Archive | January 2015

Đức Giêsu trong Tân Ước

Tân Ước bao gồm những cuốn sách được Thánh Thần linh hứng và được các thánh ký ghi lại để trình bày Giao Ước mới mà Thiên Chúa đã thiết lập với con người nhờ Đức Giêsu Kitô: “… Này là Máu Ta, Máu Giao Ước đổ ra vì nhiều người để nên ơn tha tội” (Mt 26,28); “… Thiên Chúa, Đấng đã ban cho chúng tôi sức cáng đáng làm kẻ phục vụ Giao Ước mới…” (2 Cr 3,6 ; x. 2 Cr 3,14). Vì thế, tất cả các sách mà Hội Thánh Công giáo ấn định trong thư quy Tân Ước đều nói về Chúa Giêsu Kitô: Người là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế mà Thiên Chúa đã ban cho con người hầu thực hiện điều Thiên Chúa đã hứa từ ngàn xưa với Tổ phụ Abraham; Người đã sinh ra, đã sống, đã chết, đã sống lại; Người đã thiết lập Hội Thánh để làm chứng về mầu nhiệm của Người và Người sẽ trở lại trong vinh quang của ngày quang lâm. Đó là chủ đề căn bản của Tân Ước. Bởi thế, nếu chúng ta muốn biết Đức Giêsu Kitô là ai, đã nói gì, đã làm gì và tại sao đã nói, đã làm, đã sống như vậy, thì chúng ta hãy cầm lấy cuốn Tân Ước và đọc. Chính nhờ cuốn Tân Ước đó mà chúng ta sẽ nhận ra một cách chân thực khuôn mặt của Đức Giêsu Nazareth mà Hội Thánh trong suốt hơn 2.000 năm nay không ngớt tuyên xưng là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa. Và không phải chỉ tuyên xưng mà thôi, Hội Thánh còn dùng chính sự sống của mình để làm chứng về chân lý đó.

Sự kiện Đức Giêsu Kitô đã xảy ra cách xa chúng ta 20 thế kỷ! Các sách Tân Ước cũng đã được viết ra cách xa chúng ta gần 2.000 năm! Thoạt nghe qua hay đọc một cách vội vàng Tân Ước, chúng ta dễ đồng hóa Tân Ước như cuốn sách lịch sử ghi lại cuộc đời Đức Giêsu cũng như nếp sống của những người tin theo Đức Giêsu. Chúng ta đang có trước mắt là các bản văn Kinh thánh Tân Ước, gồm: 4 sách Tin Mừng, Công vụ các Tông đồ, các thư thánh Phaolô, Thư của các thánh Giacôbê, Phêrô, Gioan, Giuđa và sách Khải huyền. Tất cả đều nói về Đức Giêsu Kitô. Nhưng giữa sự kiện lịch sử Đức Giêsu chết và sống lại với các bản văn Tân Ước, có một chặng đường dài, cách nhau trong khoảng thời gian từ 35 cho đến 70 năm. Trong khoảng thời gian đó, đã xảy ra biết bao biến cố và dữ kiện. Dữ kiện quan trọng nhất nối liền các bản văn Tân Ước với Đức Giêsu Nazareth chính là Lời Rao giảng tiên khởi của các Tông đồ mà nội dung của sứ điệp rao giảng là: “Chúa đã sống lại” (x. Cv 2,14-39 ; 3,12-26 ; 4,8-12 ; 5,29-32 ; 10,34-43 ; 13,16-41). Đó là sứ điệp Phục Sinh. Sứ điệp căn bản của mọi lời giảng thuyết. Sứ điệp nền tảng của giáo lý Kitô giáo. Sứ điệp ấy được công bố lần đầu tiên tại Giêrusalem trong dịp lễ Ngũ Tuần, sau khi các Tông đồ được tràn đầy sức mạnh của Chúa Thánh Thần (x. Cv 2,1-11). Sứ điệp ấy phản ánh niềm tin của các Tông đồ vào biến cố Phục Sinh của Đức Giêsu; vì thế, qua sứ điệp Phục Sinh, chúng ta có thể ghi nhận hai yếu tố: Niềm tin của con người vào biến cố Phục Sinh của Đức Giêsu; Niềm tin của toàn thể các Tông đồ, của Hội Thánh kitô hữu tiên khởi.

Một khi sứ điệp Phục Sinh được công bố, thính giả chia làm hai khối: 1/ khối những người không tin, coi đó là điều nhảm nhí, không thể chấp nhận được, tìm cách ngăn ngừa (Cv 4,1-3); 2/ khối những người tin, xem đó là lẽ sống của đời mình (Cv 2,37-41).

Đối với những người tin, các Tông đồ tiếp tục bồi dưỡng lòng tin của họ bằng các sinh hoạt tôn giáo, chủ yếu trong phụng vụ và huấn giáo (Cv 2, 42-47).

Đối với những người không tin, thì xảy ra những cuộc tranh luận và biện giáo (Cv 4,1-22 ; 5,17-42 ; 7,1- 53 ; 15,5-35 ; 17,16-34…).

Phụng vụ, Huấn giáo, Biện giáo và Tranh luận là những sinh hoạt tiêu biểu nhất của Cộng đoàn kitô hữu tiên khởi sau khi sứ điệp Phục Sinh được công bố. Sau đó, để phục vụ cho các sinh hoạt trên, các Tông đồ đã nhớ lại đời sống cũng như những lời giảng huấn, nhớ lại những biến cố chung quanh cái chết và sự sống lại của Thầy mình. Nói đúng hơn, các Tông đồ căn cứ trên ánh sáng của biến cố Phục Sinh, để nhớ lại, nhìn lại, hiểu lại đời sống, các giáo huấn và các hoạt động của Đức Giêsu. Dần dần, các ngài ghi chép lại hoặc nhờ người ghi chép lại thành những mẩu chuyện, những diễn từ, những thánh thi… để sử dụng trong việc giáo huấn, cho các nghi lễ phụng vụ cũng như cho việc tranh luận và biện giáo. Sau cùng, vì nhu cầu cụ thể của Hội Thánh, có những người đã thu lượm các mẩu chuyện, diễn từ, thánh thi… để soạn thành những tác phẩm mà chúng ta gọi là 4 Tin Mừng ngày nay: Tin Mừng theo thánh Marcô được viết tại Rôma vào khoảng năm 65 đến 70; Tin Mừng theo thánh Luca được viết tại Antiôkia vào khoảng năm 75-80; Tin Mừng theo thánh Matthêu được viết tại Palestina vào khoảng năm 80; Tin Mừng theo thánh Gioan được viết tại Êphêsô vào khoảng năm 95-100.

Còn các bản văn khác của Tân Ước thành hình như thế nào?

Sách Công vụ các Tông đồ ghi lại các sinh hoạt của Hội Thánh từ ngày được chính thức thành lập cho đến khi Tin Mừng được công bố tại Rôma, “trung tâm của thế giới thời bấy giờ”; các thư của thánh Phaolô cũng như của các Tông đồ khác có thể được xem như những “luân thư” của các vị chủ chăn gửi đến cho các giáo đoàn vào những dịp cụ thể, giải thích, trình bày những vấn đề cụ thể, cốt giúp người tín hữu sống trọn vẹn ơn gọi kitô hữu của mình trong xã hội trần gian. Và sau cùng là sách Khải huyền, cuốn sách tương đối khó hiểu vì mang nhiều màu sắc thần bí, bí ẩn, trình bày một cách mầu nhiệm sự hiện diện, sự sống cũng như ơn gọi của Hội Thánh Chúa Giêsu Kitô trong dòng lịch sử của con người.

Như vậy, từ bản văn Tân Ước đến Chúa Giêsu ta thấy rõ có một con đường dài. Con đường đó là sinh hoạt của toàn thể Hội Thánh sau Lời Rao giảng tiên khởi về sứ điệp Phục Sinh. Con đường đó chính là con đường những kitô hữu tiên khởi đã đi qua, đã đấu tranh, đã dùng chính sự sống của mình để làm chứng niềm tin vào Đức Giêsu Kitô Phục Sinh. Bởi thế, chúng ta không thể đọc sách Tin Mừng hoặc những sách khác của Tân Ước với hy vọng có thể hiểu ngay, bắt gặp thật sự khuôn mặt Đức Giêsu Kitô, nếu chúng ta không lưu ý đến quá trình hình thành Tân Ước.

Một điều quan trọng cần lưu ý, đó là các sách Tin Mừng được soạn thảo trong một quá trình lâu dài, trong bối cảnh sinh hoạt của Hội Thánh. Như vậy, các sách đó được soạn ra trong đức tin và vì đức tin của Hội Thánh. Hai nguồn sau đây là sách Công vụ các Tông đồ và các thư của thánh Phaolô cho phép chúng ta bắt gặp lại sự sống của Hội Thánh cách chung và của từng giáo đoàn cách riêng trong giai đoạn đánh dấu những bước thành hình của các sách Tin Mừng .

– Sách Công vụ các Tông đồ: Sách này ghi lại việc khai sinh của Hội Thánh Chúa Kitô, các giai đoạn phát triển, những thử thách đau khổ, những xung đột với xã hội. Trong suốt 28 chương, sách Công vụ nói lên niềm tin của toàn thể Hội Thánh vào mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô chết và sống lại. Niềm tin này được biểu lộ qua các sinh hoạt phụng vụ, huấn giáo, tranh luận cũng như biện giáo. Nét độc sáng của sách Công vụ là cho ta thấy sự hiện diện và hoạt động không ngừng của Chúa Thánh Thần trong mọi sinh hoạt của đời sống Hội Thánh. Chính Đức Kitô Phục Sinh là tâm điểm của đời sống Hội Thánh và Chúa Thánh Thần có thể ví như sợi chỉ nối kết các hoạt động của Hội Thánh, đồng thời vạch hướng đi cho Hội Thánh.

– Các thư của thánh Phaolô: Trong khi sách Công vụ phản ánh lại đời sống của Hội Thánh tổng quát, thì các thư của thánh Phaolô cho chúng ta thấy được những sinh hoạt của các giáo đoàn địa phương. Mỗi giáo đoàn đón nhận sứ điệp Phục Sinh và sống sứ điệp đó với những nét đặc biệt của mình. Mỗi giáo đoàn có sắc thái riêng, có những vấn đề riêng. Nhưng chung quy tất cả đều biểu lộ một cách trung thực sự sống của những con người tin vào Chúa Giêsu Kitô. Những nét phong phú và đa diện của các giáo đoàn địa phương được phơi bày qua các thư của thánh Phaolô. Đàng khác thư của Phaolô cũng chính là con người của Phaolô; vì thế, nếu chúng ta hiểu được con người của ngài thì cũng hiểu được tính chất phong phú và đa diện của các giáo đoàn. Thánh Phaolô gọi các giáo đoàn là “bức thư của mình”: “Thư của chúng tôi, chính là anh em viết nơi lòng chúng tôi” (1 Cr 3,2). Thật vậy, trên bước đường truyền giáo, thánh Phaolô đã trở nên mọi sự cho mọi người: “Với những người yếu, tôi đã trở nên người yếu, để lợi được những người yếu. Với mọi người, tôi đã nên mọi sự, để dù sao cũng cứu được ít người” (1 Cr 9,22). Có thể nói thánh Phaolô là tấm kính phản chiếu lại các giáo đoàn, là tấm phim chụp lại một cách đầy đủ tính chất phong phú, đa diện của từng giáo đoàn địa phương. Con người của Phaolô, một khi được Chúa Kitô bắt lấy, thì đã trở nên hoàn toàn thuộc về Chúa Kitô, vì bởi Thiên Chúa “đã có nhã ý mạc khải Con của Người trong tôi” (Gl 1,16), nên: “Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Niềm tin ấy và nếp sống ấy đã được triển nở thật phong phú và kỳ diệu nơi con người của Phaolô, một con người cực kỳ phong phú, vì hội tụ được nhiều khả năng, đặc tính khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau: Phaolô vừa là một nhà thần bí, vừa là người hoạt động không mệt mỏi; một nhà suy tư thần học sâu sắc, đồng thời là con người truyền giáo luôn biết thích nghi với mọi hạng người; một người thẳng thắn cương nghị, đồng thời là một mục tử giàu lòng xót thương; một người sáng lập khai sáng, đồng thời là người tổ chức điều hành; một người giáo điều, nhưng lại nhiều tư cách của một nhà linh hướng. Các khả năng tương phản ấy lại hiện rõ trong tính tình của Phaolô: rất tự tin, mà lại khiêm tốn; thông minh nhưng nhạy cảm; biết thích nghi, táo bạo nhưng lại rụt rè nhút nhát; thích tự lập nhưng lại sợ phải sống cô đơn; tha thiết nhưng lại châm biếm; dễ nổi giận, đồng thời có tâm hồn bao la quảng đại; khôn ngoan, nhưng có lúc cư xử vụng về… Phaolô quả là “một cây đàn có thể rung lên mọi âm điệu” (E. Osty). Con người Phaolô là thế: thuộc trọn về Đức Kitô, đồng thời liên đới mật thiết với các giáo đoàn! Và đó cũng chính là hình ảnh sống động của các giáo đoàn địa phương. Mỗi giáo đoàn mang màu sắc cá biệt, có não trạng riêng, có nền văn hóa riêng, có những cách suy nghĩ, phản ứng thật khác nhau, có những khi thật đạo đức sốt sắng, nhưng lắm khi phải ngụp lặn trong thử thách, khủng hoảng. Thế nhưng, mẫu số chung của các giáo đoàn chính là niềm tin duy nhất của họ vào cùng một Chúa Giêsu Kitô chết và sống lại, vì “chỉ có một thân mình và một Thần Khí, cũng như bởi thiên triệu, Thiên Chúa đã kêu gọi anh em vào cũng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép thánh tẩy. Chỉ có một Thiên Chúa và là cha mọi người hết thảy, Đấng trên mọi người, giữa mọi người và trong mọi người” (Ep 4,4-6).

Một khi đã hiểu được sự sống, sinh hoạt, đức tin của Hội Thánh tổng quát cũng như của các giáo đoàn kitô hữu cá biệt rồi, chúng ta hãy mặc lấy đức tin của toàn thể Dân Chúa để đọc các bản văn Tin Mừng; nhờ đó, khám phá ra các bản văn Tin Mừng đích thực là cao điểm đức tin của cộng đoàn Dân Chúa, vì chính trong đức tin và vì đức tin của Hội Thánh mà các sách Tin Mừng được hình thành:

Tin Mừng theo thánh Marcô sẽ cho chúng ta bắt gặp “Đức Giêsu, con người lữ hành”;

Tin Mừng theo thánh Luca: “Đức Giêsu, con người dịu hiền”;

Tin Mừng theo thánh Matthêu: “Đức Giêsu, con người của lời hứa”;

Tin Mừng theo thánh Gioan: “Đức Giêsu, con người của niềm tin”.

Một khi đã thấy được khuôn mặt Chúa Giêsu Kitô nhờ các sách Tin Mừng, chúng ta sẽ đọc các giáo huấn của các Tông đồ Giacôbê, Phêrô, Gioan, Giuđa để xác tín hơn về ơn gọi của người kitô hữu trong xã hội trần gian. Sau cùng, khi đã cắm rễ sâu trong niềm tin vào Đức Giêsu Kitô và chan hòa trong sự sống của Hội Thánh, chúng ta sẽ thấy rõ khuôn mặt của Chúa chúng ta trong sách Khải huyền. Người được trình bày như “người yêu” của Hội Thánh, như “sự sống” và là “lẽ sống” của Hội Thánh. Bao lâu chưa được diện kiến và kết hợp với Người, Hội Thánh vẫn khắc khoải kêu lên: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến”, vì “Đức Giêsu, con người của hy vọng”.

––––––––––––––––––––

Bài tiếp theo: Đức Giêsu, con người lữ hành

Gm. Giuse Võ Đức Minh

Quyết định cuối cùng của Toà án Malaysia: báo Công giáo Herald không được dùng từ Allah

WHĐ (24.01.2015) – Đức cha Julian Leow, Tổng Giám mục Tổng giáo phận Kuala Lumpur đã tỏ ra thất vọng về phán quyết của toà án không cho phép tín hữu Công giáo sử dụng từ “Allah” để gọi Thiên Chúa: “Chúng tôi rất thất vọng về phán quyết của toà án, tuy nhiên không phải là hoàn toàn bất ngờ”.

Hôm thứ Tư 21-01 vừa qua, Toà thượng thẩm Liên bang Mã Lai đã bác đơn của Giáo hội Công giáo xin xét lại phán quyết trước đó của Toà án Tối cao không cho phép tuần báo Công giáo Herald được dùng từ Allah.

Toà Thượng Thẩm, trong lần xử thứ ba, đã không xem xét tầm quan trọng của vụ án, nhưng chỉ đơn thuần giới hạn trong việc xác định lại xem những lần xử án trước có sai sót gì không. Bồi thẩm đoàn gồm 5 thẩm phán đã thống nhất từ chối không cho phép kháng án thêm nữa bởi vì “đã có những sai lầm về thủ tục tố tụng” trong những toà án cấp dưới.

Phiên toà đầu tiên đã xử cho Giáo hội Công giáo thắng kiện, nhưng trong phiên toà kháng án, Toà Thượng thẩm lại quyết định phần thắng thuộc về chính phủ Malaysia, cấm tờ Herald không được dùng từ Allah trong những ấn bản bằng tiếng Mã Lai Bahasha.

Đức Tổng giám mục Julian Leow nói: “Là người Kitô hữu ở Malaysia, chúng tôi sẽ luôn cố hiệp nhất trong việc đối thoại và hoà hợp với các nhóm sắc tộc và tín ngưỡng khác. Phiên toà này đã kết thúc, sau 7 năm tranh chấp pháp lý. Chúng tôi hy vọng sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau luôn là điểm nền tảng trong việc chung sống ở Malaysia về xã hội và tôn giáo”.

Ngài nhấn mạnh: “Đúng là thuật ngữ Allah là một điểm quan trọng đối với 2/3 người Công giáo ở Malaysia – hiện đang dùng tiếng Mã Lai Bahasha trong phụng vụ. Điều chúng tôi hy vọng và đòi hỏi là phán quyết này chỉ giới hạn đối với tuần báo Herald. Không nên mở rộng áp dụng phán quyết này cho phụng vụ và Thánh Kinh”.

(Agenzia Fides)

Kỷ niệm mười năm Huấn thị Dignitas Connubii về tính vô hiệu của hôn nhân

WHĐ (26.01.2015) – Chiều thứ Bảy 24-01-2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp gỡ các tham dự viên đang tham dự Hội nghị quốc tế kỷ niệm đúng mười năm ban hành Huấn thị Dignitas connubii (Phẩm giá của hôn nhân). Huấn thị này nhằm hướng dẫn các toà án giáo phận và liên giáo phận trong việc xét xử các vụ án về tính vô hiệu của hôn nhân.

Mở đầu, Đức Thánh Cha nói rằng con số rất đông các tham dự viên tham dự Hội nghị này chứng tỏ “lòng quảng đại của các thừa tác viên đích thực của các toà án Giáo hội đã đáp lại sứ vụ quan trọng này vì lợi ích của các linh hồn”.

Điều đó cũng cho thấy “tầm quan trọng của Huấn thị Dignitas connubii, vốn không dành cho các chuyên gia về luật, nhưng nhằm hướng dẫn những người làm việc tại các toà án địa phương. Thật vậy, Huấn thị này là một cẩm nang(vademecum) ngắn gọn nhưng hữu ích mà các thừa tác viên của các toà án luôn có trong tay để giúp cho việc thi hành các vụ xét xử vừa chắc chắn vừa nhanh chóng”.

“Chắc chắn, bởi vì Huấn thị nêu lên và giải thích rõ ràng mục tiêu của chính vụ án, đó là tính chắc chắn về luân lý: điều này đòi hỏi phải hoàn toàn loại bỏ mọi hồ nghi cách thận trọng rằng rõ ràng có sai lầm, ngay cả nếu chỉ là có thể có điều ngược lại cũng không được loại trừ”, Đức Thánh Cha trích dẫn Điều 247, mục 2 của Huấn thị.

“Nhanh chóng vì –như kinh nghiệm chung thường dạy chúng ta– ai biết rõ đường đi thì sẽ đi nhanh hơn. Sự hiểu biết–tôi muốn nói việc sử dụng hướng dẫn này, cả trong tương lai nữa– có thể giúp các thừa tác viên toà án rút ngắn tiến trình vụ án mà các đôi vợ chồng thường cho rằng nó kéo dài và gây mệt mỏi”.

“Cho đến nay, không phải tất cả các biện pháp mà Huấn thị này đề ra để giúp tiến hành nhanh chóng các vụ án, tránh được mọi chủ nghĩa hình thức, đã được xem xét; và chúng ta cũng không loại trừ khả năng trong tương lai sẽ có thêmcác văn bản luật khác nhắm đến cùng mục tiêu ấy”.

“Trong các mối quan tâm mà Huấn thị Dignitas connubii thể hiện, tôi đã nhắc đến mối quan tâm về sự đóng góp thật sự và độc đáo của người bảo hệ trong các vụ án hôn nhân. Sự tham gia và thực hiện nhiệm vụ cách trung thành của người bảo hệ không “chi phối” thẩm phán, nhưng giúp cho phán đoán của vị thẩm phán được vô tư, nhờ việc trình bày các lập luận ủng hộ và chống lại tuyên bố hôn nhân vô hiệu”.

Hội nghị Dignitas Connubii diễn ra trong ba ngày, do phân khoa giáo luật của Đại học Giáo hoàng Gregorianô tổ chức,với sự cộng tác của Hội đồng Toà Thánh về Văn bản pháp lý và Hiệp hội quốc tế cổ võ nghiên cứu giáo luật.

Huấn thị Dignitas Connubii, được ban hành ngày 25-01-2005, do Hội đồng Toà Thánh về Văn bản pháp lý soạn thảo, với sự cộng tác của các Bộ Giáo lý Ðức tin, Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích, Toà Ân giải Tối cao và Toà Thượng thẩm.

Trước đó, hôm thứ Sáu 23-01, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp kiến các thẩm phán và luật sư của Toà Thượng Thẩm Rôma, nhân dịp khai mạc năm tư pháp 2015 của Toà Thượng Thẩm. Toà Thượng Thẩm là toà án phúc thẩm thông thường cao nhất trong hệ thống tư pháp của Giáo hội. Phần lớn công việc của Toà án này là phán quyết những vụ án về tính vô hiệu của hôn nhân hay “tiêu hôn”, theo cách nói thông thường.

Ngỏ lời với các thẩm phán và luật sư, Đức Thánh Cha nhắc nhở rằng luật tối thượng là “salus animarum – phần rỗi các linh hồn”. Giáo hội cần có những cơ cấu pháp lý để phục vụ các tín hữu và sứ mạng rộng lớn hơn của Giáo hội, đó là giúp cả thế giới lắng nghe và sống ơn gọi nên thánh phổ quát. Đức Thánh Cha nói: “Vì thế, tôi muốn khuyến khích anh em hãy hăng say và tận tâm hơn nữa trong sứ vụ, để bảo vệ sự hiệp nhất trong án lệ của Giáo hội.

Nhắc đến một số lớn tín hữu đang sống trong tình trạng hôn nhân bất hợp lệ, Đức Thánh Cha kêu gọi các viên chức của Toà Thượng thẩm phải hết sức lưu tâm và bén nhạy với tầm quan trọng của lương tâm đã được huấn luyện – hoặc chưa – về bản chất và mục đích của hôn nhân, và những phương cách mà trong đó lương tâm có thể ảnh hưởng đến chính tính thành sự của các đôi hôn phối. Điều này thật sự  là một khó khăn lớn cho sứ mạng của anh em, cũng như với các thẩm phán ở các giáo phận nhưng “đừng để ơn cứu rỗi của con người bị giam hãm trong sự hẹp hòi của chủ nghĩa duy luật pháp”.

Kết luận, Đức Thánh Cha nhắc nhở rằng mọi tín hữu đều có quyền tiếp cận những cơ cấu pháp lý và các người đại diện luật pháp có chuyên môn và có thẩm quyền, và Giáo hội có nhiệm vụ  phục vụ mà không cần để ý đến họ có khả năng trả các chi phí hay không. Đức Thánh Cha nói: “Đây là điều tôi muốn nhấn mạnh: Bí tích thì miễn phí. Bí tích ban ân sủng cho chúng ta – nhưng các thủ tục tư pháp lại làm cho Bí tích Hôn phối bị tổn thương. Tôi rất muốn tất cả các vụ án hôn phối đều được miễn phí”.

Hồi cuối tháng Tám 2014, Đức Thánh Cha Phanxicô đã quyết định thành lập một Uỷ ban đặc biệt để nghiên cứu việc cải tổ các vụ án hôn nhân theo giáo luật, nhằm mục tiêu đơn giản hoá thủ tục pháp lý, làm cho thủ tục được hợp lý hơn, và vẫn bảo vệ nguyên tắc bất khả phân ly của hôn nhân. Uỷ ban do Đức ông Pio Vito Pinto, Chánh án Toà Thượng Thẩm Rota, làm chủ tịch.

An Phú Sĩ