khá nhiều người, thậm chí cả ở vùng quê, đã biết đến phong trào này và thường xuyên theo dõi các sứ điệp mới trên trang mạng của phong trào. Tại nhiều giáo xứ, bắt đầu xuất hiện các nhóm cầu nguyện mệnh danh là “Hội cầu nguyện Mân Côi” nhưng thực chất là các nhóm quảng bá các sứ điệp từ trời. Thậm chí các sứ điệp từ trời còn được phổ biến trên một số tòa giảng. Hiện tượng này một mặt cho thấy tính chất lôi cuốn của phong trào mới, nhưng mặt khác cũng đồng thời là một hiện tượng đáng báo động cho các cơ quan có thẩm quyền trong Hội Thánh.

II. PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM SAI LẠC VỀ ĐẠO LÝ TRONG SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI

Như đã nói trên đây, nội dung chính của sác Sứ điệp từ trời xoay quanh ba chủ đề chính: cảnh cáo thế giới tội lỗi, kêu gọi ăn năn hối cải, loan báo sự gần kề của biến cố Chúa tái lâm. Nếu chỉ nhìn thoáng qua thì những nội dung ấy cũng chẳng có gì là mới lạ và cũng không đi ngược lại với giáo lý chung của Hội Thánh. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ nội dung cụ thể của các sứ điệp, người ta thấy lộ ra rất nhiều điểm sai lạc về giáo lý. Điều nguy hiểm ở đây, đó là những điểm sai lạc này trộn lẫn với những giáo lý chân thực, tạo nên tình trạng “vàng thau lẫn lộn”, khiến những ai không tinh ý có thể dễ dàng nhiễm phải nọc độc của chúng. Ở đây chúng tôi chỉ giới hạn trong việc nêu lên những sai lầm tỏ tường và nghiêm trọng mà thôi. Để dễ nắm bắt vấn đề, chúng tôi phân chia các điểm sai lạc này thành những đề mục khác nhau tùy theo những khía cạnh liên quan. Tuy nhiên, việc sắp xếp này cũng chỉ có tính chất tương đối, vì các sai lạc trong khía cạnh này có thể cũng liên hệ đến khía cạnh khác, do mối liên hệ chặt chẽ của tổng thể các chân lý đức tin Kitô giáo.

1. Những điểm sai lạc liên quan đến Mặc Khải

a) Lập trường “duy Kinh Thánh” (sola scriptura). Đây là lập trường có nguốn gốc từ Phái Tin Lành do Luther khởi xướng. Cách chung, lập trường này cho rằng chỉ duy mình Kinh Thánh mới là quy chuẩn của đức tin. Những gì không trực tiếp bắt nguồn từ Kinh thánh thì không có giá trị ràng buộc về phương diện đức tin và luân lý. Lập trường này hiển nhiên cũng chối bỏ giá trị quy phạm của Thánh Truyền cũng như Quyền Giáo huấn của Hội Thánh. Một lập trường như thế đã được thể hiện dưới những hình thức khác nhau trong các Sứ điệp từ trời. Chẳng hạn, sứ điệp ngày 25-12-2010 tuyên bố như sau: “Bất kỳ giáo lý nào không bắt nguồn từ Kinh Thánh mà lại tự cho là có thẩm quyền công bố chân lý thì đều là dối trá. Đây là tội chống lại Ta [Chúa Giêsu] và là sự chống báng nặng nề đối với Ta và Chúa Cha Hằng Hữu của Ta”. Quan điểm này cũng được lặp lại trong sứ điệp ngày 13-09-2011 với những lời như sau: “Đừng bao giờ cho phép mình chấp nhận bất kỳ sự thật nào khác ngoài những điều có trong Kinh Thánh”.

Hẳn nhiên, một lập trường như thế đi ngược lại với giáo lý của Hội Thánh Công Giáo vốn nhìn nhận Thánh Kinh cùng với Thánh Truyền làm nên một kho tàng đức tin duy nhất. Ngoài ra, đức tin Công Giáo cũng tin nhận Hội Thánh là thầy dạy chân lý, có thẩm quyền chính thức để giải thích những gì chứa đựng trong kho tàng Mặc khải được chính Chúa Kitô ủy thác cho Hội Thánh (xc. GLHTCG, số 80; 85).

b) Coi các mặc khải tư ngang hàng với Kinh Thánh. Một sai lầm nghiêm trọng khác của các Sứ điệp từ trời, đó là coi các mặc khải tư như là có giá trị ngang hàng với Kinh Thánh. Thực ra, việc thẩm định các sứ điệp của bà Maria có phải là mặc khải tư hay không, đó là điều còn phải xem xét. Tuy nhiên, xem ra bà Maria đã tự nhận những sứ điệp của mình là mặc khải tư; và thậm chí bà còn coi “cái gọi là mặc khải tư” này ngang hàng với Kinh Thánh.

Thật vậy, trong một số sứ điệp được được bà Maria phổ biến, người ta đọc thấy rằng Chúa Giêsu đã truyền cho bà viết một cuốn sách; cuốn sách này thực ra không phải do bà viết, nhưng là do chính Chúa viết. Cuốn sách đó có giá trị ngang với Kinh Thánh và là một phần của Kinh Thánh. Lời khẳng định này được lặp lại nhiều lần trong các sứ điệp khác nhau với những lời lẽ hơn kém. Chẳng hạn sứ điệp ngày 12-11-2010 nói như sau: “Con phải dồn hết tâm lực để viết cuốn sách. Cuốn sách này sẽ giúp cải biến cuộc đời nhiều người, sẽ cứu rỗi các linh hồn; và đây là điều đã được báo trước. Đúng vậy, cuốn sách là điều đã được tiên báo. Con là người viết. Ta là Tác giả. Con đừng ngạc nhiên hoặc choáng ngợp, vì đây là một trách vụ thiêng thánh, và con đã được chọn để làm việc này cùng với Ta. Con sẽ phải mất ba tháng để hoàn tất. Ta muốn con xuất bản cuốn sách trên toàn thế giới. Cuốn sách đó phải được phổ biến rộng khắp, đầy sức mạnh, và được hằng triệu người tìm đọc cũng như sách Kinh Thánh vậy. Này con gái của Ta, con có thể xuất bản cuốn sách dưới danh nghĩa ‘cuộc đối thoại với vị ngôn sứ bí mật’. Con cứ việc làm như thế” (có thể xem thêm sứ điệp ngày 09-02-2013).

Người viết ra sứ điệp trên đây hẳn đã hiểu không đúng về bản chất của Kinh Thánh cũng như vị thế của mặc khải tư. Kinh Thánh là chính Lời Thiên Chúa được mặc khải cho con người và được ghi lại dưới tác động linh hứng của Thánh Thần. Do vậy, chính Thiên Chúa là tác giả thực sự của Kinh Thánh. Về phần bà Maria, việc bà tuyên bố cuốn sách bà sẽ viết có Thiên Chúa là tác giả thì cũng đồng nghĩa với việc cho rằng cuốn sách đó được viết ra với ơn linh hứng chẳng khác gì Kinh Thánh vậy. Đây quả là một sự mạo nhận có tính chất phạm thượng.

Theo giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, mặc khải công đã nên hoàn trọn cách viên mãn cùng với sự xuất hiện của Đức Giêsu Kitô. Kể từ đây, nhân loại không còn phải trông đợi mặc khải nào khác. Bởi đó, những gì liên quan đến đức tin được Thiên Chúa tỏ bày sau này cho các thánh hay một ai đó thì được gọi là mặc khải tư. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo xác định như sau: “Theo dòng lịch sử, đã xuất hiện những điều gọi là ‘mặc khải tư’, một số trong đó được thẩm quyền của Hội Thánh công nhận. Tuy vậy, những mặc khải đó không thuộc kho tàng đức tin. Chức năng của chúng không phải là “cải thiện” hoặc “bổ sung” mặc khải vĩnh viễn của Đức Kitô, nhưng để giúp người ta, vào một thời điểm lịch sử nào đó, sống mặc khải của Đức Kitô cách trọn vẹn hơn” (số 67).

2. Những sai lầm liên quan đến Đức Kitô

a) Sai lầm về mục đích của việc nhập thể. Sứ điệp ngày 24-12-2010 đã bộc lộ một quan niệm sai lạc về mục đích của việc Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Bằng một lối diễn tả mơ hồ, sứ điệp này cho rằng việc Con Thiên Chúa nhập thể làm người và cuối cùng chịu chết trên thập giá chỉ nhằm khai lòng mở trí, hay thức tỉnh lương tâm của con người để họ nhận biết ơn cứu độ mà Chúa Cha từ ngàn xưa đã hứa ban cho toàn thể nhân loại. Như vậy, việc nhập thể và cái chết của Đức Giêsu chỉ có giá trị giáo huấn và gương mẫu chứ không đem lại hiệu quả là ân sủng tha tội và tái sinh con người vào đời sống mới. Đây quả là một cái nhìn thiếu sót về công trình cứu độ của Đức Giêsu. Có thể trưng ra đây những lời tiêu biểu trong sứ điệp này như sau: “Việc Ta đến trần gian đã được sắp đặt như một cơ hội cuối cùng để thức tỉnh thế gian, ngõ hầu mọi người nhận ra rằng Thiên Chúa tha thứ mọi tội lỗi. Vai trò của Ta là để chỉ cho các con con đường lên Trời, nhờ vào giáo huấn và cái chết của Ta trên thập giá”.

b) Quan niệm sai lạc về cuộc Quang lâm của Chúa. Các sứ điệp của bà Maria còn quảng bá một quan niệm hết sức sai lạc về biến cố Quang lâm của Chúa. Các sứ điệp này cho rằng sau khi thời kỳ cảnh cáo và thanh luyện kết thúc thì sẽ là thời Chúa Kitô tái xuất hiện trên địa cầu. Tuy nhiên, cuộc tái lâm này chưa phải đánh dấu thời cùng tận của thế giới để rồi khai mào cảnh “Trời mới đất mới” kéo dài đến thiên thu vạn đại. Trái lại, theo sứ điệp của bà Maria, thời kỳ khai mào cùng với cuộc Quang lâm của Chúa cũng chỉ kéo dài 1.000 năm. Đó là thời kỳ mà Chúa Kitô cai quản địa cầu, và quyền lực Satan bị bứng tận gốc khỏi trần gian. Đây chính là sự mô phỏng lại lạc thuyết “ngàn năm” vốn đã bị Hội Thánh phi bác từ xưa. Thuyết “ngàn năm” này được thể hiện rõ ràng trong sứ điệp ngày 20-05-2011, trong đó có những đoạn như sau:

“Nhiều bối rối tồn tại trên thế giới liên quan đến biến cố này. Nhiều người tin rằng Cuộc Quang Lâm của Ta chỉ ra rằng thời tận cùng của thế giới đã đến. Nhưng không phải như vậy, thay vào đó Cuộc Quang Lâm của Ta có nghĩa nói về thời kỳ cuối khi Satan và thuộc hạ của hắn, những kẻ đã tạo ra những đau khổ không kể xiết trên thế giới, sẽ bị trục xuất khỏi Trái Đất trong vòng 1.000 năm.

Con gái của Ta, Ta sẽ cai trị trái đất trong 1.000 năm. Hãy biết chắc rằng giờ đây Ta đang trông coi các biến cố khi chúng xảy ra trên thế giới. Giờ đây Ta đã chuẩn bị đường lối cho Vương Quốc Mới của Ta trên trái đất và thời gian đó đã gần đến rồi, gần hơn rất nhiều so với những gì người ta có thể nhận ra. Hãy hân hoan vì tin tức này sẽ được tất cả mọi người đón nhận. Đau khổ trên thế giới này sẽ chấm dứt. Một nguồn tình yêu và vinh quang để sẻ chia cho tất cả con cái của Ta, sẽ trào dâng”.

Cần lưu ý rằng thuyết “ngàn năm” này từng bị các vị thánh tiến sĩ thời danh như Augustinô, Tôma Aquinô lên tiếng phi bác. Huấn quyền của Hội Thánh cũng minh nhiên kết án lạc thuyết này, như thấy trong Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo: “Sự đánh lừa của tên Phản Kitô đã được phác họa trên trần gian mỗi khi người ta cho rằng mình thực hiện được trong lịch sử niềm hy vọng về Đấng Mêssia, một niềm hy vọng vốn chỉ có thể được hoàn thành vượt quá giới hạn lịch sử, nhờ cuộc phán xét cánh chung: Hội Thánh đã bác bỏ sự giả mạo này về Vương quốc tương lai, và cả dưới một hình thức giảm nhẹ của sự giả mạo đó, có tên là thuyết ngàn năm, nhất là dưới một hình thức chính trị của một chủ thuyết Mêssia đã bị tục hóa ‘đồi bại tự bản chất’” (số 676).

3. Những điểm sai lạc liên quan đến Hội Thánh

a) Chối bỏ quyền giáo huấn của Hội Thánh. Bằng những cách khác nhau, bà Maria đã chối bỏ thẩm quyền bất khả ngộ của Hội Thánh xét như thầy dạy chân lý. Như chúng tôi đã phân tích trên đây, qua lập trường “duy Kinh Thánh”, bà Maria cũng đồng thời hoặc ít nhất là gián tiếp phủ nhận quyền giáo huấn của Hội Thánh. Sự phủ nhận quyền giáo huấn có tính quy phạm của Hội Thánh dường như còn được diễn tả cách mặc nhiên qua việc bà chủ trương theo kiểu cào bằng rằng “…không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác” (Sứ điệp ngày 06-04-2011).

Mặt khác, bà Maria còn đưa ra những lời nhận định sai lạc hoặc những lời cáo buộc thiếu căn cứ về cách thức Hội Thánh thực thi vai trò giáo huấn. Trong nhiều sứ điệp và cụ thể là sứ điệp ngày 26-01-2012, bà Maria xem ra muốn ám chỉ rằng Tòa Thánh đang bị một số phần tử xấu lũng đoạn, cho nên những gì mà các cơ quan thẩm quyền của Tòa Thánh giảng dạy chỉ là bóp méo sự thật về giáo huấn của Chúa; những canh tân Phụng vụ, nhất là nghi thức thánh lễ chỉ là phương pháp phượng tự Công Giáo bất xứng, xúc phạm đến Chúa Giêsu và Chúa Cha. Cũng trong sứ điệp này, bà còn cho rằng Hội Thánh không dạy sự thật; Hội Thánh đã không bao giờ giảng dạy về tính chất nghiêm trọng của tội lỗi (xem thêm các sứ điệp ngày 18-02-2013; ngày 30-09-2013). Thực ra, bà Maria nói như thế tức là bà đã không hiểu rằng Hội Thánh không chỉ là cơ chế hữu hình được vận hành bởi con người, mà trên hết còn là một thực tại thiêng thánh được Thánh Thần hướng dẫn.

b) Chối bỏ quyền của Hội Thánh trong việc quản lý và phân phát các mầu nhiệm thánh. Thật vậy, sứ điệp ngày 31-01-2012 đã cho thấy một quan niệm sai lạc về việc ban các ân xá. Theo sứ điệp này, việc ban ân toàn xá không phải do Hội Thánh mà là do chính Chúa Giêsu ban cho một số người được tuyển chọn để kêu gọi người khác hoán cải. Việc nhận ơn toàn xá này đi kèm với điều kiện phải đọc một kinh đặc biệt trong bảy ngày liền. Kinh này cũng được xác định rõ trong sứ điệp. Thực ra, những điều nói trong sứ điệp này thực chất chỉ là một sự mạo danh Chúa Giêsu để tự dành cho mình quyền ban ân xá, chứ Chúa Giêsu chẳng bao giờ làm điều đó.

Thật vậy, những điều trong sứ điệp này hoàn toàn trái ngược với ý định của Chúa Giêsu trong việc thiết lập Hội Thánh như là trung gian của ơn thánh (Mt 16,19; 18,18). Chúa Giêsu không ủy thác cho một thẩm quyền nào khác ngoài Hội Thánh được ban các ân xá cũng như quy định các điều kiện đi kèm. Chắc hẳn Chúa Giêsu sẽ không phá đổ hay làm ngược lại những gì Ngài đã thiết lập. Về điểm này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo dạy như sau: “Ân xá là việc tha thứ trước mặt Thiên Chúa khỏi những hình phạt tạm đáng chịu vì những tội lỗi đã phạm, dù những tội đó đã được tha thứ. Để hưởng nhờ ân xá, Kitô hữu phải hội đủ những điều kiện được thẩm quyền của Hội Thánh quy định, vì với tư cách là thừa tác viên của Ơn cứu chuộc, Hội Thánh có thẩm quyền phân phát và chia sẻ kho tàng công phúc của Đức Kitô và các thánh” (số 1471).

c) Đưa ra những phán đoán sai lạc về các Đấng kế vị Thánh Phêrô. Trước khi xảy ra biến cố Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI tuyên bố từ nhiệm, bà Maria, trong nhiều sứ điệp, đã từng tiên báo rằng Đức Giáo Hoàng sẽ bị hạ bệ bởi một âm mưu đen tối trong Giáo triều Rôma (chẳng hạn các sứ điệp ngày 18-01-2012; ngày 11-02-2012; ngày 20-03-2012; ngày 26-05-2012). Nếu các sứ điệp trên đây tiên báo việc Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI kết thúc sứ vụ đại diện Chúa Kitô là do một thế lực xấu xa cưỡng ép ngài, thì chúng ta sẽ phải hiểu sao về những lời tuyên bố của ngài về lý do của việc từ nhiệm? Trong tuyên bố ngày 11-02-2013, ngài đã xác định việc từ nhiệm là do tuổi cao và sức khỏe kém, và việc từ nhiệm là một quyết định tự do. Như vậy, phải chăng chúng ta phải tin vào các sứ điệp của bà Maria để kết tội Đức Giáo Hoàng là một kẻ dối trá? Hay phải nói ngược lại là các sứ điệp của bà Maria chỉ là trò dự đoán đầy tà ý và cảm tính?

Bên cạnh đó, bà Maria còn phủ nhận sự chính đáng của việc Đức Giáo Hoàng Bênêđictô từ nhiệm cũng như tính hợp thức của vị Giáo hoàng sẽ kế vị. Trong sứ điệp ngày 22-07-2013 có những lời lẽ như sau: “Chỉ có một vị chủ chăn của Giáo Hội trên Trái Đất được Con Mẹ trao quyền, người vẫn cứ phải là Giáo Hoàng cho đến chết. Bất cứ ai khác là kẻ giành quyền ngồi trên Ngai Tòa Thánh Phêrô đều là kẻ mạo danh”.

Đang khi đó, việc các vị Giáo hoàng từ nhiệm, mặc dù hiếm nhưng cũng đã từng xảy ra trong lịch sử Hội Thánh. Cho nên, đó không phải là điều bất khả. Chính bộ Giáo luật 1983, điều 332, §2 dự liệu như sau: “Nếu xảy ra trường hợp Đức Giáo Hoàng Rôma từ nhiệm, việc từ nhiệm phải được tự do và phải được bày tỏ cách hợp thức thì mới hữu hiệu, nhưng không cần được bất cứ ai chấp nhận”.

Có một điều mà ai đọc các sứ điệp của bà Maria cũng đều dễ nhận thấy, đó là sự chống báng mạnh mẽ nhắm vào người kế vị Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, tức là Đức Giáo Hoàng đương kim Phanxicô. Chiều hướng này xem ra cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhóm cầu nguyện do bà phát động. Trong nhiều sứ điệp khác nhau, bà đã dùng những lời lẽ chống báng rất gay gắt đối với Đức Phanxicô.

Từ trước khi xảy ra biến cố Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từ nhiệm, trong sứ điệp ngày 12-04-2012, bà Maria đã tiên báo một người sẽ được bầu lên thay Đức Bênêđictô. Tuy nhiên, bà phủ nhận tính hợp pháp của cuộc bầu vị Giáo hoàng mới. Bà gọi cơ mật viện Hồng Y bầu giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan. Bà gọi vị Giáo hoàng mới là ngôn sứ giả, là kẻ mạo danh. Điều này nằm trong cùng một chiều hướng với việc bà cho rằng Đức Bênêđictô XVI là vị giáo hoàng đích thực cuối cùng trên trần gian. Trong nhiều sứ điệp khác nữa, bà thường xuyên lặp đi lặp lại cụm từ “ngôn sứ giả” được gán cho người kế vị Đức Bênêđictô. Cũng có khi bà gán cho vị này những “nhãn hiệu” xấu xa khác, như “đầu của Con Mãng Xà” (sứ điệp ngày 13-11-2012); “kẻ mạo danh” (sứ điệp ngày 22-07-2013); “cái sừng nhỏ, kẻ huênh hoang tự đắc ngồi trên Tòa Phêrô” (sứ điệp ngày 18-02-2013); “con của Satan…kẻ mạo danh trên ngai tòa Phêrô…tên phản Kitô” (sứ điệp ngày 25-02-2013); và còn nhiều điều khác tương tự.

Thái độ chống Giáo hoàng của bà Maria một mặt cho thấy bà không tin rằng Thánh Thần của Chúa Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Chúa Kitô. Mặt khác, thái độ đó còn cho thấy một cái nhìn giản lược về bản chất của Hội Thánh vốn chỉ còn là một cơ chế phàm trần của những tranh giành phe nhóm, những toan tính kiêu căng, mưu đồ thống trị… Cần nhớ rằng Hội Thánh tiên vàn là một mầu nhiệm. Hội Thánh dù bao gồm các tội nhân, nhưng tự bản chất là thánh thiện vì được chính Đức Kitô thánh hóa để trở thành Hiền Thê không tì ố của Ngài (xc. Cđ. Vat. II, Hiến chế về Giáo Hội, số 1-8). Thái độ chống Giáo hoàng của bà Maria có thể coi là một dạng thức của tội ly giáo, khi bà không ngừng rêu rao rằng vị Giáo hoàng đương nhiệm là ngôn sứ giả, là Giáo hoàng mạo danh… (xc. GLHTCG, số 2089).

dice question mark
4. Những điềm sai lầm về luân lý

a) Sai lầm trong quan niệm về luân lý tính dục. Trong sứ điệp ngày 06-04-2011, bà Maria tỏ ra dung túng cho một lối sống tự do về tình dục. Nội dung chính của sứ điệp này xoay quanh việc đừng lên án những người khác tôn giáo, tín ngưỡng hay khác về những sở thích tính dục (sexual preferences). Hẳn nhiên, cần phân biệt giữa tội lỗi và con người. Chúng ta không có quyền lên án các tội nhân, cho dù họ phạm những tội nặng nề nhất. Thế nhưng, cách diễn tả mơ hồ của sứ điệp khiến người đọc có cảm tưởng rằng cũng không nên phê phán sự sai trái của những xu hướng lệch lạc về tính dục. Điều đáng nói ở đây là cụm từ “sở thích về tính dục” được lặp đi lặp lại nhiều lần như một sự nhấn mạnh. Cách dùng cụm từ này thật đáng ngờ! Xem ra nó hàm ý rằng những xu hướng tính dục như đồng tính chẳng hạn, cũng chỉ nên coi là chuyện sở thích cá nhân chứ không phải là một sự lệch lạc về luân lý. Thế nhưng, đây lại là điều đi ngược lại với Giáo lý của Hội Thánh vốn coi các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là vô trật tự, và nghịch với luật tự nhiên (xc. GLHTCG, số 2357).

b) Quan niệm sai lạc về việc áp dụng án tử hình. Bà Maria còn đưa ra một quan niệm sai lạc về việc áp dụng án tử hình khi bà lên án theo cách cào bằng vô điều kiện mọi hình thức giết người, chỉ trừ ra hành động tự vệ. Sứ điệp ngày 26-01-2012 có những lời như sau: “Ngươi không được giết người có nghĩa là ngươi không được giết người khác. Điều này không có ý nói về sự tự vệ nhưng về bất kỳ trường hợp nào khác. Không ai được biện minh cho việc giết người – dù là phá thai, hành hình hay trợ tử. Không người nào được phép” (sứ điệp ngày 15-07-2011 cũng có những lời tương tự).

Hẳn nhiên, Hội Thánh luôn dạy rằng phá thai, trợ tử và những hành động giết người cố ý và không có lý do chính đáng đều là những tội ác nghiêm trọng về luân lý. Tuy nhiên, đối với án tử hình, mặc dù Hội Thánh luôn kêu gọi các chính quyền thực thi lòng khoan dung và giảm thiểu hết mức có thể việc áp dụng án tử hình, nhưng Hội Thánh vẫn luôn công nhận quyền chính đáng của các chính quyền dân sự trong việc áp dụng án tử hình cho những tội phạm hết sức nguy hiểm cho xã hội mà xét thấy không còn cách chọn lựa nào khác. Như vậy, việc áp dụng án tử hình không phải luôn luôn là hành động vô luân, nhưng là điều chính đáng trong một số hoàn cảnh nhất định. Giáo lý này thuộc về truyền thống lâu đời của Hội Thánh, từng được các vị thánh Tiến sĩ thời danh giảng dạy, và nhất là được khẳng định trong Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo như sau: “Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh, sau khi đã xác minh đầy đủ căn tính và trách nhiệm của phạm nhân, không loại trừ việc kết án tử hình, nếu đây là con đường khả thi duy nhất để bảo vệ hữu hiệu mạng sống con người khỏi bị xâm phạm cách bất công” (số 2267).

c) Quan niệm sai lạc về ơn tha tội. Trong sứ điệp ngày 09-07-2012, bà Maria còn quảng bá một quan niệm sai lạc về ơn tha tội khi cho rằng người nào đọc kinh đọc đặc biệt (do bà chỉ dẫn) trong 7 ngày liên tục thì được ơn xá giải mọi tội lỗi. Điều này hẳn nhiên đi ngược với giáo lý của Hội Thánh vốn cho rằng ơn tha tội được ban thông thường bằng việc lãnh nhận bí tích giao hòa, hoặc trong trường hợp khẩn cấp, bằng việc ăn năn tội cách trọn, chứ không chỉ đơn thuần bằng việc đọc bất kỳ kinh đọc nào (xc. GLHTCG, số 1446; 1452).

Cũng trong sứ điệp nói trên, bà còn đề xuất một kinh đọc đặc biệt khác để xin ơn tha tội cho những người chết trong tình trạng mắc tội trọng. Điều này rõ ràng đi ngược lại với giáo lý của Hội Thánh vốn dạy rằng những ai chết trong tình trạng mắc tội trọng thì sẽ rơi vào sự hư mất đời đời. Do vậy, tất cả những sự hy sinh, công phúc, lời cầu nguyện của người sống cũng không làm thay đổi được phần số của những người đã chết ấy (xc. GLHTCG, số 1035).

5. Những điểm sai lạc về kỷ luật bí tích

Trong các sứ điệp, bà Maria còn chủ trương những điều sai lạc liên quan đến cách thức thực hành hoặc lãnh nhận các bí tích. Hẳn nhiên, Hội Thánh không có quyền thay đổi bản chất của các bí tích, vì các bí tích là do Chúa Kitô thiết lập. Tuy nhiên, Hội Thánh, xét như là người quản lý các Bí Tích và thừa tác viên của ơn cứu độ, có thẩm quyền đưa ra những quy định về hình thức cử hành các bí tích. Những quy định này vì không đụng chạm đến bản chất của Bí tích, nên có thể được canh tân khi cần thiết để thích ứng với những hoàn cảnh mới.

Ở đây, chúng tôi muốn nói đến hai quy định cụ thể của Hội Thánh trong việc lãnh nhận các bí tích. Đó là việc cho phép tín hữu rước lễ bằng tay và luật buộc xưng các tội trọng một năm ít là một lần. Việc Hội Thánh cho phép tín hữu rước lễ bằng tay được xác định rõ ràng trong các văn kiện sau đây: Tông thư Ecclesia de Eucharistia của Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Huấn thị Redemptionis Sacramentum của Bộ Phụng tự và Bí tích. Còn việc xưng các tội trọng một năm ít là một lần thì được xác định trong Giáo luật 1983, điều 989.

Đáng tiếc là các sứ điệp của bà Maria đã minh nhiên phủ nhận tính hợp pháp của hai quy định trên đây của Hội Thánh. Thật vậy, sứ điệp ngày 06-07-2011 nói như sau: “Bí Tích Thánh Thể Chí Thánh phải được đón nhận trên lưỡi và không được phép đón nhận một cách ô nhơ bởi bàn tay con người. Tuy nhiên, điều này chính là những gì các tôi tớ đã được thánh hiến của Ta đã và đang thực hiện. Các lề luật này đã không được thông qua bởi Ta trong thần khí. Các tôi tớ đã được thánh hiến của Ta đã bị dẫn dắt trên một con đường không phù hợp với các Giáo Huấn từ các tông đồ của Ta”.

Còn sứ điệp ngày 09-07-2012 lại khẳng định rằng: “Đối với những người Công Giáo, các con phải lãnh nhận bí tích Hòa Giải hai tuần một lần nếu các con muốn tiếp tục sống trong Ân sủng”. Đây vừa là một quan niệm sai lạc về tình trạng ân sủng vì cho rằng tình trạng ân sủng không tùy thuộc vào tình trạng sạch tội trọng và lòng mến Chúa, nhưng tùy thuộc vào nhịp độ nhất định của việc thực hành bí tích. Mặt khác, nó còn chuẩn hóa một lối thực hành bí tích trái với quy định chung của Hội Thánh.

III. THẨM ĐỊNH VỀ PHONG TRÀO SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI

1. Phản ứng từ phía Giáo quyền

Kể từ khi phong trào “Sứ điệp từ trời” khai sinh và được phổ biến rộng rãi, nhiều vị Giám mục thuộc các châu lục khác nhau đã lên tiếng cảnh báo về sự nguy hiểm cũng như sự lầm lạc của phong trào này. Có thể kể ra một số vị tiêu biểu như:

Đức Tổng Giám mục Denis J Hart, Giáo phận Melbourne, Úc;

Đức Giám Mục Fabbro, Giáo phận London, Ontario, Canada;

Đức Giám Mục Stephen Secka, Giám mục phụ tá Giáo phận Spisska, Slovakia;

Đức Giám Mục Richard. J. Malone, Tổng Giáo phận Buffalo, NY;

Đức Tổng Giám mục Mark Coleridge, Giáo phận Brisbane, Úc;

Đức Giám Mục Greg O’Kelly SJ , Giáo phận Port Pirie, Nam Úc;

Đức Giám Mục Andreas Laun of Salzburg, Giám mục Phụ tá Giáo phận Áo.[2]

Vì bà “Maria Lòng Chúa Thương Xót” được cho là người đang sống tại Dublin, nên cuối cùng Đức Tổng Giám mục Tổng Giáo Phận Dublin, tức vị chủ chăn có thẩm quyền trực tiếp đối với bà, cuối cùng cũng đã lên tiếng. Mới đây trong một bản Tuyên cáo ra ngày 16-04-2014, Đức Tổng Giám mục Diarmuid Martin tuyên bố như sau:

Tòa Tổng Giám mục Dublin đã nhận được nhiều thỉnh nguyện thư xin xác minh về tính chân thực của những điều tự nhận là thị kiến và sứ điệp do một người tự xưng là “Maria Lòng Chúa Thương Xót” nhận được, và người này được cho là đang sống tại Tổng Giáo phận Dublin.

Nay Tổng Giám mục Diarmuid Martin muốn khẳng định rằng các sứ điệp này cũng như các thị kiến đi kèm không được Hội Thánh chuẩn nhận, và nhiều điều trong các bản văn đi ngược lại với thần học Công Giáo.

Vậy, không được phổ biến hay sử dụng các sứ điệp này trong các hội đoàn thuộc Hội Thánh Công Giáo.[3]

2. Một vài nhận định chung thay lời kết

Sau khi đã tìm hiểu phong trào “Sứ điệp từ trời”, chúng tôi nhận thấy rằng các bản văn tự nhận là “sứ điệp từ trời” không thực sự phản ảnh giáo lý tinh tuyền của Hội Thánh Công Giáo, nhưng chỉ là một thứ giáo thuyết hỗn tạp được góp nhặt hoặc chịu ảnh hưởng từ những nguồn mạch khác nhau, vừa là Công Giáo, Tin Lành, và cả khuynh hướng hành đạo theo nghi lễ cổ điển trước Công đồng Vaticanô II. Mặt khác, các sứ điệp của bà Maria còn chứa đựng rất nhiều điều bất nhất hoặc mâu thuẫn. Chẳng hạn, khi thì bà chủ trương phải khoan dung với những người “khác về sở thích tính dục”, khi khác lại lên án cách gay gắt những cuộc hôn nhân đồng tính; khi thì bà chủ trương phải cầu nguyện cho những người đã chết trong tình trạng mắc tội trọng, khi khác bà lại cho rằng hình phạt hỏa ngục là đời đời, không thay đổi được (sứ điệp ngày 12-01-2014). Trong các sứ điệp, bà Maria đã từng cảnh báo về một “thứ tôn giáo mới phá hoại Hội Thánh”, do một số phần tử xấu trong Giáo triều đang tìm cách gầy dựng (chẳng hạn sứ điệp ngày 20-07-2012). Phải chăng lời kết án ấy trước tiên đã ứng nghiệm vào chính cái giáo thuyết hỗn tạp mà bà đang ra sức phổ biến?

Có nhiều yếu tố khiến người ta nghi ngờ về tính khả tín của các sứ điệp từ trời do bà Maria phổ biến. Trước hết là sự ẩn danh của bà. Mặc dù sự ẩn danh này đã được bà giải thích lý do, nhưng xem ra lý do bà đưa ra không thực sự thuyết phục. Trong phần lớn các trường hợp, sự ẩn danh thường đi đôi với việc không dám nhận trách nhiệm cũng như những hệ lụy về những gì mình nói hoặc làm. Một lá thư nặc danh thường không được coi là có giá trị. Trong lịch sử Hội Thánh, những nhà thần bí, những người nhận mặc khải tư chân chính không bao giờ ẩn danh, mà trái lại, họ sẵn lòng chịu thử thách, hiểu lầm, nghi kỵ, thiệt thòi vì những gì họ nói ra, bởi vì họ thực sự xác tín về những gì mình nói.

Yếu tố thứ hai khiến người ta nghi ngờ về tính khả tín của các sứ điệp, đó là những lời tiên báo của bà Maria thường không ứng nghiệm. Cũng có khi những lời tiên báo đó xem ra ứng nghiệm, nhưng chỉ ứng nghiệm cách nửa vời, như trong trường hợp bà tiên báo về việc Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từ nhiệm mà chúng tôi đã phân tích trên đây. Còn những gì bà tiên báo về người kế vị Đức Bênêđictô XVI thì hoàn toàn ngược lại với những gì người ta đang chứng kiến nơi vị Giáo hoàng đương kim, Đức Phanxicô. Nếu quả thực các sứ điệp của bà phát xuất từ Thiên Chúa thì hẳn là không thể tiên báo những điều viển vông như vậy.

Yếu tố sau cùng khiến người ta có đủ cơ sở để phủ nhận tính khả tín của các sứ điệp do bà Maria quảng bá, đó là những điểm sai lầm nghiêm trọng về đạo lý chất chứa trong các sứ điệp của bà. Thông thường Hội Thánh rất cẩn trọng trong việc xác định những mặc khải tư nào được coi là chân thực; và một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu được dựa vào để thẩm định, đó là mặc khải tư ấy không bao hàm những điều sai lạc đi ngược lại với giáo lý chung của Hội Thánh. Chỉ nguyên tiêu chí này cũng đủ cho thấy những sứ điệp tự nhận là “từ trời” hay “mặc khải tư” của bà Maria chỉ là ngụy tạo. Những sứ điệp đó không đến từ Thiên Chúa, mà chỉ là sản phẩm của con người. Điều tai hại là chính người tạo ra các sứ điệp ấy lại gán cho chúng một giá trị ràng buộc gần như tuyệt đối mà tự thân chúng không có. Điều này đã gây hoang mang cho không ít các tín hữu đơn thành: có buộc phải tin các “sứ điệp từ trời” hay không? Nếu không tin sẽ phải chuốc lấy những tai họa hay những hình phạt khủng khiếp sẵn sàng ập xuống. Còn nếu tin thì sẽ kéo theo bao nhiêu hệ lụy thực hành do các sứ điệp đề xướng; và rồi, liệu làm như thế có rơi vào tội rối đạo hay không? Bằng ấy câu hỏi đặt ra cũng là lời thỉnh nguyện để các cơ quan thẩm quyền trong Hội Thánh địa phương sớm đưa ra câu trả lời chính thức để soi sáng cho các tín hữu có được sự lựa chọn đúng đắn trong vấn đề này.

Tác giả: Lâm Văn Sỹ, OP.

Nguồn: giaolyductin.net

[1] Tên tiếng Anh là “Maria Divine Mercy”. Trong trang mạng <>, tên này được dịch sang tiếng Việt là “Maria Tông Đồ Lòng Chúa Xót Thương”.

[2] Có thể tham khảo thêm ở trang <>

[3] Nguyên bản tiếng Anh trong trang mạng chính thức của Tổng Giáo phận Dublin.

Lâm Văn Sỹ, OP/ giaolyductin.net/2015

Ba sự việc chưa từng thấy sẽ được thực hiện trong Năm Thánh Thương Xót

YearofMercy16050800

“Lần đầu tiên trong lịch sử cuả các năm thánh hồng ân, mỗi giáo phận sẽ được mở ra một cửa Thánh – là cánh Cửa Thương Xót “, Đức Tổng Giám Mục Salvatore “Rino” Fisichella, chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về việc truyền giáo mới, đồng thời cũng là giám quản các việc chuẩn bị cho Năm Thánh , đã cho biết như vậy ngày 05 tháng năm vừa qua.

Thật vậy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô dường như muốn thúc đẩy và khai phá những hình thức sống đạo gần guĩ với người dân thường, đã công bố sẽ thực hiện những thể thức mà chưa một Năm Thánh nào trong lịch sử đã có, đó là việc Ngài sẽ “gửi” xuống mỗi giáo phận những “sứ giả” cuả lòng Thương Xót, và cho phép mỗi giáo phận mở ra một “Cửa Thánh” để cho giáo dân thực hiện việc hành hương.

1- Cửa Thánh tại mỗi Giáo Phận

Thông thường trong các Năm Thánh thì bốn vương cung thánh đường ở Roma sẽ mở ra ‘Cửa Thánh’, là cánh cửa ở chính giữa thường được đóng kín và chỉ được mở trong những năm toàn xá.

Nghi thức khai mạc Cửa Thánh là một biểu tượng cho thấy rằng các tín hữu được cung cấp một con đường “phi thường” để được ơn cứu rỗi .

Trong năm Thánh Thương Xót sắp tới, lần đầu tiên một Cửa Thánh sẽ được chỉ định trong mỗi giáo phận. Đức TGM Fisichella cho biết rằng sự lựa chọn cánh cửa thánh sẽ là “hoặc cửa cuả nhà thờ Chính Toà, hoặc cửa cuả một nhà thờ hay một ngôi đền có ý nghĩa đặc biệt và có tầm quan trọng đặc biệt cho các cuộc hành hương.”

Tông Sắc của Giáo Hoàng về Năm Thánh Thương Xót ghi nhận rằng việc mở ‘Cửa Thánh Thương Xót’ tại một giáo phận là dấu hiệu cho thấy rằng Hồng Ân không giới hạn chỉ ở Roma, nhưng được mở rộng cho từng Giáo Hội địa phương trên toàn thế giới “như là một dấu hiệu hữu hình của một Giáo Hội hiệp thông phổ quát. ”

Đức Tổng Giám Mục Fisichella nói rằng những Cửa Thánh ở địa phương có ý được dùng để “đánh dấu cuộc hành hương cuà một giáo hữu đã được hoàn tất, và là dấu chỉ những ân xá đã được ban cho.”

“Ân xá là đặc trưng của Năm Thánh,” ngài nói, vì vậy các Cửa Thánh sẽ cho phép “tất cả những ai không thể đến Roma nhưng đã sống Năm Thánh tại giáo phận của mình có thể nhận được những biểu hiệu cuả việc hành hương, là tiếp nhận ân xá … khi đi qua cánh Cửa Thánh. ”

2- Các sứ giả cuả Thương Xót

Một sự mới lạ khác mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã bao gồm trong năm thánh là “Các sứ giả cuả Thương Xót,” là những người sẽ nhận được một nhiệm vụ đặc biệt của Đức Thánh Cha trong ngày Thứ Tư Lễ Tro năm 2016 tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, để đi ra ngoài các giáo phận trên toàn thế giới mà đem tin mừng cuả lòng thương xót đến cho mọi hối nhân.

Ý tưởng là để “dựa vào việc đặt trọng tâm trên đức tin và việc truyền giáo, kêu gọi Giáo Hội một lần nữa ưu tiên sống làm nhân chứng trong mọi khía cạnh của đời sống mục vụ,” Đức TGM Fisichella lưu ý.

Các linh mục được chọn làm ‘sứ giả’ sẽ được chọn bởi vị giám mục giáo phận và bởi các thành viên của Hội đồng Tòa Thánh loan báo Tin Mừng. Các linh mục ‘sứ giả’ ngoài việc có lòng kiên nhẫn và có sự hiểu biết sâu sắc về sự yếu đuối của con người, còn phải sẵn sàng bày tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa trong bí tích Giải Tội.

Đức TGM Fisichella cho biết số giám mục đã về hưu đang được xem xét để chọn làm ‘sứ giả’ vì các vị đó có nhiều kinh nghiệm và sự hiểu biết về nhu cầu của người khác.

Mặc dù Tông Sắc về Năm Thánh Thương Xót chỉ nhấn mạnh đến vai trò của các ‘sứ giả’ trong Mùa Chay, nhưng Đức Tổng Giám Mục Fisichella nói rằng họ sẽ hoạt động cho toàn bộ Năm Thánh.

3- Những Dấu Hiệu Thánh

Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ thực hiện 5 “dấu hiệu Thánh”, là những việc thực hành về ‘phần xác’ hoặc ‘phần hồn’ vào những ngày được chỉ định trong Năm Thánh. Mặc dù những ngày đó đã có ghi trên lịch chính thức, nhưng những việc thực hành thì chưa được công bố.

Một thí dụ có thể sẽ được thực hiện, đức tổng giám mục nói, là có một Thánh Lễ dành cho các tù nhân ở tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô để họ có thể tham gia vào Năm Thánh “không phải từ nhà tù,” nhưng cùng hoà chung với Giáo Hội.

Ý tưởng đó, tuy nhiên, đã chưa được xác nhận.

Như là một dấu hiệu của lòng nhân từ đến từ ĐTC, Đức Tổng Giám Mục Fisichella nói rằng “một số các biện pháp thực tế” cũng sẽ được thực hiện “để đáp ứng những nhu cầu thực sự trong thế giới.”

Ngày 15/9: Lễ Đức Mẹ Sầu Bi

LA-PIETA2

Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng” đã viết một câu chí lý :” Sau khi được bầu làm Giáo Hoàng và chạm trán với những vấn đề của Giáo hội hoàn cầu,cái nhìn trực quan này và niềm xác tín này vẫn luôn ở trong tôi;trong chiều kích hoàn cầu này cũng vậy,nếu có chiến thắng,thì cũng do Mẹ Maria.

Chúa Kitô sẽ chiến thắng nhờ Mẹ Maria.Chúa muốn liên kết Mẹ vào các chiến thắng của Giáo Hội trong thế giới hôm nay và trong thế giới của ngày mai “.Ðức Thánh Cha đã xác tín mạnh mẽ lời Chúa nói với các tông đồ và các người phụ nữ sau khi Người sống lại:” Anh em đừng sợ “.Mạnh mẽ trong niềm tin của mình,Mẹ”đã không sợ gì hết “.Cảm nghiệm sâu xa vào con người của Ðức Mẹ với đức tin sắt đá,thế gian và những người có lòng tin sẽ chấp nhận chân lý này,sự thật mà văn hào người Ba Lan,Cyprian Norwid đã nói lên chân lý tuyệt vời:” chúng ta không bước theo Chúa cứu thế đang vác thập giá của Ngài,nhưng chúng ta bước theo Chúa Kitô đang vác thập giá của chúng ta”. Bởi vậy,chân lý về thập giá được xác nhận là ” Tin Mừng”.

Có một người được Thiên Chúa yêu thương,tuyển chọn từ đời đời làm Mẹ Ðấng Cứu Thế và là Mẹ của nhân loại : người đó tên là MARIA. Maria đã sống một cuộc đời hoàn toàn âm thầm trong lịch sử cứu rỗi .Mẹ không làm phép lạ,không hoạt động tông đồ truyền giáo. Sách tông đồ công vụ chỉ ghi lại có một lần Mẹ và các tông đồ đang cầu nguyện để chờ đợi Chúa Thánh Thần xuống sau khi Chúa chết,sống lại và về trời. Mẹ đã sống ẩn dật,không làm bất cứ việc gì nổi bật,nhưng Mẹ đã góp phần hơn ai hết vào công cuộc cứu chuộc nhân loại và truyền bá đức tin.Mẹ đã cộng tác với Chúa Giêsu con Mẹ vào công cuộc mở rộng nước trời bằng đời sống cầu nguyện và nhất là bằng sự đau khổ của Mẹ.Mẹ Maria là Nữ Vương trời đất,là nữ vương các thánh tông đồ,là Nữ vương các thánh tử đạo vì thế nhân loại gặp Mẹ”gần thánh giá Chúa Giêsu có Mẹ Người “. Mẹ Maria đứng dưới chân thánh giá,tham dự vào cuộc khổ hình của con Mẹ, Mẹ đã đau khổ biết bao ? Nhưng sự đau khổ của Ðức Mẹ là để góp phần vào việc cứu độ nhân loại đúng như lời nói trước của ông già Simêon trong Ðền Thánh khi Mẹ Maria và thánh Giuse dâng con mình là Giêsu :” Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà “( Lc 2, 33 ).

Mẹ Maria chịu đau khổ, sự đau khổ của Mẹ không chỉ là đau khổ thể xác mà còn làm cho tâm hồn Ðức Mẹ nát tan,giầy vò vì từ khi nói lời xin vâng,dâng con vào đền thánh,lạc mất con vv.cuộc đời của Ðức Mẹ luôn hướng về cây thập giá. Có thể nói, mọi hành vi của Ðức Mẹ đều chuẩn bị cho con Mẹ là Chúa Giêsu tự hiến tế để cứu chuộc nhân loại . Mẹ hiểu rõ con Mẹ là của Mẹ,do Mẹ sinh ra nhưng không thuộc về Mẹ:” Cha Mẹ,không biết con phải làm việc cho Cha con sao ?.Mẹ đã âm thầm giữ kín mọi kỷ niệm.mọi sự việc và suy đi nghĩ lại trong lòng.Mẹ đã hân hoan,vui mừng,ca ngợi tình thương bao la của Thiên Chúa trong ngày truyền tin, Mẹ lại sinh ra nhân loại trong sự đau khổ trên núi Canvê.Mẹ hoàn thành sứ mạng đồng công cứu chuộc của Mẹ.”Ðứng gần thập giá Chúa Giêsu có Mẹ Người”

Mẹ Maria đã anh dũng đứng dưới chân thập giá khi con Mẹ bị treo trên cây thập hình nhuốc hổ . Mẹ đứng đó khi nhiều môn đệ và những người thân cận chạy trốn vì sợ hãi,vì sợ chết.Mẹ đã ý thức lời Chúa nói:” Khi nào Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta “.Mẹ đã nhận lãnh thánh Gioan,đại diện Giáo Hội làm con của Mẹ và như thế, Mẹ đã cho nhân loại thấy rõ cái chết của Chúa là hy lễ cao quí nhất có sức biến đổi thế gian và là nguồn sự sống mới cho nhân loại.Mẹ đau khổ nhưng sự đau khổ của Mẹ góp phần vào công cuộc cứu rỗi nhân loại nhờ Mẹ kết hợp sự đau khổ của Mẹ với sự đau khổ của Chúa Giêsu.

Hợp ý với Giáo Hội,chúng ta dâng lên Chúa lời nguyện:” Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Ðức Mẹ,đồng lao cộng khổ đứng kề bên con Chúa chịu treo trên thánh giá,xin ban cho Hội Thánh Chúa,khi đã cùng thông phần đau khổ với Chúa Kitô thì cũng đáng được sống lại với Người “. Mẹ Maria đã không hề sợ .Mẹ đã chiến thắng sợ hãi, đã theo con là Giêsu tới cùng và đứng dưới chân thập giá, ẵm xác con trong lòng là tuyệt đỉnh của sự đau khổ. Nhưng, Mẹ đã chiến thắng, thắng sợ hãi và thắng sự chết.

Lạy Mẹ Maria,xin giúp chúng con biết chấp nhận sự đau khổ trong cuộc đời như niềm vui để làm sáng danh Chúa.

Xin cho chúng con biết yêu mến thánh giá như hạnh phúc nhất đời vì nhờ thánh giá nhân loại được ơn cứu chuộc.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

http://tonggiaophanhanoi.org/suy-niem/suy-niem-moi-ngay/9551-ngay-159-le-duc-me-sau-bi

Suy niệm lễ Sinh nhật Đức Maria. Chúc mừng Mẹ!

medjugorje-0

(Mt 1, 1-16. 18-23)

Ngày lễ sinh nhật Mẹ Maria hôm nay, Giáo hội cho chúng ta đọc lại gia phả của Chúa Giêsu. Ta thấy, trong suốt chiều dài lịch sử thấy Thiên Chúa đã tuyển chọn gia tộc cho Người cách đặc biệt.

Hình ảnh bốn phụ nữ được Kinh Thánh nói đến như là một tiên báo cách kín đáo về Đức Kitô, Đấng sẽ đến để cứu độ những người tội lỗi, và đón nhận mọi dân mọi nước vào vương quốc của Người. Việc tuyển chọn những nhân vật này không phải là điều đáng tự hào vì lý lịch của họ. Nhưng tiêu chuẩn của Thiên Chúa khác với con người. Người chọn sự yếu kém để nói lên lượng từ bi của Người.

Đây là “gia phả của đức tin và ân sủng”. Vì cho dẫu gia phả này được đan dệt bằng biết bao tội nhân và những kẻ gian ác, nhưng lịch sử ấy lại là lịch sử của tình thương và lòng thương xót Chúa, được chính Thiên Chúa can thiệp đúng lúc. Thiên Chúa đã viết lịch sử ấy bằng những nét đặc biệt, khác thường. Cái đặc biệt nhất vẫn là Thiên Chúa đã không bỏ rơi một nhân loại phản bội lại Ngài, không làm ngơ trước sự đau khổ và tội lỗi của con người. Thiên Chúa đã hành xử thật tốt đẹp với con người, đối với từng người. Chính vì một lịch sử, một thế giới tội lỗi mà Mẹ Maria đã sinh ra để cưu mang Chúa Giêsu Đấng cứu độ chúng ta

Mẹ Maria đã làm loé lên niềm hy vọng cho một trần gian đang lầm lỗi. Mẹ đã điểm tô cho một lịch sử đã bị ông bà nguyên tổ làm lu mờ vì tội phản nghịch cùng Thiên Chúa. Mẹ Maria đã làm cho lịch sử hồi sinh khi ông bà nguyên tổ làm hoen ố vì tội lỗi. Nhân loại đáng lẽ bị đắm chìm trong sự chết, nhưng Mẹ đã làm cho có sự sống viên mãn.

Hôm nay là lễ sinh nhật Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu và là Mẹ chúng ta, chúng ta không thể không vui, và cùng nhau chúc mừng tuổi Mẹ. Ngày này phải là ngày vui chung của toàn thế giới, chứ không phải riêng cho một dân tộc hay một nhóm người nào. Bởi ngày sinh của Mẹ có liên quan trực tiếp đến biến cố Ngôi Lời Nhập Thể. Ngày Mẹ chào đời đánh dấu sự nối kết giữa Tân ước và Cựu ước, chấm dứt thời kỳ chờ đợi và những lời hứa, khai mở một thời kỳ mới, thời kỳ ân sủng và ơn cứu độ trong Đức Kitô. Mẹ thật xứng : “Đức Mẹ làm cho chúng con vui mừng”.

Maria ! Mẹ Ngôi Hai Con Chúa

Chúc tụng Mẹ! Mừng Sinh nhật hôm nay

Chúa thương Mẹ ban ơn phúc dư đầy

Hình ảnh Mẹ, ngàn đời con ca tụng.

Quả thật, ngày sinh nhật của Mẹ đã khai mở lời hứa của Thiên Chúa bước đầu thành sự, đồng thời, Mẹ là Nữ Tử Sion, là hy vọng của nhân loại. Mẹ ra đời để làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Có cuộc sinh nhật của Mẹ, mới có sự ra đời của Đức Giêsu, có Đức Giêsu mới có Đấng cứu độ chúng ta. Như vậy, ngày sinh nhật của Mẹ đã được đặt vào Mầu Nhiệm Nhập Thể, cứu độ. Mẹ như Sao mai dẫn lối đưa đường, Mẹ chính là hừng đông, là ánh bình minh báo trước Mặt trời công chính là Đức Kitô.

Vì thế trong ngày Đức Maria chào đời Giáo hội đã kêu lên : “Ôi lạy Mẹ! Ngày sinh của Mẹ đã đem lại cho thế giới sứ điệp vui mừng và hy vọng. Vì Đức Kitô Chúa chúng con là Mặt trời soi đường nay nẻo chính đã từ cung lòng Mẹ sinh ra, Ngài là Đấng huỷ bỏ lời chúc dữ, đem lại muôn phúc lành, Đấng tiêu diệt thần chết và ban phúc trường sinh”.

Thánh Gioan Đamatsô đã dâng lời ca tụng : “Hết thảy mọi người hãy đến, chúng ta hân hoan mừng ngày sinh ra niềm vui sướng của cả thế giới ! Hôm nay đây, từ một bản tính thế trần, một thiên đàng đã thành hình dưới thế. Hôm nay đây, việc cứu rỗi đã bắt đầu cho thế giới!”

Vậy, hôm nay, mọi loài trên trời dưới đất hãy cùng nhau hoan hỷ và đồng ca, nhảy múa biểu lộ niềm vui bất cứ vật nào ở trong trần gian cũng như ở trên trần gian hãy họp nhau mừng lễ. Quả thật, hôm nay thánh điện của Đấng tạo thành muôn vật đã được xây lên, và một thọ tạo, vì một lý do mới mẻ và thích đáng, đã được chuẩn bị làm nơi cư trú mới cho Đấng Hoá Công.

Khi mừng sinh nhật nhau, chúng ta thường tặng nhau những bó hoa, những món quà. Mừng ngày sinh nhật của Mẹ hôm nay: “mãi mãi nhân loại sẽ khơng ngớt cùng Mẹ ca tụng Thiên Chúa:

Chúng con tại thế tưng bừng,

Cùng nhau ca hát vang lừng bốn phương.

Tạ ơn Thiên Chúa tình thương,

Chọn người Trinh Nữ ngát hương ngàn đời.

Chúng ta hãy quyết hái nhiều hoa xinh đẹp để dâng kính Mẹ, tỏ lòng mến yêu Mẹ bằng những kinh nguyện chân thành dâng lên Mẹ, những đóa hoa tươi kính dâng Mẹ sẽ là những tâm tình đẹp chúng ta làm vui lòng Mẹ. Nhất là chúng ta hãy tiếp tục làm những việc đạo đức thông thường dâng kính Mẹ, như : lần hạt Mân Côi, đọc kinh Truyền tin, nguyện kinh cầu, một cách phi thường. Có nghĩa là miệng đọc, lòng suy và cố gắng đem ra thực hành trong đời sống, để cuộc đời của Mẹ, vốn đã trở nên một với cuộc đời của Đức Giêsu cũng được thể thể hiện trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.

Mừng lễ sinh nhật Đức Mẹ, chúng ta hiệp cùng Giáo Hội ca tụng, tung hô Mẹ. Với những lời chúc tốt lành nhất dâng về Mẹ cuộc sống hiện tại, quá khứ và tương lai làm món quà mừng Mẹ tuổi mới.

Mẹ sinh ra giữa muôn hoa hương ngát

Với màu sắc lộng lẫy đẹp đất trời

Mẹ rạng ngời trong hào quang vời vợi

Cùng Triều Thần con chúc khen mừng Mẹ. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Viết cho em chết trôi ngoài bãi biển!

Viết-cho-em-chết-trôi-ngoài-bãi-biển

Em Aylan Kurdi, 3 tuổi người Syria, yêu quý!

Cái chết của em khiến cả thế giới phải lặng câm! Ai ai cũng thương xót và ước nguyện cho linh hồn em được cứu thoát. Xin Thiên Chúa đưa em về cõi vĩnh hằng, đến chốn bình an. Trên Thiên quốc, mong em hãy làm cho thế giới thức tỉnh về vấn nạn di dân: những dòng người rời bỏ quê hương, lao mình ra đại dương để chạy trốn khỏi đói nghèo và bạo lực ở nơi họ sinh sống.

Trốn từ thành phố Kobani (Syria), gia đình em đã hòa cùng dòng người nhập cư để sang nước giáp ranh là Thổ Nhĩ Kỳ. Cha mẹ em mong muốn cuộc sống của gia đình em sẽ tươi vui an bình hơn khi tới vùng đất mới. Hy vọng tìm được sự đổi đời ở châu Âu là động lực để gia đình em và rất nhiều đồng bào của em vượt biên. Thế như ước mơ ấy đã không thành cho tuổi thơ bé bỏng của em! Trên chiếc thuyền định mệnh hôm trước, tất cả đều bị nhấn chìm trong biển cả khiến 13 người thiệt mạng, trong đó có em, mẹ em và người anh 5 tuổi của em. Cha em may mắn thoát chết, nhưng ông mãi kinh hoàng vì: tất cả đã vụt khỏi tay ông! Hóa ra di dân, vượt biên luôn để lại cho người ta nhiều nguy hiểm và mất mát. Bằng chứng là rất nhiều người bị chôn vùi trong đại dương.

Biển khơi đã lấy đi sinh mạng và ước mơ cuộc sống yên bình của em và của rất nhiều người ở xứ sở em. Tôi thương tiếc và tiếp tục cầu nguyện cho linh hồn em và những nạn nhân trong biến cố đau thương ấy. Trước thi thể ướt sũng và lạnh ngắt của em, ai ai cũng bị tra vấn về tình trạng bất công, chiến tranh và nghèo đói đã đẩy hàng vạn người phải tha phương cầu thực. Em biết không, khi biết tin về cái chết của em, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon cũng đã lên tiếng kêu gọi các chính phủ ở châu Âu cần phải hành động ngay để giải quyết cuộc khủng hoảng người di cư. Rồi bất chấp sự phản đối của một số quốc gia châu Âu, thủ tướng Merkel vẫn đồng ý cho phép nhiều người tị nạn hơn vào Đức. Hy vọng trong một ngày rất gần, đất nước của em sẽ thanh bình, đồng bào của em sẽ hưởng được cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Em à, là một nạn nhân bé nhỏ của một thảm họa nhân đạo, xin em hãy lay động lòng người để thế giới không còn chứng kiến xác người trôi dạt biển khơi. Rồi trước một bức ảnh khiến cả thế giới câm lặng, em hãy cho con người biết thế nào là tội ác: bất công, chiến tranh, bạo tàn và vô tâm; thế nào là điều thiện: công bằng, hòa bình, hạnh phúc và tình người, em nhé!

Cầu chúc em được an nghỉ trong cõi vĩnh hằng!

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

dongten.net

ĐÔI LỜI VỀ “SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI”

devil-29973_640

Vấn đề.

Ngay ngày thứ hai trong Hội Nghị thường niên kỳ I-2015 của HĐGM/VN, 14/4/2015, UB Giáo lý Đức tin, trực thuộc HĐGM, đã ra “Thông Cáo về điều được gọi là Sứ điệp từ trời”, có chữ ký của Đức TGM Chủ tịch HĐGM và Đức GM Chủ tịch UB Giáo lý Đức tin với khuyến cáo: “các tín hữu công giáo sẽ không đọc, không phổ biến và không rao giảng các “sứ điệp từ trời”.

Cũng chính trong ngày ra Thông Cáo đó, Đức Cha giáo phận nhà, dù ở xa, đang họp Hội nghị HĐGM tại Sàigòn, cũng đã cho phổ biến trong giáo phận Thông Cáo nêu trên, có thể bởi ngài thấy tính cách nguy hiểm của phong trào, gây hoang mang trong anh chị em giáo dân, thậm chí đã xuất hiện ở một vài giáo xứ, kể cả nơi một ít tu sĩ, giáo sĩ trong giáo phận.

Một số vị chưa biết hoặc chưa biết rõ về nội dung “sứ điệp từ trời” đã nêu thắc mắc: vụ việc nguy hiểm và quan trọng thế nào mà ngay ngày thứ hai của Hội nghị HĐGM, vừa khai mạc tối hôm trước thì ngày hôm sau UB Giáo lý Đức tin đã “khẩn trương” ra Thông Cáo cấp bách phổ biến rộng rãi trên toàn quốc như vậy? Và Đức Cha nhà (BMT) cũng cho phổ biến Thông Cáo trên cả giáo phận cũng trong chính ngày ra Thông Cáo. Vì những sai phạm gì về giáo lý đức tin mà Giáo quyền đã phải quan tâm đến vậy?

Nhân dịp bản “Thông Cáo về điều được gọi là Sứ điệp từ trời” của UB GLĐT được phổ biến, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu ít điều về phong trào được mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” này đang lan tràn trên thế giới và ngay tại VN, kể cả tại một vài nơi ở Banmêthuột.

Sẽ có ba tiểu mục được bàn đến: Thứ nhất, Nguồn gốc và tác giả của phong trào “Sứ điệp từ trời”, Thứ hai, Một số sai phạm trong giáo lý đức tin của phong trào (xin nhớ chính vì những sai phạm về đức tin giáo lý mà UB Giáo lý Đức tin mới phải ra Thông Cáo ngày 14/4/2015), và Thứ ba, Phản ứng của Giáo quyền. Cuối cùng là một lời Kết luận.

I. Nguồn gốc và tác giả của “Sứ điệp từ trời”.

Nguồn gốc phong trào. Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên thế giới. Riêng tại Việt Nam, phong trào “Sứ điệp từ trời” cũng đang rộ lên như một hiện tượng đáng quan ngại. Tại Banmêthuột, phong trào cũng đã xuất hiện và dường như đang lây lan tại một số giáo xứ. Điểm nổi bật và đang quan ngại nhất trong “Sứ điệp từ trời”, được lặp đi lặp lại nhiều lần là thái độ chống báng Đức đương kim Giáo Hoàng Phanxicô.

Tác giả phong trào . Tác giả của “Sứ điệp từ trời” là người tự xưng là “Maria Divine Mercy, được dịch sang tiếng Việt là Maria Lòng Chúa Thương Xót” hoặc “Maria Tông đồ Lòng Chúa Thương Xót”. Bà tự giới thiệu mình là một phụ nữ Châu Âu, theo đạo Công Giáo, đã có gia đình, và là một doanh nhân. Theo bà, tên gọi “Maria Divine Mercy” chỉ là một biệt danh, ẩn danh. Hiện nay người ta đã xác định được khá chắc chắn rằng bà Maria Divine Mercy là một phụ nữ người Ai Len, hiện sống tại thành phố Dublin.

Kể từ tháng 11 năm 2010, bà Maria Divine Mercy cho biết đã liên tục nhận được các sứ điệp từ trời. Theo bà các sứ điệp này, chủ yếu do Chúa Giêsu nhưng cũng có khi do Chúa Cha hoặc do Đức Mẹ Maria mạc khải cho bà. Tính đến nay đã có hơn 1.100 sứ điệp khác nhau, được một số người dịch sang tiếng Việt rồi in rất công phu trong một cuốn sách dày cộm, khổ 14×21, cỡ chữ li ti mà dày hơn cả ngàn trang, gọi là “Sách Sự Thật”. Cho đến nay, bà Maria Divine Mercy vẫn không ngừng nhận được các sứ điệp mới.

II. Những sai phạm đáng quan ngại.

“Sứ điệp từ trời” xoay quanh ba chủ đề chính: Thứ nhât, Cảnh cáo thế giới về tội lỗi; Thứ hai, Kêu gọi ăn năn thống hối; Thứ ba, Loan báo sự gần kề của biến cố Chúa đến lần hai. Thoạt nghe những nội dung đó chẳng có gì đáng quan ngại. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu cụ thể, người ta thấy lộ ra rất nhiều điểm sai lạc về Mầu nhiệm Đức Kitô, huấn quyền, bí tích, luân lý, phụng vụ… Điều nguy hiểm là những điểm sai lạc được đan xen với những giáo lý chân thực, tạo nên tình trạng “vàng thau lẫn lộn”, khiến người đọc dễ nhiễm độc mà không hay biết trở thành hoang mang trong đức tin, lo sợ vì những lời hù dọa bà Maria Divine Mercy đưa ra. Ở đây xin được tự giới hạn chỉ nêu lên một số sai phạm chính yếu, cụ thể và nghiêm trọng mà thôi.

1. Vấn đề về Mạc khải.

Xin nhắc lại giáo lý công giáo về Mạc khải. “Mạc khải là gì? – Mạc khải là việc Thiên Chúa tỏ cho con người biết Ngài và ý định yêu thương của Ngài đối với con người” (Bản Hỏi Thưa 6). Việc ĐGS con TC xuống thế làm người, là MK trọn vẹn và dứt khoát, chính Người là Lời duy nhất và hoàn hảo của Chúa Cha”. (x. Bản Toát yếu 9). Ta gọi đó là MK công. MK công chấm dứt với cái chết của Thánh Gioan Tông Đồ.

Nói công thì cũng phải nói tư. Có MK tư không? Có MK tư. MK tư không thuộc kho tàng đức tin, chỉ có thể giúp chúng ta sống đức tin. MK tư cần có 2 điều kiện: một là phải liên hệ chặt chẽ với Đức Kitô, hai là phải được Huấn quyền của GH công nhận. (x. Bản Toát Yếu 10). Hai điều kiện trên có hay không trong các sứ điệp của bà Maria Divine Mercy, chúng ta sẽ nói sau.

2. Vấn đề Kinh Thánh.

Xin trưng dẫn ra đây các luận điểm chính yếu trong một số “Sứ điệp từ trời” rồi tiếp ngay sau mỗi trích dẫn SỨ ĐIỆP là NHẬN ĐỊNH, ý kiến phản biện.

*SỨ ĐIỆP 13-09-2011. “Đừng bao giờ cho phép mình chấp nhận bất kỳ sự thật nào khác ngoài những điều có trong Kinh Thánh”.

NHẬN ĐỊNH. Đây là chủ trương “duy Kinh thánh, Sola Scriptura” của hệ Tin Lành Luther. Lập trường này hiển nhiên chối bỏ giá trị của Thánh Truyền và Huấn Quyền của Hội Thánh.

*SỨ ĐIỆP 09-02-2013. “Con phải dồn hết tâm lực để viết cuốn sách. … Con là người viết. Ta là Tác giả. … Ta muốn con xuất bản cuốn sách trên toàn thế giới. Cuốn sách đó phải được phổ biến rộng khắp, đầy sức mạnh, và được hằng triệu người tìm đọc cũng như sách Kinh Thánh vậy”.

NHẬN ĐỊNH. “Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa nói với chúng ta, được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần” (Bản Hỏi Thưa 15). Bà Maria Divine Mercy tuyên bố cuốn sách bà viết có Thiên Chúa là tác giả thì cũng đồng nghĩa với việc cho rằng cuốn sách đó được viết ra với ơn linh hứng chẳng khác gì Kinh Thánh vậy. Sách mình tự viết ra lại cho là của Thiên Chúa, Thiên Chúa là tác giả, Thẩm quyền nào xác thực chuyện đó? Quả là một mạo nhận. Người ta có thể đặt nghi vấn về thần kinh của bà Maria là bình thường hay bất bình thường? Tâm thần? Hoang tưởng?

3. Vấn đề Mầu nhiệm Nhập thể.

*SỨ ĐIỆP 24-12-2010. “Việc Ta đến trần gian đã được sắp đặt như một cơ hội cuối cùng để thức tỉnh thế gian, ngõ hầu mọi người nhận ra rằng Thiên Chúa tha thứ mọi tội lỗi. Vai trò của Ta là để chỉ cho các con con đường lên Trời, nhờ vào giáo huấn và cái chết của Ta trên thập giá”.

*NHẬN ĐỊNH. Đây là một cái nhìn sai lạc về công trình cứu độ của Đức Giêsu. Việc nhập thể và cái chết của Đức Giêsu chính là đem lại hiệu quả ơn cứu độ, là ân sủng tha tội và tái sinh con người vào đời sống mới chứ không chỉ có giá trị thức tỉnh thế gian mà thôi.

4. Vấn đề Chúa Quang lâm.

*SỨ ĐIỆP 20-05-2011. “Nhiều người tin rằng Cuộc Quang Lâm của Ta chỉ ra rằng thời tận cùng của thế giới đã đến. Nhưng không phải như vậy, thay vào đó Cuộc Quang Lâm của Ta có nghĩa nói về thời kỳ cuối khi Satan và thuộc hạ của hắn, những kẻ đã tạo ra những đau khổ không kể xiết trên thế giới, sẽ bị trục xuất khỏi Trái Đất trong vòng 1.000 năm. … Ta sẽ cai trị trái đất trong 1.000 năm…”.

*NHẬN ĐỊNH. Đây không phải là quan niệm quang lâm mà Hội Thánh dạy, đánh dấu thời cùng tận của thế giới để rồi khai mào cảnh “Trời mới đất mới” kéo dài đến đời đời. “Hội Thánh đã bác bỏ sự giả mạo này về Vương quốc tương lai, và cả dưới một hình thức … có tên là thuyết ngàn năm, nhất là dưới một hình thức chính trị của một chủ thuyết Mêssia đã bị tục hóa “đồi bại tự bản chất” (GLHTCG 676).

Trong Thông Cáo của UB GLĐT ký ngày 14/4/2015, ở số 2 có nói đến “Thuyết Ngàn Năm” là lạc thuyết đã bị Hội thánh lên án”. Vậy lạc Thuyết Ngàn Năm là gì, chủ trương ra sao?

Thuyết ngàn năm, cũng được gọi là Thuyết thiên niên, Millénarisme. Là niềm tin phát sinh trong giới Do thái – Kitô giáo từ sự khăng khăng một niềm mong đợi Đấng Thiên Sai trần thế và từ một sự giải thích từng chữ, Kh 20, 3-6, (Triều đại một ngàn năm), theo đó Đức Kitô, có các thánh bao quanh, phải trở lại trần gian này một lần nữa để cai trị trên mặt đất thời gian là một ngàn năm. Thuyết này suy tàn vào thế kỷ thứ III, nhưng xuất hiện lại một lần nữa trong lịch sử Hội Thánh.

Thuyết thiên niên kỷ theo tiếng nước ngoài, cũng có tên khác là Chiliasme (do từ Hy lạp chilioi = một ngàn). Như đã nói ở trên, Thuyết này cho rằng Chúa Kitô và các thánh sẽ thiết lập một Vương quốc ngàn năm trên trái đất này, trước khi đến ngày tận thế.

5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh.

5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh.

*SỨ ĐIỆP 06-04-2011. “…không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác”

NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh.

5.2. Phủ nhận vài trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh.

*SỨ ĐIỆP 12-04-2012. “Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan.”

NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.

5.3. Phủ nhận vai trò quản lý và phân phát mầu nhiệm của Hội Thánh.

*SỨ ĐIỆP 31-01-2012.”Việc ban ân toàn xá không phải do Hội Thánh mà là do chính Chúa Giêsu ban cho một số người được tuyển chọn để kêu gọi người khác hoán cải. Việc nhận ơn toàn xá này đi kèm với điều kiện phải đọc một kinh đặc biệt trong bảy ngày liền…”

NHẬN ĐỊNH. Sách GLHTCG cho ta biết: “Để hưởng nhờ ân xá, Kitô hữu phải hội đủ những điều kiện được thẩm quyền của Hội Thánh quy định, vì với tư cách là thừa tác viên của Ơn cứu chuộc, Hội Thánh có thẩm quyền phân phát và chia sẻ kho tàng công phúc của Đức Kitô và các thánh” (số 1471). Không thể “nhận ơn toàn xá với điều kiện phải đọc một kinh đặc biệt trong bảy ngày liền” đo bà Maria Divine Mercy đặt ra và chính bà qui định.

5.4. Phủ nhận kỷ luật bí tích của Hội Thánh.

+/ Sai lạc về việc rước lễ trên tay.

*SỨ ĐIỆP 06-07-2011. “Bí Tích Thánh Thể Chí Thánh phải được đón nhận trên lưỡi và không được phép đón nhận một cách ô nhơ bởi bàn tay con người. Tuy nhiên, điều này chính là những gì các tôi tớ đã được thánh hiến của Ta đã và đang thực hiện. … Các tôi tớ đã được thánh hiến của Ta đã bị dẫn dắt trên một con đường không phù hợp với các Giáo Huấn từ các Tông đồ của Ta”.

NHẬN ĐỊNH. Việc Hội Thánh cho phép tín hữu rước lễ bằng tay được xác định rõ ràng trong các Tông thư Ecclesia de Eucharistia của Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Huấn thị Redemptionis Sacramentum của Bộ Phụng tự và Bí tích.

+/ Sai lạc giáo lý về Bí tích Cáo Giải.

*SỨ ĐIỆP 09-07-2012. “Đối với những người Công Giáo, các con phải lãnh nhận bí tích Cáo Giải hai tuần một lần nếu các con muốn tiếp tục sống trong Ân sủng”.

NHẬN ĐỊNH. Đây là một quan niệm sai lạc về tình trạng ân sủng vì cho rằng tình trạng ân sủng không tùy thuộc vào tình trạng sạch tội trọng, nhưng tùy thuộc vào tần suất nhất định của việc thực hành bí tích.

+/ Sai lạc về ơn tha tội.

*SỨ ĐIỆP 09-07-2012. “Người nào đọc một kinh đặc biệt (do bà chỉ dẫn) trong 7 ngày liên tục thì được ơn xá giải mọi tội lỗi”.

*NHẬN ĐỊNH. Điều này hiển nhiên đi ngược với giáo lý của Hội Thánh vốn cho rằng ơn tha tội được ban thông thường bằng việc lãnh nhận bí tích Cáo Giải, hoặc trong trường hợp khẩn cấp, bằng việc ăn năn tội cách trọn, chứ không chỉ đơn thuần bằng việc đọc bất kỳ kinh đọc nào hoặc đọc trong mấy ngày (x. GLHTCG, số 1446; 1452).

+/ Sai lạc về việc người chết trong tình trạng mắc tội trọng.

*SỨ ĐIỆP 09-07-2012. “Kinh đọc đặc biệt khác để xin ơn tha tội cho những người chết trong tình trạng mắc tội trọng” .

*NHẬN ĐỊNH. Giáo lý của Hội Thánh dạy những ai chết trong tình trạng mắc tội trọng thì sẽ rơi vào sự hư mất đời đời. Do vậy, tất cả những sự hy sinh, công phúc, lời cầu nguyện của người sống cũng không làm thay đổi được số phận đời đời của những người đã chết trong tình trạng mắc tội trọng (x. GLHTCG, số 1035).

5.6. Phủ nhận tính hợp pháp của Đấng kế vị thánh Phêrô.

*SỨ ĐIỆP 22-07-2013) “Chỉ có một vị chủ chăn của Hội Thánh trên Trái Đất được Con Mẹ trao quyền, người vẫn cứ phải là Giáo hoàng cho đến chết. Bất cứ ai khác là kẻ giành quyền ngồi trên Ngai Tòa Thánh Phêrô đều là kẻ mạo danh”.

*NHẬN ĐỊNH. Có một điều mà ai đọc các sứ điệp của bà Maria Divine Mercy cũng đều dễ dàng nhận thấy, đó là sự chống báng mạnh mẽ nhắm vào Đức Giáo hoàng Phanxicô. Trong nhiều sứ điệp khác nhau, bà đã dùng những lời lẽ chống báng rất gay gắt đối với Đức Phanxicô. Bà gán cho ĐGH những nhãn hiệu rất xúc phạm, gọi ngài là “ngôn sứ giả”, là “đầu của Con Mãng Xà” (SĐ 13-11-2012); là “kẻ mạo danh” (SĐ 22-07-2013); là “cái sừng nhỏ, kẻ huênh hoang tự đắc ngồi trên Tòa Phêrô” (SĐ 18-02-2013); là “con của Satan”… “kẻ mạo danh” trên ngai tòa Phêrô… “tên phản Kitô” (SĐ 25-02-2013) vv…

Thái độ chống Giáo hoàng của bà Maria Divine Mercy phải được coi là một dạng ly giáo, (x. GLHTCG, số 2089) khi bà không ngừng rêu rao rằng vị đương kim Giáo Hoàng là ngôn sứ giả, là Giáo Hoàng mạo danh.

Xin được trưng thêm ra đây mấy NHẬN ĐỊNH của một số các vị đã nghiên cứu tường tận “Sứ điệp từ trời”.

Đức Giám Mục Fabbro. Trả lời trong một cuộc hội thảo mở rộng tại Corunna ngày 15/8/2013 về câu hỏi liên quan tới bà Maria Divine Mercy, Đức Giám Mục Fabbro, quản nhiệm giáo phận London, Canada cảnh báo người Công Giáo trong giáo phận rằng: “Maria Divine Mercy không được Giáo Hội chuẩn nhận. Các giám mục nghiên cứu những thông điệp của bà đã tuyên cáo rằng Thông điệp này là dị giáo và ngăn cấm các linh mục tham gia hay hợp tác công việc có liên quan tới Maria Divine Mercy. Tín hữu nên biết rằng hậu quả tin theo những lời dạy của bà sẽ có thể dẫn đến tội trọng”.

Dr. Miravalle, Canada, tiến sĩ Thánh Mẫu học. “Những thông điệp của Maria Divine Mercy, bao gồm nhiều thực tế sai lầm nặng nề xét về phương diện thần học, lịch sử với hơn 650 cái được cho là thông điệp – những sai lầm mâu thuẫn với giáo lý của Giáo Hội Công Giáo…. Thông điệp sai lầm này cực kỳ nguy hiểm cho các thành viên của Giáo Hội Công Giáo, khi nó truyền đi nguy cơ dẫn đến hình thức “ly giáo” hay tách rời khỏi Giáo Hội Công Giáo, mà việc “chối bỏ sự vâng phục vị Giáo hoàng tối cao hay sự hiệp thông với các thành phần của Hội thánh dưới quyền Ngài” (x. can 751). Bất kỳ người công giáo nào chọn lựa sự ly giáo cũng dẫn đến kết qủa bi thảm là việc dứt phép thông công và không được lãnh nhận các Bí Tích (x. can 1364 .1)”.

III. Phản ứng của giáo quyền.

Kể từ khi phong trào “Sứ điệp từ trời” khai sinh và được phổ biến rộng rãi, nhiều vị Giám mục các giáo hội địa phương thuộc các châu lục khác nhau đã lên tiếng cảnh báo về sự nguy hiểm cũng như chỉ ra những sai lầm của phong trào này. Bộ Giáo lý Đức tin của Tòa Thánh chưa lên tiếng. Tuy nhiên nếu phong trào sai lạc này xâm nhập vào giáo phận nào, thì bản quyền địa phương đó sẽ lên tiếng. HĐGM/VN đã lên tiếng. Có thể kể ra một số vị tiêu biểu đã phản bác “Sứ điệp từ trời” như sau :

Đức Tổng Giám mục Denis J Hart, Giáo phận Melbourne, Úc;

Đức Giám mục Fabbro, Giáo phận London, Ontario, Canada;

Đức Giám mục Stephen Secka, Giám mục phụ tá Giáo phận Spisska, Slovakia;

Đức Giám mục Richard. J. Malone, Tổng Giáo phận Buffalo, NY;

Đức Tổng Giám mục Mark Coleridge, Giáo phận Brisbane, Úc;

Đức Giám mục Greg O’Kelly SJ , Giáo phận Port Pirie, Nam Úc;

Đức Giám mục Andreas Laun of Salzburg, Giám mục Phụ tá Giáo phận Áo.

Vì bà Maria Divine Mercy được cho là người đang sống tại Dublin, nên cuối cùng Đức Tổng Giám mục Tổng Giáo Phận Dublin, tức vị chủ chăn có thẩm quyền trực tiếp đối với bà, cuối cùng cũng đã lên tiếng. Một năm trước đây trong một bản Tuyên cáo ra ngày 16-04-2014, Đức Tổng Giám mục Diarmuid Martin tuyên bố như sau:

“Tòa Tổng Giám mục Dublin đã nhận được nhiều thỉnh nguyện thư xin xác minh về tính chân thực của những điều tự nhận là thị kiến và sứ điệp do một người tự xưng là “Maria Lòng Chúa Thương Xót” nhận được, và người này được cho là đang sống tại Tổng Giáo phận Dublin. Nay Tổng Giám mục Diarmuid Martin muốn khẳng định rằng các sứ điệp này cũng như các thị kiến đi kèm không được Hội Thánh chuẩn nhận, và nhiều điều trong các bản văn đi ngược lại với thần học Công Giáo. Vậy, không được phổ biến hay sử dụng các sứ điệp này trong các hội đoàn thuộc Hội Thánh Công Giáo”.

VIỆT NAM. Hội Đồng Giám mục Việt Nam, (qua UB Giáo lý Đức tin trực thuộc HĐGM) đã ra Thông Cáo ngày 14/4/2015, khuyến cáo “các tín hữu công giáo sẽ không đọc, không phổ biến và không rao giảng các “sứ điệp từ trời” này”.

Kết luận.

Qua những trưng dẫn, phân tích và nhận định về các sứ điệp của phong trào “sứ điệp từ trời” trên đây cũng như dựa vào phản ứng đầy thẩm quyền và thuyết phục của các đấng bản quyền nhiều giáo hội địa phương nêu trên, đặc biệt là Thông Cáo vừa qua của UB GLĐT trực thuộc HĐGM/VN của chúng ta, thiết tưởng đã quá đủ để chúng ta kết luận không sợ sai lầm rằng “Sứ điệp từ trời”, mang nội dung chứa đầy những sai phạm nghiêm trọng trong giáo lý, đức tin, thần học, huấn quyền, phụng vụ… là một dạng ly giáo hoàn toàn không thể chấp nhận được.

Về phong trào “sứ điệp từ trời” này, một cách nhẹ nhàng nhưng đầy quyết liệt, suaviter sed fortiter, người tín hữu công giáo phải thực hiện NĂM KHÔNG với “điều được gọi là sứ điệp từ trời”: “Không nghe, Không đọc, Không lưu giữ, Không phát tán, Không rao giảng”. Phải dứt khoát, không do dự, loại trừ ra khỏi đời sống đức tin của người công giáo.

Shalom! “Nguyện chúc Dân Chúa được thái bình” của Đấng Phục Sinh!

BMT, CN III PS, 19/4/2015.

Lm. Aug. Hoàng Đức Toàn

Nguồn: VP. TGM – BMT